Bộ đội với cái ăn cái mặc thời bão giá

Thứ ba - 03/01/2012 05:00

Dễ đã gần ba mươi năm, tôi mới gặp lại anh Phan Văn Tiên, bây giờ là Chủ nhiệm hậu cần Binh đoàn Cửu Long. Gặp nhau giữa khu tăng gia sản xuất của Sư đoàn 9, từ trong nhà chăn nuôi vọng ra tiếng heo con kêu đòi sữa, dưới ao cạnh đó đàn cá nhao lên đớp mồi rộ mặt nước, xa kia là vườn rau muống, rau cải, luống dưa leo, giàn bầu bí, tiếp đến là vườn cây ăn trái với những thân cây chuối, mít lúc lỉu quả… Có thể gọi đây là trang trại thu nhỏ cũng được. Lần đầu tiên tôi được quen chàng trung úy trẻ tuổi Tiên trong chuyến chở gạo và nước ngọt từ Puốc Xát lên cho một đơn vị của sư đoàn này đứng chân ở miền Tây nước bạn. Mùa khô ở rừng Campuchia nước hiếm, đã có nhiều chiến sỹ lạc đội hình hy sinh vì khát, vận chuyển gạo phải đi kèm nước. Sau đó, anh là trợ lý phòng sản xuất, năm nào cũng đưa chúng tôi đi trồng sắn, trồng rau. Bộ đội tới đâu, đặt ba lô xuống là tìm đất gieo hạt rau. Việc làm ấy được bộ đội cách mạng Campuchia và nhân dân làm theo, người Khmer ở phum sóc thường dùng rau dại mọc bên nương rẫy, được bộ đội tình nguyện biếu hạt giống, hướng dẫn cách gieo trồng, vườn nhà dân ở các phum sóc đã có những luống rau xanh mọc lên. “Từ đó tới nay, công việc của tôi vẫn là lo cái ăn, cái mặc cho bộ đội, nói nôm na là chăn nuôi, trồng trọt rau màu” - Anh Tiên cho tôi nắm bàn tay ấm mềm mà nói vậy. Tôi tính gợi lại chuyện thời làm nghĩa vụ quốc tế, nhưng anh kéo tôi về công việc hôm nay:

- Lo cái ăn cái mặc cho bộ đội thời bão giá này cũng vất vả lắm. Công tác quân nhu hậu cần bây giờ không phải là nhận từ trên phát xuống cho bộ đội mà phải tính đến đảm bảo hậu cần tại chỗ. Tiền ăn của bộ đội có hạn, thị trường có quy luật riêng, giá tăng đến chóng mặt, nên chúng ta phải chủ động tạo nguồn thực phẩm tại chỗ.

Cái ăn, cái mặc của bộ đội tưởng là chuyện nhỏ, nhưng khi tìm hiểu mới thấy được sự vất vả của người lính quân nhu. Là nỗi lo thường trực, không chỉ ở các đơn vị cơ sở mà của cả Cục Quân nhu, chính anh Nguyễn Xuân Hải, Phó cục trưởng và anh Lê Thành Vinh, trưởng phòng sản xuất, dẫn chúng tôi tới các đơn vị cũng rất quan tâm đến bữa ăn của bộ đội. Và, tôi rất cảm động khi các anh nắm rất rõ từng khu chăn nuôi, từng đàn gia súc, gia cầm, ao cá, khu trồng trọt tạo nguồn rau xanh của từng đơn vị trong Nam, ngoài Bắc, ở tận biên giới, hải đảo. Nuôi quân thời bình phải lo tính đủ thứ, tiền ăn của bộ đội cố định từ đầu năm, có bù giá chăng nữa cũng khó theo kịp thị trường nên người làm công tác hậu cần phải có những biện pháp cụ thể để đảm bảo bữa ăn cho bộ đội đủ chất lượng, định lượng. Anh Tiên là cán bộ hậu cần năng động, còn nhớ, những năm 1990, nhiều chiến sỹ ở binh đoàn Cửu Long bị bệnh phù nề, da thịt phồng lên, mặt sưng vù, nhẹ nhấn ngón tay đã thấy in vết lõm. Tư lệnh hỏi nguyên nhân, anh Tiên đáp: “Từ gạo mà ra, gạo xay xát, chà bóng quá kỹ, chuyển qua nhiều chặng, quá lâu nên giảm chất lượng. Binh đoàn ta nên mua thóc mới, tự xay xát là hết bệnh phù”. Thế rồi, nhà máy xay xát được dựng lên ở Ô Môn, giữa trung tâm lúa Cần Thơ. Từ đó, bộ đội được ăn gạo theo mùa, giá rất hời và bệnh phù nề không còn. Mỗi mùa thu hoạch, binh đoàn mua khoảng 2.500 tấn thóc nhập kho, cho dù giá bên ngoài biến động, cũng không còn lo ngại. Nhưng sự đời, gỡ được vướng mắc này lại phát sinh cái khó khác, hầu hết các đơn vị phải mua thức ăn ở chợ, lắm khi chiến sỹ tiếp phẩm “luộc” hết chợ vẫn không mua được hàng, rồi vấn đề an toàn thực phẩm không đảm bảo, ngay công nhân khu công nghiệp gần nơi đơn vị đứng chân cũng đã xảy ra hàng trăm người ngộ độc thực phẩm. Vậy là các đơn vị, đi đầu là Sư đoàn 9 anh hùng này thành lập khu tăng gia sản xuất. Thời gian đầu ở các tiểu đoàn, sau đó gom lại trung đoàn, mỗi trung đoàn có khu trồng rau, chăn nuôi, ao cá riêng. Hàng ngày đơn vị tự giết mổ gia súc, gia cầm, chế biến cá, làm đậu, giò lụa, cung cấp cho các bếp ăn. Từ điển hình Sư đoàn 9, các đơn vị trong binh đoàn cũng lần lượt làm theo...

Thoạt đầu, tôi cũng nghĩ công tác tăng gia sản xuất chỉ khoán cho trợ lý chuyên ngành là đủ, nhưng nhiều lần gặp Đại tá Phạm Ngọc Trạo, sư đoàn trưởng, ở ngay vườn rau, bên ao cá, cùng cán bộ chuyên ngành trực tiếp chỉ đạo chiến sỹ trồng, chăm sóc, thu hoạch rau, đánh bắt cá, thì tôi hiểu tầm quan trọng của việc nuôi quân thời bình. Anh Phạm Ngọc Trạo tâm sự:

- Chất lượng bữa ăn của bộ đội ảnh hưởng rất lớn đến công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Bộ đội thời bình nhưng không được để bất ngờ, bị động. Muốn giành thế chủ động trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống thì bộ đội phải được huấn luyện, rèn luyện kỹ. Để đáp ứng chương trình huấn luyện chính quy, bữa ăn phải đủ món, đảm bảo chất lượng và hợp khẩu vị. Lính sư đoàn phần nhiều quê ở Nam Bộ, thức ăn đậm chất đường. Chúng ta đều biết, sinh thời, mỗi khi tới thăm bộ đội, Bác Hồ thường ghé thăm điểm đầu tiên là bếp ăn, giếng nước, khu vực vệ sinh, nhà nghỉ của bộ đội. Việc làm ấy của Bác cho chúng ta hiểu tầm quan trọng của công tác nuôi quân như thế nào.

Để có được môi trường sống, bữa ăn như hôm nay là một sự nỗ lực, kiên trì của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ sư đoàn anh hùng này. Còn nhớ, khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế về lại khu căn cứ đất đai khô cằn, doanh trại hư nát, nguồn nước ngọt thiếu, Sư đoàn 9 bắt đầu mở chiến dịch trồng cây và chỉ mấy năm sau, tràm bông vàng, sao… đã xanh um lên. Chính cây cối đã giữ nước mưa lại và tạo nên nguồn nước ngầm, nước trong các ao hồ để vườn rau quanh doanh trại tốt nhanh.

Đến khu vực tăng gia sản xuất, tôi thấy yêu và cảm phục những cán bộ, chiến sỹ được giao nhiệm vụ này. Trò chuyện với Huỳnh Văn Út, được gọi là chuyên gia chăn nuôi của đơn vị, anh kể rằng, có được đàn heo hơn sáu trăm con, gồm cả heo nái mỗi lần đẻ trên dưới chục con, heo thịt nặng cỡ vài tạ, không phải dễ. Thời mới lập trại nuôi heo, chuồng nào cũng chỉ thả heo nái, cho ăn rất đầy đủ như sách hướng dẫn, nhưng mãi mà heo không lớn, cũng chẳng động đực, chú Tiên bảo mỗi chuồng phải có một con heo đực, nhốt riêng một chuồng để lấy hơi. Quả nhiên có con heo đực, đàn nái lớn phổng phao, vào kỳ phối giống rất nhanh. Bao giờ cũng phải có âm, có dương, đó là khoa học. Rồi cách cho ăn theo từng đàn, giờ tắm cho heo, chuyển chuồng, phòng trừ dịch bệnh, cũng phải khoa học. Ngay có người lạ đến, cũng phải đi qua, quãng nước vôi, nước sát trùng. Nếu sơ sẩy, dịch tai xanh lấn tới là cả đàn heo đi đời liền.

Khi chúng tôi ngỏ ý muốn tới một đơn vị lữ đoàn hoặc trung đoàn để được chứng kiến nơi ăn chốn ở, anh Tiên liền dẫn tới Trung đoàn công binh 550.

Trung đoàn công binh 550 của Binh đoàn cũng là một đơn vị xuất sắc về công tác xây dựng đơn vị, đảm bảo hậu cần. Doanh trại hết sức khang trang, nhà ở bộ đội, đường đi được xây dựng vững chãi, đẹp mắt, có cả những khu dành để trồng cây ăn trái, cây xanh. Đứng chân giữa khu công nghiệp lớn, đất đai hẹp nhưng bộ đội vẫn dành ra đất để tăng gia sản xuất. Bộ đội công binh không có thời bình, thường xuyên tham gia tháo gỡ bom mìn, vật nổ thời chiến sót lại, tham gia mở đường lên tận biên giới, vùng sâu vùng xa, có khi cách sở chỉ huy hàng trăm cây số. Vào thời điểm cuối năm này, hơn một nửa quân số đang gấp rút hoàn thành mở con đường lớn ở cao nguyên, kịp cho nhân dân đi lại trong dịp Nguyên Đán. Tưởng như với một đơn vị luôn cơ động, rày đây mai đó, dễ sinh ra tạm bợ, nhưng không, dừng chân ở đâu là bộ đội công binh trồng rau, chăn nuôi ở đó, thời gian ngắn cũng trồng, không kịp thu hoạch thì biếu tặng cho đơn vị tiếp quản hoặc nhân dân trong vùng.

Đồng chí Lê Lương Quyền, chính ủy trung đoàn, cho hay:

- Bộ đội công binh luôn phải cơ động làm nhiệm vụ ở xa nơi đứng chân, công việc rất nặng, cho nên chất lượng bữa ăn, nơi ở phải đảm bảo. Sống tạm bợ, dẫn tới chất lượng công việc tạm bợ là rất nguy hiểm.

Công việc của bộ đội công binh thời bình, ngoài huấn luyện, làm đường, bắc cầu, khắc phục tháo gỡ bom mìn, Trung đoàn 550 còn thường xuyên tham gia cứu hộ cứu nạn. Năm 2007, bão biển tàn phá nặng vùng biển ở Bến Tre, trung đoàn đã cử hai tiểu đoàn đến sửa đường, dựng nhà cửa, trường học cho nhân dân các huyện Ba Tri, Bình Đại, Gồng Trôm, trước đó, khi một cây cầu ở Long An bị sập, trung đoàn đã nhanh chóng bắc cầu phao để thông suốt giao thông. Mỗi khi đi làm nhiệm vụ là phải lên xe nào gạo, thực phẩm, cả rau xanh dùng cho cả tuần, sau đó từ căn cứ chở tiếp đến. Vậy nên nguồn lương thực, thực phẩm luôn phải dồi dào.

Tăng gia lợn nái dưới đơn vị

Trung đoàn không chỉ lo cho đời sống cán bộ, chiến sỹ của đơn vị, hễ đến đâu họ đều tìm hiểu đời sống nhân dân để giúp đỡ. Khi làm nhiệm vụ xây dựng vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên, khi thấy bà con ở xã Iamo, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, nhiều người còn nghèo, chính quyền không lo nổi, trung đoàn đã xây dựng bốn căn nhà tình nghĩa. Nguồn kinh phí ấy trích từ quĩ tăng gia, sản xuất của cán bộ chiến sỹ trung đoàn.

*

* *

Cái ăn, cái mặc thời bão giá cũng là mối quan tâm, lo lắng thường trực của ban giám hiệu các trường Quân Đội. Khi chúng tôi đến trước Trường sỹ quan Công binh ở Thủ Dầu Một, có tiếng xuýt xoa:

- Địa thế đẹp quá.

Trường đứng chân trên một khu đồi, phía xa là thành phố, một bên tiếp giáp với sông Sài Gòn. Thông thường ở vị trí đẹp như vậy rất khó tăng gia sản xuất. Khi chưa tới đây, tôi nghĩ, công tác hậu cần của nhà trường chỉ là việc nhận từ cấp trên, phát cho cấp dưới và định lượng bữa ăn của bộ đội đã được qui định rồi, còn gì phải lo nuôi trồng nữa. Nhưng khi gặp các đồng chí hậu cần nhà trường mới thấy, nếu như không chủ động khai thác tiềm năng hậu cần tại chỗ, bữa ăn học viên sẽ khó đảm bảo chất lượng. Đồng chí Đặng Văn Mạnh, Chủ nhiệm hậu, nói với chúng tôi:

- Địa thế nhà trường hết sức lý tưởng, sơn thủy hữu tình, nhưng đất đai cằn cỗi, khí hậu nơi đây cũng khắc nghiệt, nên trồng cây và chăn nuôi khó hơn những nơi khác. Tuy vậy, đã là người lính, khó mấy cũng phải làm. Đồng đội ta ở Trường Sa, giữa đảo san hô, đất, nước ngọt hiếm như vàng, vậy mà còn trồng được rau xanh, chăn nuôi được gia súc, gia cầm. Xét ra chúng tôi còn thuận lợi gấp ngàn lần họ, phải không nhà văn?

Anh cho biết, vùng Thủ Dầu Một mưa nắng thất thường. Nhưng đơn vị nào cũng có vườn rau, cuối buổi chiều cán bộ, học viên đều giành thời gian tăng gia. Đó cũng là nền nếp để các sỹ quan tương lai rèn luyện, khi về đơn vị cơ sở sẽ áp dụng. Học viên sỹ quan công binh vóc dáng to khỏe, rắn chắc, đó là kết quả của huấn luyện. Thông thường huấn luyện công binh thuộc vào loại nặng, vận chuyển lắp ghép cầu phà, xẻ núi đào hầm, bạt vách đá làm đường và luôn đối mặt với nguy hiểm, tháo ngòi nổ, hủy bom mìn thời chiến tranh còn sót lại. Sức ấy phải ăn đủ mới làm việc được.

Anh Mạnh cũng cho biết thêm, trước đây, nguồn thực phẩm chủ yếu khai thác ngoài thị trường, nhưng mấy năm gần đây, được Cục Quân Nhu đầu tư, nhà trường đã lập khu tăng gia sản xuất Tân Uyên, có hệ thống vườn giàn, trại chăn nuôi heo theo hướng hiện đại, thống nhất chính qui từng bước, gieo trồng các loại rau cao cấp, cây leo giàn, đàn heo đã có 100 con, dự tính năm tới tăng đàn lên 200 con, cơ bản đủ cung cấp sản lượng thịt cho 9 nhà bếp với hơn hai ngàn miệng ăn.

*

* *

Cái ăn đã vậy, còn cái mặc mấy năm gần đây như thế nào? Cán bộ và chiến sỹ toàn quân đã được trang bị quân phục mới từ năm trước với màu xanh truyền thống từ thời đánh Mỹ. Nghe tôi tỏ ý như vậy, đồng chí Nguyễn Văn Đạo, Phó tổng giám đốc Công ty 28 đáp:

- Trước hết, phải tính từ khi thay đổi quân phục sỹ quan K82, năm 1982, đến nay đã hơn hai mươi lăm năm, còn quân phục chiến sỹ thay đổi từ năm 2003, khi đó có chuyên gia nước ngoài giúp về mặt kỹ thuật nhuộm. Nhưng sản xuất quân trang K08 lần này hoàn toàn do kỹ sư của Tổng công ty 28 tự nghiên cứu.

Nghiên cứu dệt nhuộm cực kỳ vất vả, đòi hỏi tính kiên nhẫn cao và dễ nhiễm độc hại. Để có được chất lượng sợi vải, màu xanh ô liu quân trang, phòng kỹ thuật đã thử nghiệm qua hơn bố chục hóa chất màu, pha chế, nhuộm đi nhuộm lại, rồi trong hàng chục màu tương tự nhau, chọn lấy một màu đẹp nhất. Bước vào phòng kỹ thuật, tôi đã ngất ngây với mùi hóa chất. Vậy mà cán bộ, kỹ sư của Tổng công ty đã miệt mài ở đây hết năm này qua năm khác. Kỹ sư Nguyễn Thị Bích Uyên đã làm việc ở phòng thí nghiệm này nhiều năm, nói:

- Phòng này được giao nhiệm vụ thí nghiệm chất lượng từ bông, sợi, vải thô đến nhuộm. Đã làm nhiệm vụ này phải chấp nhận độc hại anh ạ.

Trong căn phòng thí nghiệm có máy kéo kiểm tra chất lượng từng sợi nhỏ đến khi ra thành phẩm tấm vải và rất nhiều chai lọ hóa chất, màu. Kỹ sư Uyên thường tránh nói về mình. Trong câu chuyện với tôi, chị chỉ hay nói về vị trưởng phòng - thạc sỹ Việt Hồng, người có công lớn trong việc pha trộn màu để tìm ra sắc màu ô liu cho quân phục hiện nay.

Trong tất thảy các loại đồng phục thì quân phục là phải kỹ lưỡng nhất, đòi hỏi chất lượng cao nhất, mẫu mã hoàn chỉnh nhất. Hoạt động của người lính có tính đặc thù, dầm mưa dãi nắng, thời chiến phải lặn lội trong đại ngàn, giữa bưng biền, thời bình vất vả không kém, luyện tập, lăn lê, bò toài trên thao trường, khi có thiên tai phải đối mặt với bão lũ, những lúc cháy rừng còn phải chịu sức nóng của lửa. Vậy nên sợi phải lựa chọn sản xuất ra loại sợi bền, màu sắc ít phai nhất. Mọi người, từ lãnh đạo công ty đến đội ngũ khoa học đều quyết tâm nghiên cứu sản xuất sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, chất lượng đảm bảo cạnh tranh với hàng cùng loại của các nước tiên tiến. Nếu phụ thuộc vào nước ngoài, mình chỉ gia công cho họ sẽ rất bấp bênh. Tổng công ty được giao nghiên cứu đề tài sản xuất thử nghiệm vải len polyes chất lượng cao thay thế hàng nhập khẩu. Các mẫu vải đã được tập đoàn WoolMark của Vương Quốc Anh cấp chứng chỉ đạt chất lượng châu Âu và được cấp bản quyền sử dụng. Tổng công ty cử cán bộ sang tận Tô Châu, Trung Quốc, nơi sản xuất vải tô châu, là vùng đất có truyền thống dệt nhuộm lâu đời của Trung Hoa để học cách pha chế và qui trình dệt nhuộm. Trong kỹ thuật nhuộm, nhuộm màu xanh lá cây bộ đội là khó nhất. Đầu năm 2008 khi sản xuất thử nghiệm quân trang cho các đơn vị ở vùng biển, biên giới, đồng bằng sông Cửu Long, nơi nước đậm chất phèn hoặc nước có độ mặn cao, đa số cán bộ chiến sỹ đều cho rằng, bộ quân phục mới này sắc màu phù hợp, độ bền đảm bảo. Từ đó, Bộ Quốc Phòng, trực tiếp là Đại tướng Phùng Quang Thanh đã quyết định lấy mẫu quân phục này trang bị cho toàn quân.

*

* *

Có lẽ cấp quân khu chỉ ở quân khu 7 là có công ty dệt may, không chỉ tự lực được quân trang mà còn kinh doanh rất hiệu quả. Công ty TNHH một thành viên dệt may 7 từ lâu nổi tiếng trong và ngoài quân đội với các sản phẩm là vải gabardin, vải bạt chống thấm may ba lô, nhà bạt, xicarô in loang, nói theo ngôn ngữ thông dụng là hoa rằn ri, đảm bảo độ bền, dùng cho bộ đội đặc công, Hải quân, lục quân, cảnh sát biển… được Bộ Quốc phòng đánh giá rất cao.

Trước đây, tôi vẫn nghĩ, với doanh nghiệp cấp quân khu như dệt may 7, chủ yếu là đánh du kích, bằng máy móc cũ. Nhưng khi được xem và nghe các đồng chí trong ban giám đốc thuyết trình, mới hay, công nghệ dệt, máy nhuộm cao áp, hạ áp, máy hấp vải, máy xử lý đốt lông… vào loại tiên tiến nhất ở nước ta hiện nay.

Trong ngành dệt, in hoa đòi hỏi công phu nhất, không chỉ cần sợi vải tốt mà tuyệt đối không được lỗi. Chỉ cần một vết nỗi cộm lên, toàn bộ hoa trên nên vải xọc xạch liền. Sau khi có mẫu, còn thử bằng cách phơi trên mái nhà hàng chục ngày đêm để thử độ bền của hoa văn. Sản xuất bạt không thấm nước cũng là một phát minh sáng kiến mới chỉ có ở dệt may 7.

Công ty đã và đang nhận nhiều đơn đặt hàng cung ứng vải bạt không thấm cho ban phòng chống lụt bão, thiên tai của các tỉnh trong cả nước, tương lai sẽ xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Năng lực sản xuất của nhà máy rất lớn, nguồn hàng tiêu thụ thị trường nội địa chỉ bằng ba mươi phần trăm, còn lại phải tìm thị trường nước ngoài. Riêng năm 2011, công ty đã dệt 3,50 triệu mét vải, nhuộm 4,10 triệu mét, sản phẩm in 2,18 triệu mét, may 652,751 sản phẩm, doanh thu 335,461 tỷ, tất cả đều vượt mức kế hoạch.

*

* *

Ăn là vậy, mặc là vậy, còn đi thì sao?

Ở phía Nam, Công ty 32 là đơn vị chịu trách nhiệm sản xuất giày dép và đang sản xuất mũ bảo hiểm đưa vào phục vụ cho bộ đội bắt đầu từ năm nay.

Từ trước tới nay tôi cứ nghĩ, sản xuất giày vải, giày da không đến nỗi khó lắm, các xưởng nhỏ gia đình cũng làm ra được. Nhưng khi đến Công ty 32, trò chuyện với anh Trần Văn Toản, bí thư đảng ủy, anh Đại, Phó tổng giám đốc công ty, thì thấy nhiều điều hết sức thú vị về sản xuất giày da. Giày tốt, bền, trước hết nguyên liệu phải đảm bảo chất lượng, nhất là đế cao su phải tốt vì trọng lượng cơ thể người dùng, độ ma sát lớn, đều dồn xuống chân đế. Riêng giày cấp tướng đế pu, dày cấp tá, chiến sỹ đế cao su. Nhựa cũng phải tốt nếu không dễ bung, nhất là với người dùng là bộ đội đi trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, nước nhiễm phèn, mặn… Nhựa sản xuất giày của công ty 32 nhập từ nước ngoài. Giày vải chiến sỹ dùng phải ép lưu hóa. Thông thường, hoàn thành chiếc giày phải qua các công đoạn: chặt, lạng, kiểm, may gò, rồi qua hệ thống sấy nóng, làm lạnh để kéo ổn định. Các công đoạn đều phải làm tốt, chặt chẽ từng khâu.

Công nhân giày ở đây đều có tuổi nghề hai, ba chục năm, tay nghề rất vững, có thể nói, nhiều người thao tác như nghệ nhân. Đó là anh Tân ở bộ phận gò, anh Lộc, bộ phận gò mĩa, anh Thắng, bộ phận kỹ thuật ép lưu hóa. Trong điều kiện làm việc vất vả với nồng độ hóa chất, mùi da, mùi cao su nồng nặc, họ làm việc miệt mài, khéo léo trau chuốt từng sản phẩm theo cung cách nghệ nhân thì rất đáng khâm phục.

Anh Lộc, một trong những công nhân làm việc ở đây đã hơn hai mươi năm, tay nghề cao, nói với tôi:

- Đã là người lính thì phục vụ vô điều kiện, thu nhập thấp vẫn bám máy. Bây giờ, được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại hơn, nhưng công việc vẫn phải kỹ càng, tỉ mỉ từng chiếc, không ẩu được.

Giày da, giày vải của Công ty 32 mẫu mã đẹp, trau chuốt, bền, đế chắc, chưa hề có hiện tượng gãy, nứt đế. Đó là nhận xét của cán bộ, chiến sỹ sau nhiều năm sử dụng.

Cũng như các nhà máy, xí nghiệp khác, Công ty 32 phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như giá nguyên liệu đầu vào, điện, nước, đều tăng. Nhưng giá sản phẩm hầu như được qui định khi hợp đồng ký kết, nghĩa là từ đầu năm. Tuy vậy, công ty vẫn tìm cách khắc phục. Phong trào tiết kiệm được đẩy mạnh, nổi bật là tiết kiệm điện, nước, vật tư sản xuất đã thu được 2.650 triệu đồng. Đó là khoản tiền không nhỏ.

Đầu năm nay, công ty 32 được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất mũ bảo hiếm, theo kế hoạch đến tháng 12 này sẽ đến tay người dùng. Không ít cán bộ chiến sĩ từng làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, từng đối mặt với đám buôn hàng cấm nhưng khi về đô thị lại bị thiệt mạng bởi tai nạn giao thông. Mà phần nhiều do chấn thương sọ não vì mũ bảo hiểm kém chất lượng. Có lẽ nhận thấy điều đó và để bảo đảm tính chính qui nên Bộ quốc phòng, trực tiếp là Cục quân nhu đã chỉ đạo Công ty 32 nghiên cứu sản xuất mũ bảo hiểm cho toàn quân.

Vào những ngày cuối năm này, cán bộ, công nhân công ty dồn hết công sức để hoàn thành chỉ tiêu. Dẫn chúng tôi thăm các khâu sản xuất, Đồng chí Tạo, Tổng giám đốc công ty, cho biết:

- Mũ bảo hiểm dùng cho bộ đội khi đi xe gắn máy phải đảm bảo chất lượng. Chúng tôi đã nghiên cứu đưa ra mẫu đẹp nhất, chất lượng tốt nhất đã được thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Cục Quân nhu chọn.

Hóa ra, dây chuyền sản xuất mũ bảo hiểm qua nhiều công đoạn. Công nghệ đúc ép xốp hiện đại, nguyên liệu PA6, Pua lua mít, vải bọc gabadin, pê pi. Mũ tốt phụ thuộc vào công đoạn làm xốp, giảm chấn và cả đinh vít phải chắc. Phần nhiều người tham gia giao thông thiệt mạng khi va chạm ngã xuống chấn thương là do vỡ xốp và bật đinh vít mũ bảo hiểm. Hy vọng, khi toàn quân đội nón bảo hiểm mang thương hiệu Công ty 32, sẽ bớt đi những sự việc đau lòng.

Cùng với Tổng công ty 28, Công ty dệt may 7, Công ty 32 đã có nhiều mặt hàng được toàn quân và người sử dụng yêu thích. Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là các loại hàng quân nhu ấy, sau khi được làm ra sẽ tập kết về đâu và tới tay cán bộ chiến sĩ như thế nào? Xin được dành phần cuối của bài viết này để nói đôi lời về kho K690, một trong hai “tổng kho” lớn nhất toàn quân, trực thuộc Cục Quân nhu. Đại tá Nguyễn Đăng Quân, chủ nhiệm kho K690 đã cho đoàn nhà văn quân đội “mượn” xe của Kho để đi một loạt đơn vị, sau đó cùng “tập kết” về Kho để thấy những người lính coi kho quân nhu vất vả như thế nào. Kho có nhiệm vụ đảm bảo nguồn hàng quân nhu cho các đơn vị từ nam đèo Hải Vân trở vào, trong đó có việc cung cấp nguồn hàng cho bộ đội ngoài Trường Sa. Đến với các nhà kho của K690 mới thấy được vì sao trong suốt những năm qua Kho luôn đạt danh hiệu đơn vị vững mạnh toàn diện, duy trì tốt lượng hàng dự trữ sẵn sàng chiến đấu. Phân kho 1, phân kho 2 với những đại tá Ngọ Đình Toan, thiếu tá Nguyễn Thị Điểm, đại úy Vũ Văn Tiến… luôn là điển hình của những người lính coi kho quân nhu. Để có được nguồn hàng đảm bảo chất lượng, đúng mẫu mã, tiêu chuẩn tới tận tay cán bộ chiến sĩ, quả thật, có công sức không nhỏ của những người lính kho K690 ở phía Nam này.

Tháng 11- 2011

NGUYỄN QUỐC TRUNG



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo