Tìm lại dấu ấn Điện Biên

Thứ ba - 12/07/2016 04:07
. PHAN KHOA

Nghĩa trang Điện Biên vắng lặng. Hàng hàng mộ liệt sĩ đôi lúc như nhòe đi trong chập chờn sương khói. Nghĩa trang những ngày đầu xuân còn khá vắng người. Những mầm cỏ, mầm hoa xương rồng ẩn giấu trong đất đai lấp ló những bụi gai nhọn. Phía xa, như có tiếng chim kêu rất nhỏ nơi vách núi. Những nấm mộ có danh, nhiều nấm đã trở thành quen thuộc, được ghi danh trong sử sách, trong những bài học tuổi học trò. Những mộ khuyết danh nằm lặng lẽ nhưng luôn khiến người thắp hương phải xốn xang, suy ngẫm về cái giá cho cuộc sống thanh bình, sôi động hôm nay. Chúng tôi đến và rời Điện Biên với tâm thế của người lính, của những người nối tiếp mạch nguồn cha anh để lại. Trời Điện Biên mây trắng bay miên man, vĩnh hằng trong trí não các nhà văn.

Thú vị và bất ngờ khi tôi ngồi đối diện với ông - Đại tá Phan Văn Đính, người chiến sĩ Điện Biên năm nay vừa bước sang tuổi tám mươi. Ông hiện ở trong căn nhà đơn sơ số 2 phố Nguyễn Viết Xuân, Hà Nội. Cái ngày làm xạ thủ số 2 ở Điện Biên, ông vẫn còn trẻ lắm. Tuổi trẻ nào cũng nhiều ao ước, và đâu phải ước mơ nào ấp ủ cũng trở thành hiện thực. Biết bao nhiêu chiến sĩ tuổi mười tám đôi mươi đã vĩnh viễn không thực hiện được ước mơ giản dị của mình. Ngay cả là những ước mơ chính đáng nhất, được cầm bàn tay mẹ ngày chiến thắng đối với nhiều người cũng mãi là một giấc chiêm bao.

Người chiến sĩ Điện Biên năm xưa chợt im lặng rất lâu khi tôi nhắc về đồng đội ông trong Trung đội trợ chiến đại liên thuộc Đại đội trợ chiến 318, Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 anh hùng. Tiểu đội Nông Văn Khầu với những trận đánh ác liệt trên đồi A1 đã đi vào sử sách. Ông đến với Tiểu đội trợ chiến thuộc Đại đội 318 khi chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn ác liệt nhất.

Tiểu đội của ông được biên chế 2 khẩu đại liên Maxim của Nga. Đây là một loại súng rất uy lực với hỏa lực mạnh và tầm bắn rộng có chân đế nặng 21kg bóp cò bằng hai tay chuyên dành cho các chiến sĩ có sức khỏe, kinh nghiệm và tầm quan sát tốt. Được biên chế về tiểu đội mà người Tiểu đội trưởng Nông Văn Khầu vốn đã vang danh là tấm gương chiến đấu dũng cảm, Phan Văn Đính vừa mừng vừa lo. Nông Văn Khầu người Tày ít nói cười hiền bảo: “Mày cố mà học anh em. Cái gì chưa biết tao bảo cho. Không được sợ thằng Tây. Cứ nhằm thẳng vào chúng nó mà bắn. Súng nó to kệ nó. Anh em tiểu đội bắn được nhiều giặc, lấy được nhiều súng giặc lắm rồi đó”.

Phan Văn Đính nắm chặt bàn tay người Tiểu đội trưởng. Người thanh niên quê Tùng Ảnh - Đức Thọ - Hà Tĩnh đã phải vượt qua hàng trăm ki lô mét đường rừng để đến được đây, nơi chân đồi A1 đang ngày đêm rộ lên tiếng bom mìn, súng đạn. Ở quê, Đính đã học hết cấp hai. Ngày ấy học hết cấp hai là cao lắm rồi. Truyền thống gia đình ông sớm theo cách mạng, bản thân Đính sớm tham gia công tác ở quê.

Tháng 11 năm 1953, vừa tốt nghiệp cấp hai cũng là lúc chàng thanh niên chớm mười tám tuổi viết đơn vào thanh niên xung phong chống Pháp. Khi ấy, quê hương Tùng Ảnh có phong trào tòng quân rất rầm rộ. Các thanh niên tự vận động lên đường theo bè theo bạn. Khi ấy đoàn thể giao cho Phan Văn Đính dắt một con bò từ chợ Si - Nghệ An lên Tây Bắc. Lãnh đạo bảo: “Ở tiền tuyến cần rất nhiều thóc gạo, thực phẩm, sức người sức của. Giao cho cậu con bò này và mười hai cân gạo. Cậu phải đưa được nó lên đến nơi. Thời gian càng nhanh càng tốt. Tuyệt đối không được bỏ cuộc dọc đường”.

Người chiến sĩ Điện Biên chợt cười tóa lên. Cái cười trải qua mấy chục năm vẫn vang và ấm như ngày nào chàng trai mười tám dắt “cô bò cái” hòa cùng dòng người lên đường trong đoàn quân nườm nượp ra trận. Vốn từ bé chưa chăn trâu bò lần nào vì bố mẹ vốn là công chức, chàng trai những ngày đầu gặp rất nhiều khó khăn. Sau anh em đoàn thể bảo ngày nghỉ cho bò ăn cỏ ở các triền sông, triền suối đêm hãy dắt đi vừa kịp lộ trình vừa giữ sức cho bò, cho người. Cứ thế, ngày tha thẩn chăn bò, đêm theo đoàn thanh niên xung phong hướng về Tây Bắc. Chàng trai đã vượt hàng trăm cây số rừng rậm suối sâu đến thẳng cao nguyên Mộc Châu thì nhận lệnh bàn giao bò. Hôm bàn giao, người và bò cũng bịn rịn lắm.

Cuộc thử thách đầu tiên để chính thức khoác trên mình bộ quân phục của Phan Văn Đính vào ngày 1 tháng 3 năm 1954 bất ngờ và thú vị như vậy. Rồi hai tuần gấp gáp huấn luyện tân binh, chiến dịch mở màn ác liệt. Đợt 1, ta địch giằng co, hi sinh, thương vong, bổ sung, vây lấn. Đợt 2 ác liệt tiếp đến đợt 3 vô cùng ác liệt. Ở những giờ phút quyết định, Phan Văn Đính đã trở thành xạ thủ số 2 trên mỏm Đồi Cháy hướng thẳng nòng đại liên đối diện đồi A1 cùng các đồng đội dội bão lửa xuống đầu kẻ thù.

Ba lần đánh đồi A1, các trung đoàn chủ lực thay nhau. Lớp này ngã xuống, lớp khác xông lên, từng mét chiến hào thấm máu người chiến sĩ Điện Biên không kể là Kinh, Tày, Thái, Nùng, Mường… của các vùng quê Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Thái Bình, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Tây Bắc, Việt Bắc.

Hai khẩu đại liên của tiểu đội Nông Văn Khầu không giờ phút ác liệt nào không khạc lửa. Chốt chặn lỗ châu mai đối diện đồi A1 với nhiệm vụ bắn chế áp để bộ binh ta xông lên, hai khẩu đại liên đã góp phần rất lớn trong các cuộc giành giật và đánh chiếm đồi A1. Khi quả bộc phá ngàn cân nổ trong lòng đồi A1 cũng là lúc hai khẩu đại liên của các anh liên tục khai hỏa đánh địch góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Đó là 5 giờ chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nói đến đó, người lính Điện Biên im lặng.

Một lúc lâu, ông như bừng tỉnh nói rõ từng câu: “Tôi vẫn nhớ như in Đại đội trưởng Phan Tiến Nguyên đã dõng dạc dặn chúng tôi khi bắt giữ và dong tù binh rằng: Anh em hãy ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào kẻ thù. Chúng ta là người chiến thắng”.

Ngay sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Văn Đính nhận được một tấm giấy khen của Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An. Lời văn ghi trên tấm bằng rất nôm na giản dị mà ông còn nhớ đến tận giờ: “Mặc dầu là tân binh nhưng đã chiến đấu dũng cảm ”.

Những người lính chúng ta đã có những phút giây hạnh phúc đến thắt lòng.
*
*    *
Hoàn thành nhiệm vụ dẫn giải tù binh từ Điện Biên về bàn giao xong, ông được huấn luyện một lớp tại Đò Lèn, Thanh Hóa. Lúc này phong trào di cư vào miền Nam đang rộ lên ở một số tỉnh miền Bắc, ông được đi làm nhiệm vụ vận động chống cưỡng ép người di cư ở tỉnh Thái Bình. Công việc mới mẻ đối với một chàng trai trẻ vừa trải qua trận mạc như ông đã gặp không ít khó khăn. Thôi thì cũng phải cố lên chứ biết làm sao?

Đến tháng 7 năm 1955, ông nhận lệnh đi học văn hóa tại trường của Tổng cục Chính trị tại Kiến An, Hải Phòng. Điều này đối với ông hết sức bất ngờ và cũng không kém phần ngỡ ngàng. Vừa hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bây giờ lại loay hoay sang dùi mài đèn sách. Cùng một lúc, lớp của ông vừa phải hoàn thành chương trình học hết cấp 3, vừa phải học tiếng Trung Quốc. Vốn là người con của vùng quê hiếu học, ông luôn cố gắng nên đạt được kết quả tốt. Do đó, ông đã được cất nhắc lên làm trợ giáo để giúp đỡ những đồng chí khác.

Sau hai năm học tập, cấp trên lựa chọn 187 người do Đại úy Phan Văn Dưỡng làm đoàn trưởng và Đại úy Trần Tấn Khẩn làm chính trị viên đi học kỹ thuật Không quân ở Trường Hàng không số 9, thành phố Trường Xuân, Trung Quốc. Trong suốt ba năm học, ông vẫn phát huy được thành tích học tập tốt như trước đây và đã được các giảng viên Trung Quốc tín nhiệm, trưng dụng làm trợ giáo để giúp đỡ anh em khác còn yếu để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.

Kết thúc khóa học, Phan Văn Đính là một trong những học viên tốt nghiệp cơ giới sư loại giỏi. Học xong, cả đoàn đầy đủ 187 anh em về tập trung ở sân bay Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Cùng thời điểm này, đoàn anh em đi học lái máy bay do Trung tá Đào Đình Luyện làm trưởng đoàn, trong đoàn có đồng chí Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan và một số đồng chí khác… cũng đã hoàn thành nhiệm vụ học tập.

Chính tại sân bay Cao Mật, tất cả anh em lái máy bay và thợ máy đã được tổ chức thành lập khung Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên (tiền thân của Không quân Nhân dân Việt Nam) được mang tên “Bộ đội Nam số 17 ”. Trong thời gian này, Trung đoàn tổ chức huấn luyện bay cho các phi công dưới sự chỉ huy, dẫn đường cũng như công tác bảo đảm kĩ thuật là các cán bộ vừa mới ra trường nhưng đã ngày đêm miệt mài với công việc được giao để nhanh chóng làm chủ trang bị kĩ thuật. Trong đợt huấn luyện, ông Phan Văn Đính và ông Trịnh Thắng được tặng giấy khen vì đạt thành tích bảo đảm cất, hạ cánh 100 lần chuyến bay an toàn.

Theo yêu cầu nhiệm vụ, cấp trên lựa chọn 26 đồng chí có năng lực, trình độ trong đó có Phan Văn Đính đi học Công trình sư tại Xưởng đại tu máy bay MIC 17, Cát Lâm, Trung Quốc. Đoàn do Trung úy Nguyễn Phú Khang, Tổng công trình sư và Trung úy Hoàng Sum, Phó Tổng công trình sư phụ trách. Tốt nghiệp công trình sư đạt loại xuất sắc và được phong quân hàm Trung úy, tháng 10 năm 1965, về nước ông Đính được điều động về Trung đoàn Không quân 921 (Sao Đỏ), đóng quân tại sân bay Đa Phúc, làm trợ lí ở Xưởng trung tu X1.

Vừa “chân ướt, chân ráo” về xưởng, ông Đính mạnh dạn hỏi đồng chí Lê Quang Trưởng, Tổ trưởng tổ phụ kiện: “Anh ơi, xưởng hiện có khó khăn gì không?” Đồng chí Trưởng ngạc nhiên nhìn người cộng sự mới, nghĩ thầm trong bụng: “Sao tay này mới về mà đã gãi đúng chỗ ngứa thế này?” liền chậm rãi trả lời: “Khó khăn lớn nhất của xưởng là chưa có máy thử các tính năng của vòi phun động cơ phản lực máy bay UMIC 15.” (Đây là loại máy bay tập 2 người lái, trung đoàn được trang bị 4 chiếc).

Ông Đính mạnh dạn đề nghị: “Thế việc ấy anh cứ giao cho tôi.” Đồng chí Trưởng nói: “Nhưng vấn đề này phải chờ báo cáo lên cấp trên đã.” Phương án được báo cáo với Tiến sĩ Hồ Thanh Minh, lúc đó đang phụ trách công tác kĩ thuật của trung đoàn. Khi thông qua phương án, ông Minh hỏi: “Trên đường ống thủy lực có một van tiết lưu để hạ áp suất dòng chảy, đây là một khâu rất khó, liệu đồng chí có làm được không?” Ông Đính tự tin trả lời: “Anh yên tâm, tôi sẽ có cách vì trong thời gian học, tôi đã mày mò học hỏi từ các kĩ sư, công nhân kĩ thuật lành nghề của Trung Quốc và nghiên cứu, tích lũy tài liệu rồi.”

Ông sinh ra ở vùng quê nghèo khó, lớn lên từ “nút thắt” của đất nước hình chữ S, bởi vậy trong thời gian được đi học ở nước ngoài về chuyên ngành kĩ thuật máy bay phản lực chiến đấu, ông đã chuyên tâm vào nhiệm vụ học làm sao cho tốt. Ngoài ra, ông còn mày mò tìm kiếm thêm các tài liệu khác để đọc, học và nghiên cứu, bây giờ về nước áp dụng vào thực tiễn, đáp ứng cho nhiệm vụ chiến đấu ngày càng khẩn trương của Quân chủng. Phương án của ông được thông qua và chế tạo thử ở nhà máy A33 do Đại úy Lê Minh làm giám đốc.

Sau ba tháng miệt mài lao động, ông đã cùng anh em công nhân hoàn thành việc chế tạo máy kiểm tra vòi phun, đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả thiết thực. Nguồn cảm hứng sáng tạo, tìm tòi phát huy sáng kiến như mạch nước ngầm luôn tuôn chảy trong ông. Thời điểm năm 1968, máy bay chiến đấu của ta bị hư hỏng bên ngoài nhiều. Ông tìm đến khoa hóa của Đại học Bách khoa để học hỏi về keo dán, nhựa ê-bốc-xi và chế tạo gioăng đệm cao su đáp ứng cho nhu cầu sửa chữa. Do có nhiều sáng kiến trong công tác sửa chữa bảo đảm, ông Đính đã được tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua năm 1967 và 1968.

Năm 1969, xưởng đại tu máy bay MIC 17 được thành lập tại Yên Bái do Thiếu tá Ngô Kim Tân làm giám đốc. Ông Đính được bổ nhiệm làm trưởng ban kĩ thuật, tham gia chỉ đạo và được sự giúp đỡ của các chuyên gia Trung Quốc cùng với các kĩ sư, công nhân trong xưởng đại tu thành công chiếc máy bay MIC 17 đầu tiên mang số hiệu 3005. Phương án chọn người lái thử chiếc máy bay do xưởng tự đại tu cũng đang là một vấn đề khá gay cấn.

Cuối cùng, cấp trên quyết định Trung úy Nguyễn Văn Lục, một phi công trẻ lái chiếc máy bay đó. Cho đến khi anh  Lục hạ cánh an toàn, mọi người mới ôm chầm lấy nhau thở phào nhẹ nhõm trước sự ngưỡng mộ của các chuyên gia Trung Quốc. Chiếc máy bay này sau được bàn giao cho trung đoàn 923 để tham gia chiến đấu khi giặc Mĩ trở lại đánh phá miền Bắc năm 1972.

Đến năm 1974, Phan Văn Đính lần thứ ba nhận lệnh đi ôn văn hóa để học lớp chuyên tu kỹ sư kinh tế ở Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Khác với hai lần trước đi học chuyên ngành kỹ thuật máy bay phản lực. Nhận lệnh ông vừa mừng vừa lo, không ngờ một người lính chiến đấu trên mặt trận Điện Biên hai mươi năm sau lại đi học chuyên ngành kinh tế trong khi cuộc chiến đấu để giải phóng miền Nam đang vào thời điểm quyết liệt.

Sau này ông mới hiểu ra tầm nhìn chiến lược của Quân đội là chuẩn bị nhân lực để xây dựng lại đất nước và phát triển kinh tế. Trong thời gian học, một tin vui lớn đến với ông cũng như mọi người dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã hoàn thành sứ mạng lịch sử đối với dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 5 năm 1977 ông tốt nghiệp ra trường được bổ nhiệm làm phó xưởng trưởng, rồi quyền xưởng trưởng xưởng A42. Đây là một xưởng lớn nhất ở sân bay Biên Hòa được xây dựng từ thời Mỹ - Ngụy, chuyên sửa chữa các loại máy bay của Mỹ như A37, F5, UH1. Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam cũng như quân đội ta giúp quân đội và nhân dân Campuchia chiến đấu tiêu diệt chế độ diệt chủng Pôn Pốt giải phóng đất nước, xưởng A42 dưới sự chỉ huy của Phan Văn Đính luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch bảo đảm đủ máy bay cho chiến đấu.

Xưởng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, kết thúc chiến dịch, phân xưởng thực thăng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, ba đồng chí cán bộ của xưởng được tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng ba gồm: Phan Văn Đính, Đỗ Văn Hằng và Trần Văn On.

Từ tháng 5 năm 1983, ông phải từ giã nghề kỹ thuật để chuyển sang làm quyền Trưởng phòng Sản xuất - kinh tế của Quân chủng. Cái nghề mà ông vừa theo học trước mắt biết bao nhiêu bỡ ngỡ và nhiều vấn đề mới mẻ đang chờ đợi. Ông nhớ vào tháng 1 năm 1989 làm Trưởng phòng Sản xuất - kinh tế được đi cùng Thiếu tướng Trần Hanh, Tư lệnh Quân chủng vào trạm 77 ở sân bay Tân Sơn Nhất, dự cuộc họp do Thượng tướng Đào Đình Luyện, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng chủ trì.

Cùng tham dự có Tổng Cục trưởng, Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Cục trưởng Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng và Cục Tài chính Quân đội. Thượng tướng Đào Đình Luyện nêu vấn đề: “Được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và đã tham khảo ý kiến Nhà nước, chúng ta cùng trao đổi, bàn bạc việc bay phục vụ để khai thác dầu khí trong tình hình mới nên giao cho đơn vị nào?”

Hội nghị đưa ra một số giải pháp, nhiều ý kiến trao đổi rất cụ thể vì mục tiêu chung: Phát triển kinh tế sao cho phù hợp với tình hình hiện tại. Cuối cùng nhiệm vụ trên được giao cho Quân chủng Phòng không - Không quân và ông Phan Văn Đính được cử làm Trưởng đoàn sẽ tiến hành đàm phán với phái đoàn của Pháp về vấn đề này. Nhận nhiệm vụ lớn đầu tiên, đàm phán với đối tác nước ngoài, phải nói thẳng họ hơn ta về nhiều mặt nhưng với ông Đính đã biết tận dụng mọi lợi thế có được là việc này đã có đồng chí Phan Dương - giám đốc làm rồi.

Ông Đính dựa vào tài liệu của ông Dương, đồng thời bổ sung thêm một số điều để khi đàm phán có lợi cho ta. Trước khi đàm phán ông Đính đều báo cáo và xin chỉ thị của Tư lệnh Trần Hanh. Kết thúc cuộc đàm phán đạt được ba cái lợi: thứ nhất, chuyển tiền thanh toán từ đồng franc của Pháp sang tiền USD; thứ hai, nâng thêm phần trăm Việt Nam được hưởng trong giá dịch vụ theo thông lệ quốc tế; thứ ba, từ thực hiện việc liên doanh kết hợp với huấn luyện nâng cao tay nghề bay cho đội ngũ phi công Việt Nam đạt trình độ quốc tế.

Từ ngày 1 tháng 6 năm 1989, Tổng công ty Bay dịch vụ ra đời, Đại tá Vũ Ngọc Đỉnh làm Tổng giám đốc; Đại tá Phan Văn Đính làm Phó Tổng giám đốc, kiêm Tổng giám đốc liên doanh Hê li vi Fra. Người chiến sĩ Điện Biên năm xưa chẳng thể ngờ được mình lại trở thành một người làm quản lý với cương vị và trọng trách của một ngành mới mẻ: Bay phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí - một ngành kinh tế mũi nhọn mà Đảng, Nhà nước và Quân đội ta hết sức chú trọng. Thời gian đầu cũng là thời gian cực kỳ khó khăn vừa làm vừa học, vừa tổng kết rút kinh nghiệm.

Bắt tay vào làm kinh tế mới biết khó khăn chồng chất khó khăn luôn thử thách đôi tay và khối óc mỗi người. Phó Tổng giám đốc Phan Văn Đính cũng như các đồng chí, đồng đội Tổng công ty trong công cuộc vươn lên thần kỳ của ngành bay dịch vụ đã luôn tâm niệm lời dạy của Bác Hồ: Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên. Tổng công ty Bay sau một thời gian hoạt động đã ngày càng ổn định và đạt hiệu quả kinh tế, là đơn vị dẫn đầu trong các phong trào thi đua trong đó có sự đóng góp nhỏ bé của người lính Điện Biên năm xưa. Tổng công ty đã được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng.

Khi được hỏi về “cơ duyên” nào đưa hai ông bà đến với nhau, bà hóm hỉnh: “Mục tiêu tấn công của ông ấy không phải là tôi. Chẳng qua tôi chỉ là người bị “bắn nhầm”. Nghe vợ nói ông chỉ tủm tỉm cười. Ngày ấy ông vốn là dân kĩ thuật suốt ngày lo chăm sóc máy bay, đảm bảo chiến đấu. Thấy ông đã ở “tuổi băm”, cô em gái sốt ruột viết thư lên đốc thúc: “Trường em học là một rừng “hoa nữ”, anh cứ về đây, tha hồ mà chọn.”

Chuyến đi thứ nhất chưa có kết quả. Thời kì đó các học sinh đều phải ở nhờ nhà dân. Kinh tế khó khăn, ăn uống thiếu thốn nhưng mọi người đều gần gũi và quý mến nhau, nhân dân địa phương đã tạo điều kiện giúp đỡ học sinh xa nhà rất nhiều. Lần xuất quân thứ hai, ông đáp tàu hỏa từ Yên Bái về Hà Nội. Từ Hà Nội đạp xe về tận huyện Ninh Giang, Hải Dương, đoạn đường dài trên 70 km để thăm cô em gái đang học Trung cấp Kế toán đúng vào ngày kỉ niệm thành lập Đoàn 26 tháng 3.

Tối hôm đó, nhà trường tổ chức liên hoan văn nghệ sôi nổi lắm. Đêm văn nghệ kết thúc, mọi người ùa vào liên hoan nhẹ. Gọi là liên hoan cho “oai” thế thôi, thực chất chỉ có ít bánh quy thời bao cấp. Bà rửa mặt cho sạch son phấn xong vào đến nơi thì mọi người đã chén sạch rồi. Đang đứng tần ngần, chợt có một bàn tay rắn chắc nắm lấy tay bà. Theo phản xạ, bà giật nhanh tay ra, đưa mắt nhìn. Thấy ông cười: “Nào, xòe tay ra anh tặng cái này!” Bà nghĩ: “Gớm, anh này mà cũng biết tặng quà.”, đành liều xòe tay. Ông nhẹ nhàng đặt vào tay bà một ít bánh quy. Ôi, những cái bánh quy nó “khô khan như chính người lính” mà lúc này đón nhận, bà thấy như có một điều gì đó thật cao sang và thân thương quá, càng làm cho trái tim bà thêm xao xuyến. Những chiếc bánh quy đó “đánh tan đàn kiến” đang bò trong bụng. Và có lẽ đối với bà, hương vị của những chiếc bánh quy thời bao cấp đó vẫn là ngon nhất.

Đến hôm nay, ông bà sống với nhau đã được 45 năm, sinh được một người con trai và hai người con gái. Cả ba người đều tốt nghiệp Đại học, đi theo nghiệp của bố, đang phục vụ và trưởng thành trong quân đội.
*
*    *
Tôi lặng lẽ quan sát ông bà, mới thấy ở đời hạnh phúc luôn có ở xung quanh ta. Cái hạnh phúc giản dị đến thắt lòng ấy có được từ đôi bàn tay, khối óc và nhất là từ sự nâng niu, chăm chút, không quản hy sinh trong suốt một đời người. Ông bà ngồi bên nhau, căn phòng ấm và sáng toát nên sự sống bền bỉ, yên hàn ăm ắp những niềm tin sau chặng đường dài. Người chiến sĩ Điện Biên năm xưa đã cùng với những đồng đội và nhân dân mình vượt qua bao nhiêu khó khăn thử thách, hi sinh xương máu dằng dặc mấy cuộc chiến tranh tự xây đắp cuộc đời mình, góp phần vào xây đắp non sông Tổ quốc. Người chiến sĩ Điện Biên năm xưa bây giờ đây, khi đã đi qua những ghềnh thác cuộc đời, ở những lúc đời thường nhất, đã cho chúng ta thêm một bài học về niềm tin và lẽ sống.

P.K


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo