Mỹ học hạnh phúc Hồ Chí Minh

Chủ nhật - 04/09/2016 22:11
.THANH HẢI

Tóm tắt:
Hạnh phúc biểu hiện tính người rõ nhất. Điều ấy có tương đối đầy đủ và hệ thống trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hạnh phúc là có lý tưởng, sẵn sàng phấn đấu, cống hiến vì mục đích cao cả, tốt đẹp. Bác Hồ là người nhìn thấy sớm nhất và có cách giải quyết tuyệt vời nhất mối quan hệ giữa hạnh phúc và hưởng thụ. Hạnh phúc là cống hiến, trách nhiệm, sẻ chia. Bác là người hạnh phúc nhất khi “hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Hạnh phúc là học tập gắn liền với lao động. Thành quả lao động có tốt thì mới phục vụ tốt hơn nữa cho dân cho nước. Hạnh phúc gắn liền với dân chủ. Một xã hội hạnh phúc là xã hội dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ mà đối thoại là biểu hiện sinh động. Hạnh phúc còn là một tinh thần khỏe mạnh trong một thân thể khỏe mạnh, sống vô tư trong sáng.

 
thumb Bac Ho

Trong bài Thơ mừng năm 1961 được làm ngày đầu năm mới (1/1/1961), Bác Hồ có mấy câu mở đầu: “Mừng năm mới, mừng xuân mới/ Mừng Việt Nam, mừng thế giới/ Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh…”. Toát lên từ tác phẩm là âm hưởng phơi phới những niềm vui, phấn khởi, tin tưởng, giàu hứa hẹn. Còn cho thấy quan niệm của Bác về hạnh phúc là đồng nghĩa với những gì tốt đẹp, mới mẻ, đầy tràn hy vọng. “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh” không của cá nhân nào mà của tất cả mọi người, không của riêng Việt Nam ta mà còn là của cả thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ sống mãi cùng nhân loại vì mang giá trị nhân loại phổ quát, gắn liền với nhân loại, mong muốn đưa nhân loại đến cõi hạnh phúc. Xét đến cùng, từ khi xuất hiện, trong lao động và đấu tranh, loài người đều nung nấu một mục đích khát khao vươn tới hạnh phúc. Cho nên hạnh phúc biểu hiện tính người rõ nhất, điều mà triết học văn hóa trên thế giới hôm nay đang mải mê lý giải, cắt nghĩa, phân tích, khái quát, tổng kết… để tìm ra một mô hình con người văn hóa mới. Nhưng những điều giản dị mà cao cả ấy lại có tương đối đầy đủ và hệ thống trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mà sau đây chúng tôi xin cố gắng làm rõ phần nào ở bài viết nhỏ này. 

1. Con người hạnh phúc trước hết là con người có lý tưởng, sẵn sàng phấn đấu, cống hiến và hy sinh vì mục đích cao cả, tốt đẹp của dân tộc mình và của nhân loại. Lý tưởng luôn đi cùng, gắn chặt với niềm tin. Người giàu có lý tưởng cũng là người giàu có niềm tin. Thời trung đại có nhà khoa học sẵn sàng lên giàn thiêu chỉ để nói lên một chân lý trái đất quay quanh mặt trời. Họ đã tin và coi chân lý lớn hơn sự sống bản thân và hạnh phúc là được chết cho chân lý, vì chân lý.

Thật buồn biết bao nhiêu khi con người ta sống không lý tưởng, không niềm tin, tức không có động lực sống, không phải là sống, chỉ là tồn tại. Ngay các tôn giáo cũng có quan niệm riêng về hạnh phúc là được hy sinh cho niềm tin tôn giáo thiêng liêng của họ. Trong lịch sử, thời đại nào cũng có một lý tưởng làm điểm tựa tinh thần, mà điểm tựa ấy sẽ quyết định đến tính chất nội dung và sự dài ngắn của thời đại ấy. 

Những người cộng sản như Bác Hồ thì hạnh phúc là dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó” (1). Người hy sinh hạnh phúc cá nhân để đi tìm hạnh phúc cho mọi người dân Việt Nam. Khi dân tộc hạnh phúc thì Người hạnh phúc: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (2).

Cho nên Bác Hồ của chúng ta là người hạnh phúc nhất vì có lý tưởng đẹp nhất và đã thực hiện thành công nhất lý tưởng ấy. Người đã đi xa nhưng “điều mong muốn cuối cùng” của Người là “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (3), thì hôm nay đã thành hiện thực. Cả dân tộc này được hưởng hạnh phúc của Người, theo đạo lý “ăn quả nhớ người trồng cây”, đang ngày càng ra sức nhân lên hạnh phúc ấy! 

Bác Hồ là người Thầy lớn nhất giáo dục lý tưởng, niềm tin cho thế hệ trẻ: “Các cô, các chú có biết vì sao mà cách mạng của ta thành công không? Vì tinh thần”, “Vì sao đoàn kết? Là do tinh thần!... Như các đồng chí ta mà bị hy sinh trong lúc làm việc bí mật trước cách mạng, bị nó bắt được, nó treo, nó kẹp, nó tra tấn, nó bắn nhưng nhất định không nói, chẳng những không nói mà còn chửi vào mặt nó. Đấy là vật chất hay tinh thần? Trong kháng chiến có chiến sỹ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, lấy thân ngăn cho súng khỏi lăn, hy sinh lấy tài liệu của địch…, thì đó là tinh thần hay vật chất? - Tinh thần” (4).

Từ góc nhìn này thì hôm nay, để xây dựng một xã hội giàu mạnh theo quan điểm của Đảng thì công việc cực kỳ quan trọng là xây dựng lý tưởng, niềm tin cho thế hệ trẻ. Vì đang trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường, dù được điều tiết theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng do mới mẻ, thậm chí còn ở trạng thái thăm dò, tìm hiểu, do vậy vấp phải những khó khăn là đương nhiên, mà cụ thể là xuất hiện những tiêu cực văn hóa xã hội rất khó giải quyết ngay. Biểu hiện rõ nhất là chủ nghĩa vị kỷ, vị lợi đang chi phối một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức và nhân dân. Nó trái với đạo lý truyền thống văn hóa vị tha, làm rạn nứt bao mối quan hệ vốn ấm áp, trong sáng.

Nguyên nhân thì có nhiều, từ hiểu biết cá nhân xin đưa ra 6 nhóm để cùng tham khảo: Một là cơ chế thị trường với quy luật cung cầu, với kinh doanh, lợi nhuận…vốn xa lạ với tính cách truyền thống trọng lễ nghĩa, luôn có xu hướng vươn tới những giá trị tinh thần cao cả hơn những gì là vật chất phàm tục, do vậy có tâm lý kỳ thị nghề buôn (Thật thà cũng thể lái trâu). Hai là chủ nghĩa kỹ trị phát triển đem lại nguy cơ con người bị nhạt dần nhân tính, sự vô cảm lên ngôi. Ba là tình trạng xâm lăng văn hóa bằng con đường phim ảnh, sách báo… và nhất là internet đang biến một bộ phận giới trẻ thành những người xa lạ trên chính quê hương mình. Bốn là tình hình dân số tăng nhanh sẽ kéo theo hàng loạt hệ lụy. Năm là sự thoái hóa biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên. Sáu là giáo dục vẫn trong tình trạng xơ cứng với triết lý học để mà thi, coi nhẹ vấn đề học để làm người…

2. Hạnh phúc luôn có một nét nghĩa thỏa mãn trong hưởng thụ, hưởng thụ vật chất (ăn, ở, mặc…), hưởng thụ tinh thần (giáo dục, văn hóa…). Về phương diện này thì Bác Hồ là người nhìn thấy sớm nhất và có cách giải quyết tuyệt vời nhất. Ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945 nước ta sa vào tình trạng kiệt quệ, dân đói, ngân khố trống rỗng, với tầm nhìn nhân văn, thiết thực mà cụ thể Bác Hồ đề ra chủ trương ưu tiên hai nhiệm vụ cấp bách trước mắt là diệt giặc đói, diệt giặc dốt.

Triết học văn hóa hôm nay hay ví con người như một cây xanh. Con người sẽ như cây xanh khẳng khiu còi cọc vì không đủ chất dinh dưỡng cần thiết và không được quang hợp ánh sáng trí tuệ trong bầu trời văn hóa nhân loại. Với chủ trương này cho thấy Bác đã đi trước triết học văn hóa đương đại cả nửa thế kỷ. Người hay nhắc lại một thành ngữ cổ “Dân dĩ thực vi thiên” (Dân lấy ăn làm trời) để dạy cán bộ quan tâm thiết thực đến miếng ăn cho dân.

Tháng 8 năm 1945, Ủy ban Cách mạng họp ở đình Tân Trào, có một đoàn đại biểu đồng bào các dân tộc địa phương Tày, Trại, Nùng đến chúc mừng. Trong đoàn có hai ba em nhỏ trần truồng, xanh xao, bụng ỏng đít beo, đi cùng. Bác Hồ trông thấy, rất xúc động nói với các đại biểu: “Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho các cháu được ăn no, có quần áo mặc” (5). Một lời nói mà chứa đựng khát vọng đã bao đời của cả dân tộc, mang tầm chiến lược lịch sử của đất nước. 

Để con người có nhân tính thì con người phải có ăn có mặc và được học hành. Muốn thế phải thay môi trường phi nhân tính bằng có nhân tính, phải thay môi trường nô lệ bằng môi trường tự do để “đổi người nô lệ thành người tự do”! 

Bác Hồ lãnh đạo dân tộc làm cách mạng đánh đổ chế độ bóc lột để lập ra chế độ vì dân của dân là một tất yếu lịch sử. Cho nên kẻ nào phủ nhận thành quả Cách mạng 1945 thì không chỉ vô tri mà còn là cả vô nhân tính nữa. Để thấy rõ hơn điều đó, chúng ta cùng nhau đọc lại tác phẩm Giấc ngủ mười năm được Bác Hồ viết năm 1949 ký tên Trần Lực, do Tổng bộ Việt Minh xuất bản tại Việt Bắc cùng năm đó. Đây là tác phẩm văn học lớn, chỉ xin đi sâu vào một khía cạnh: Khát vọng nhân văn cháy bỏng về giải phóng phụ nữ.

Câu chuyện kể theo lối “tự truyện”, nhân vật chính cũng là người kể: “Tôi là Nông Văn Minh, người Nùng Cao Bằng. Sinh năm 1920”  (6). Viết theo bút pháp - mà các nhà phê bình văn học gọi là “bút pháp huyền thoại”, “bút pháp giả tưởng”, tác phẩm đã thể hiện một niềm tin chắc chắn, một niềm lạc quan phơi phới về sự tất thắng của cuộc kháng chiến, về một tiền đồ tươi sáng đất nước sẽ “tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới”.

Đặt vào thời điểm năm 1949 chúng ta càng thấy giá trị, ý nghĩa cũng như tính dự báo thiên tài của tác phẩm. Đây là tâm trạng của “tôi”: “A di đà Phật! Tôi không tin lỗ tai tôi. Thế nào? Thị Xuân vợ thằng đi ở chăn trâu mà làm Chủ tịch xã? Thị Đào, con đứa ăn vụng cơm bà Bá mà vào Đại học Y khoa? Tôi nghe lầm chăng? Tôi còn ngủ mê chăng? Hay là con tôi nói dối? Hay là thế giới đổi lộn nhào?” (7).

ất cả để toát ra một tư tưởng lớn: muốn giải phóng con người phải giải phóng đất nước, muốn con người tự do thì đất nước phải được tự do, muốn con người hạnh phúc thì phải có đất nước hạnh phúc. Giải phóng con người là đem lại cho con người một cuộc sống mới như “thị Xuân” vốn trước kia chỉ là vợ “thằng đi ở chăn trâu” nay là Chủ tịch xã; “thị Đào”, trước kia là con kẻ làm thuê nay đang tập làm bác sĩ…

Như vậy hạnh phúc là sự đổi đời từ thân phận nô lệ làm thuê thành người tự do làm chủ! 

Bác Hồ mong muốn đưa cả dân tộc Việt Nam tới đài vinh quang của tự do, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu. Tư tưởng vì con người, con người là tất cả, con người mang tính quyết định của Bác Hồ, ngoài thể hiện việc chăm lo về cái ăn, cái mặc còn là chú ý tạo cho các cháu thiếu niên nhi đồng được hưởng thụ một nền giáo dục mới. Người gửi bao kỳ vọng vào thế hệ trẻ: “Vở này ta tặng cháu yêu ta/ Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là/ Mong cháu ra công mà học tập/ Mai sau cháu giúp nước non nhà” (Tặng cháu Nông Thị Trưng). Vì thế Bác rất chú trọng đến việc giáo dục.

Triết lý giáo dục hiện đại rất nên kế thừa, học tập tư tưởng của Người trong việc chú ý bồi dưỡng tính người ở trẻ em: “- Đồng thời phải giữ toàn vẹn cái tính vui hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng (chớ làm cho chúng hóa ra những “người già sớm”. Nhiều thư các cháu gửi cho Bác Hồ, viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm nên tránh)” (8).  Đây là lời dạy mang tính thời sự sâu sắc vì rất đúng với nhiều trẻ em hôm nay, có “một triệu chứng già sớm”.

Một trong những nguyên nhân là “quá tải” về khối lượng kiến thức học. Ngay lớp một cũng học sáng, học chiều, học tối... còn thời giờ đâu để chơi? Cứ nhìn cái cặp sách đè nặng lên những đôi vai bé bỏng, non nớt kia cũng đủ thấy các em cũng chẳng sung sướng gì. Còn đâu là sự hồn nhiên ngây thơ “vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng”. Ngành giáo dục nên khắc sâu lời dạy của Bác: “Trong lúc học, cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, ở trường học, ở xã hội, chúng đều vui đều học...” (9). Tức việc học phải là hạnh phúc!

3. Hạnh phúc là cống hiến, là trách nhiệm, là sự sẻ chia. Ở góc độ này cũng thấy Bác là người hạnh phúc nhất khi Người “hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Cũng chính Bác là tấm gương cống hiến, thể hiện rõ nhất, sinh động nhất một định nghĩa thế nào là “cống hiến”. Trước hết là phải học tập, theo lời dạy của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”, vì: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày” (10).

Bác Hồ là tấm gương tự học và bền bỉ học tập suốt đời, học trong mọi hoàn cảnh, học lý luận gắn liền với thực tế, khi tuổi cao sức yếu vẫn kiên trì học: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học...” (11). Triết học văn hóa hiện đại rất đề cao tri thức, cho rằng nếu không được trang bị kiến thức cơ bản thì con người dễ sa vào tình trạng hoang dã, thú tính do không có những ứng xử tối thiểu trước sự thay đổi, phát triển mạnh mẽ, vượt bậc của khoa học.

Điều này Nguyễn Ái Quốc đã nói từ năm 1921 về trạng thái nô lệ của người An Nam: “Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” (12). Có học thức sẽ là tiền đề cho con người có trách nhiệm vì họ hiểu được bổn phận và trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình và cộng đồng. Câu thành ngữ cổ nói sâu sắc về ý này: “Nhân bất học bất tri lý”, nghĩa là người không được học thì không biết cái lý lẽ ở đời. Có trách nhiệm tức sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ. Một người chồng có trách nhiệm, ngoài nhiệm vụ chính còn biết san sẻ nghĩa vụ công việc nấu ăn, giặt giũ khi vợ bận hoặc biết chia vui hay tâm tình với người thân… Đó là gia đình hạnh phúc!

Bác Hồ là tấm gương sáng nhất về bài học trách nhiệm và sự sẻ chia khi  cả nước gặp buổi hoạn nạn, dân đói, dân rét thì Bác góp một vốc gạo, nhịn một bữa ăn, tặng một tấm áo,... Thậm chí giữa trời giá rét Người cởi tấm áo bông đang mặc khoác cho tù binh hay nhắc bộ đội phải cho tù binh đi giày vì họ không quen đi chân không...Đấy là biểu hiện của tình thương lớn chỉ có được từ tâm hồn vĩ đại bao la, sâu sắc một tình yêu con người, không chỉ thu phục nhân tâm mà còn thu phục cả lương tâm thời đại. Có được một người lãnh đạo như thế là hạnh phúc cho cả một dân tộc! 

Bài học cho giáo dục hôm nay là dạy người phải đi từ những việc nhỏ nhất để khơi gợi ở trẻ lòng vị tha. L.Tônxtôi từng kể niềm vui được chia sẻ hồi ấu thơ khi cha ông yêu cầu con phải đưa bằng hai tay cho những đồng hào lẻ đến người ăn mày. Để rồi khi lớn lên, tình thương, sự trân trọng con người thấm sâu vào từng con chữ của nhà văn. Bác Hồ dạy cán bộ phải là “người đầy tớ” thật trung thành của nhân dân cũng là dạy họ tình thương, trách nhiệm, sự phục vụ nhân dân không điều kiện. Thì có nghĩa Bác Hồ cũng đã giáo dục họ hiểu về hạnh phúc! 

T.H
-----------

(1); (2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4, tr. 272; tr. 187
(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 15, tr. 624
(4). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 10, tr. 580
(5). Ban Tuyên giáo Trung ương: Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2009, tr. 358
(6); (7). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 6, tr. 82; tr. 87           
(8). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 6, tr. 250
(9). Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, H, 1969, tr. 60
(10); (11). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 13, tr. 90; tr. 273
(12). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 1, tr. 34-35.
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo