Niềm thơ Nguyễn Anh Quốc

Thứ tư - 04/07/2018 13:27
. CHU VĂN SƠN

Do không được khỏe, do cạn thời gian, lại do chưa được đọc, mà tôi đã không dám nhận lời, khi mấy bạn văn có lời nhờ tôi viết tựa cho tuyển thơ Nguyễn Anh Quốc. Thay vì, tôi đã tiến cử vào việc ấy hai cây bút sáng giá, lại rất đỗi thân thiết, là Văn Giá và Nguyễn Thanh Tâm. Nghĩ cũng yên lòng. Nhưng, khi con gái của thi sĩ quá cố này mang toàn bộ thơ của bố, lặn lội đến tận nhà, kiên nhẫn bày tỏ mọi điều, thì tôi thấy xáo động quá. Niềm trân quý cùng tâm nguyện mà cả gia đình cháu dành cho người cha vừa khuất bóng sâu nặng đến thế! Làm sao tôi có thể chối từ!
Thế là, tôi đã đọc đi đọc lại tất cả. Để viết đôi điều.

Đọc di cảo một người vừa qua đời, thật khó tránh được mủi lòng! Tôi đã gắng vượt lên để cảm nhận đừng thiên lệch. Chẳng biết có cân bằng được không, mà càng đọc, càng thấy quý trọng một hồn thơ, một niềm thơ. Và, nhận ra: người thơ như Nguyễn Anh Quốc thật hiếm!

Không coi thơ là nghề, nhưng luôn xem thơ là nghiệp. Có thể không chuyên tay, nhưng lúc nào cũng chuyên tâm. Với người thì khoan dung, với thơ thì khe khắt. Sống đời thì đầy ưu ái, sống thơ thì nặng ưu tư. Kiếm tìm thơ thì miên man, nghĩ về thơ thì đau đáu. Đã viết được không ít những câu thơ thật thơ, nhưng luôn xem ngòi bút mình hãy còn vụng dại… Ôi, người âm thầm đặt đời mình bên ngoài thi đàn, mà lại nghiêm cẩn với thơ như một nhà tu hành khắc kỉ đến vậy, chẳng phải hiếm sao! Vì thế, tôi cứ muốn gọi anh là nhà tu thơ. Tu tại gia.

Dù không “xuất gia”, tức không ném hẳn đời vào xới thơ, nhưng lúc nào anh cũng trọng thơ và hàm ơn chữ, lúc nào anh cũng một niềm tu tập tận tụy với thơ. Dù đời có lâm vào thế kẹt đến đâu, anh cũng không bao giờ phụ chữ, phụ thơ. Không lúc nào nguôi niềm đinh ninh rằng mỗi chữ trong tiếng mẹ là một giọt sữa nuôi nấng mình: Sữa nuôi thơ bạn thơ tôi/ Từ bao giọt chữ trong lời mẹ ru. Không lúc nào quên tạc dạ ghi lòng một lẽ sống, một lẽ thơ: Quá đói có thể ăn độn/ Thơ độn nuốt làm sao. Không lúc nào ngừng hi vọng thơ, dù biết sự thành tựu trong thơ vốn thật mong manh: Trắc bằng tôi rắc vào tôi/ Biết đâu mọc lại vườn đời lưng câu. Và, quyết không bao giờ buông bỏ thơ, dù có phải trải bao đứt nối nhọc nhằn: những câu thơ đứt nối một mình anh. Sống vẹn tình với thơ như kẻ đội ơn từng giọt chữ đến thế, chẳng phải là một người có đạo thơ, một kẻ tu thơ sao! Tôi tin, đó chính là cái gốc nảy lên nghiệp thơ anh, cũng là cái lẽ níu người đọc lại cùng anh. Do cái gốc này mà trong anh luôn có hai con người: nhà thi sĩ và nhà thi luận. Kẻ này thì năng nổ kiếm tìm thơ. Kẻ kia thì khe khắt kiểm định thơ. Hai con người ấy khi tách khi nhập. Khi tách thì khiến thơ anh có hai dòng chảy song hành: một hồn hậu ca hát ngâm nga, một đắn đo xét soi kĩ lưỡng. Thành thử trong thi giới của anh luôn có những cuộc thi thoại triền miên, dù chỉ là tự thoại. Còn khi nhập, chúng hòa vào nhau trong cùng một mối ưu tư về thân thế mình cùng thân phận thơ. Có lẽ đây là nét độc đáo nhất của thơ Nguyễn Anh Quốc.

Con người thứ nhất hiện ngay ở mặt tiền của thơ anh. Nó hiện lên qua những niềm thơ quen thuộc mà các thi sĩ thời nay thường hướng đến. Ấy là vang vọng chiến trường một thời chinh chiến. Ấy là dư chấn đạn bom trong phận người hậu chiến. Ấy là những loang lổ thế nhân và xì xèo thế sự. Ấy là những đục trong chính giới và thanh tục văn giới. Ấy là hòa hợp đời chung và khép mở cõi riêng… Dành lòng cho nẻo nào, thơ về nẻo ấy nảy lên. Song, chỉ khi chúng được chưng cất thành những niềm yêu say, những nỗi đời xót, thì chất Nguyễn Anh Quốc mới thực đậm đằm.

Viết cho mình và rượu trong cảm hứng tao nhân thì say sưa, tài tử: Đã quá vơi bình rượu/ Mà chưa ru nổi mình/ Thôi gạn thêm chút nữa/ Chạm cốc với bình minh. Một cú chạm cốc đầy thi vị nâng tầm thơ cho cả mĩ tửu lẫn tửu đồ.

Viết cho người thương trong cảm xúc lứa đôi thì si mê, tình tứ: Một câu em nói bâng quơ/ Mà bao trang giấy cùng mơ nảy mầm. Cứ như bao vần ái ân ủ sẵn trong kẻ tình si vào thời khắc mê li ấy đều náo nức bật chồi!

Viết cho thế giới trong cảm hứng đại đồng thì hân hoan, ngây ngất: Trái đất như hũ rượu/ trăm dân tộc quây quần. Nếu được như hình dung kì thú kia, thì cả nhân gian này sẽ cùng chếnh choáng một cơn say.

Viết về làng quê trong cảm nhận mất mát, thì cả những chuyện bâng quơ, cũng không khỏi giật mình: Làng giờ nghèo lắm em ơi/ Đến con đom đóm cũng thôi... lập lòe. Dường như nỗi u uất của làng nước trước môi sinh xơ xác do bị xâm hại bấy lâu nay đang nghẹn lời trong câu thơ ấy!

Còn về người mẹ liệt sĩ thui thủi sau chiến tranh, thì thơ thật nhói lòng: Con trai thành cỏ Trường Sơn/ Tám mươi lọng khọng khói hương một mình. Ta chợt thấm rằng: thì ra binh đao đâu đã qua, di họa của nó hẵng còn hằng ngày gặm mòn bao kiếp sống, bao phận người. Biết còn lọng khọng đến bao giờ trong làn hương trầm cui cút mà ngang trái kia những dáng mẹ Việt Nam!

Những câu thơ như thế có thể nói cùng ta: thi sĩ đích thực đâu cứ phải là người cố chen chân kiếm chỗ trong cái xới phiền tạp của làng thơ!

Và con người thứ hai, tuy ẩn, nhưng cũng không khó nhận ra. Nó hiện hình trong mối ưu tư sâu nhất của đời thơ này.

Tôi vẫn tin rằng: mỗi thi sĩ đích thực, dù lòng có bận cả trăm mối, thì bao giờ cũng có một mối ưu tư cốt lõi làm nên niềm thơ đặc trưng của hồn mình. Chẳng hạn, ưu tư về con người hay tạo vật, về tình yêu hay chiến tranh, về sự sống hay cái chết, về hạnh phúc hay bất hạnh v.v… Mối ưu tư ấy tạo nên một niềm thơ đặc trưng, một vỉa thơ nổi trội. Niềm thơ ấy bao giờ cũng tạc nên đặc điểm nhân dạng cho gương mặt thơ. Thiếu một niềm thơ như thế, thật khó gọi ai đó là thi sĩ, dù người ấy đã viết ra cả trăm tập thơ. Ở Nguyễn Anh Quốc, nó không phải là ưu tư về những đối tượng mà thơ cần tìm tới, cần khai mở, cần đào sâu. Mà, thật lạ, nó là mối ưu tư về bản thân thơ. Trước tiên là thơ của chính mình. Ấy là nỗi tự vấn, tự răn, tự kiểm định, cả tự dằn vặt nữa. Cả khi mới tập tọng, cả khi đã già tay, cả khi túi thơ mới lưng lưng, cả khi kho lẫm đã chất đầy cần lựa lọc để làm tuyển. Lúc nào cũng day dở, trăn trở. Khi là những tự nhủ đầy khiêm cung: Cao xa đâu tới lượt mình/ Tôi đi tìm một hạt tình ươm thơ. Khi là những tự kiểm đầy chua chát: Ngồi câu thơ suốt cả chiều/ Giật lên con nhẻo nhèo nheo to đùng. Chỗ này là lời tự trách: Những cây thơ còi cọc/ chưa được tưới bao giờ. Chỗ kia là nỗi tự thẹn: Ta bơi mãi chẳng qua miệng cốc/ Để những câu thơ đói rét võ vàng. Lúc này đã quá đỗi hoài nghi: Bút ta cầm như que mục trong tay. Lúc khác còn cực lòng ngao ngán: Như ông Lã Vọng, tôi câu chữ/ Câu đến cuối đời giỏ vẫn không v.v… Cứ thế, tràn ngập các trang Nguyễn Anh Quốc là những trăn trở vơi đầy về cái lẽ thơ cùng cái lõi thơ mình. Ấy là nỗi đau đáu chỉ thấy ở những người có đạo thơ, có đức thơ… Có thể nói, mối ưu tư đó là nguồn thơ dồi dào và chan chứa nhất của chàng thi sĩ đất Thái Bình này. Ít thấy ai làm thơ như một thi sĩ nghiệp dư, mà ưu tư về thơ lại như một nhà thi luận khó tính đến vậy.

Cứ thế, hai con người ấy trong thơ Nguyễn Anh Quốc vừa ăn ý nhau, vừa đòi hỏi nhau trên mỗi bước đường. Con người thi sĩ miên man kiếm tìm thơ bao nhiêu, thì con người thi học lại mải luận bình về thơ bấy nhiêu. Không phải cách ngôn luận của những nhà kinh viện hòng rút ra những tuyên ngôn khai sáng cho ai. Mà lập ngôn, lập lí cho mình. Theo lối tự hiểu, tự nhủ về thơ. Chàng thi sĩ luôn hồn nhiên đuổi theo những thi ảnh, thi tứ, thi điệu, thi từ. Chàng thi luận lại ưa căn chỉnh đong đo, nhíu mày định giá, nghiêm nghị phán xét và không dễ bằng lòng. Tuy nhiên, sự tương đắc giữa hai con người đó mới là phần đáng kể nhất. Sự tương đắc ấy đã làm nên bức chân dung thơ trọn vẹn của Nguyễn Anh Quốc. Khi hai con người ấy nhập vào nhau trong một thi đề, thì thơ anh nảy lên những tứ lạ, đã đọc vào là khó có thể quên. Khi ấy thơ đang tự nhủ hay thơ đang tỏ bày, đang tuyên ngôn hay đang kí thác, ta không còn tách bạch được nữa.

Đây, những câu này là bày tỏ về thơ mình hay bộc bạch bản thân mình: Chữ tôi đa cảm ngu ngơ/ Khẽ lay đã đổ, chạm hờ cũng đau?

Đây nữa, đây là chuyện dang dở của lục bát hay chuyện lỡ dở của phận người: Câu lục lạc vận sai lời/ Để câu bát viết một đời chưa xong? Ta không còn có thể phân chất, phân tầng. Cả hai đã đồng hành đồng hiện trong nhau.

Nhất là, cái lần anh định gửi gắm bầu tâm sự của cả một đời thầm lặng theo đuổi thơ: Thơ anh gieo hạt bâng quơ/ Ở nơi không bến/ không bờ/ không đâu/ Giờ không xanh kịp cho nhau/ Thì mong đôi hạt đời sau nảy mầm, thì đó là những lời tự ý thức của một nhà kiểm định khắt khe với thơ hay là niềm mong mỏi xuyên thời gian của một thi sĩ quá tha thiết với đời? Thật không dễ gì phân biệt. Chỉ biết rằng trong ấy, chừng như, có cả một di nguyện âm thầm của một kiếp thơ.

Và, những niềm thơ của di nguyện Nguyễn Anh Quốc đâu phải đợi đến tận đời sau mới được dịp nảy mầm!  
 
C.V.S

 


 
 Từ khóa: Chu Văn Sơn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo