Trà Vinh - Một góc miền Tây

Thứ ba - 12/08/2014 21:52

.NGÔ VĨNH BÌNH

Mênh mông rừng tràm, bạt ngàn dừa xanh

Tiếng chang đước đong đưa,

nhớ người xưa từng ở nơi này…

(Bài ca đất phương Nam - Lư Nhất Vũ)

Tôi biết tới cái tên Trà Vinh từ thủa còn ngồi trên ghế trường làng bởi bài thơ của nữ thi sĩ Hà Nội - bà Vân Đài - có tựa đề Trà Vinh thương nhớ (1962) với những câu:

Ba mươi năm ấp ủ một tình yêu

Thương nhớ biết bao Trà Vinh xa cách

Nhớ mãi nơi đầu sông ngọn rạch

Con nước Cổ Chiên khi lớn, khi ròng

Một ánh chớp hồn ta như lóe sáng

Trà Vinh ơi! Kỷ niệm một đời ta

Cũng vào những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ trước, khi nước nhà còn bị chia cắt, miền Nam, miền Bắc có phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh. Ví như Hà Nội - Huế, Hải Phòng - Đà Nẵng, Bến Tre - Vĩnh Phúc… và Thái Bình - Trà Vinh. Là thế mới có bài hát Hai chị em của nhạc sĩ Hoàng Vân với những câu: Cô ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị hai năm tấn quê ở Thái Bình/ Hai chị em chung hai trận tuyến, anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang/ Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước, sáng ngời tên những cô gái Việt Nam…

Trà Vinh nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh miền Tây Nam Bộ được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu có 65 km bờ biển phía Đông, phía Tây giáp Vĩnh Long, phía Nam giáp Sóc Trăng, phía Bắc giáp Bến Tre… Kiến thức địa lý cho biết vậy, nhưng mãi tới mùa hè vừa rồi chúng tôi mới có dịp đặt chân lên miền đất vơi đầy thương nhớ này - đất Trà Vinh.

Chả là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai vừa phối hợp mở một trại sáng tác văn học đông vui và hiệu quả. Trong ngày bế mạc trại, ban tổ chức có mời các Hội Văn nghệ tỉnh bạn lân cận đến chia vui. Nhà văn Trần Dũng ở Hội Văn nghệ Trà Vinh cứ một hai níu kéo chúng tôi ghé về quê ông. Cũng là trên đường đến Biên phòng Kiên Giang làm việc nên chúng tôi vui vẻ theo anh...

Về Trà Vinh chúng tôi như được đắm chìm trong câu hát Bài ca đất phương Nam của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ: Nhắn ai đi về miền đất phương Nam/ Trời xanh mây trắng, soi dòng Cửu Long Giang/ Mênh mông rừng tràm, bạt ngàn dừa xanh/ Tiếng chang đước đong đưa, nhớ người xưa từng ở nơi này!...

Về Trà Vinh, tôi muốn theo dấu chân ngàn năm đi mở đất, tìm lại dấu in hình thuở mang gươm…

Nơi mà nhà văn Trần Dũng đưa các nhà văn quân đội đến đầu tiên là Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cô hướng dẫn viên xinh đẹp có cái tên thật dễ nhớ là Vĩnh Bình (nhà văn Trần Dũng “bật mí” thêm, có thời tỉnh Trà Vinh cũng có tên là Vĩnh Bình) cho biết: Ngay sau khi Bác Hồ qua đời, đảng bộ cùng quân dân xã Long Đức đã quyết định xây dựng một ngôi đền để tưởng nhớ Người. Đền được khởi công vào ngày 10 tháng 3 năm 1970 và khánh thành ngày 26 tháng 1 năm 1971. Khi mới xây dựng, đền có kết cấu đơn sơ bằng vật liệu tre lá, trên một diện tích 16 m2, và chỉ cách một đồn quân của Việt Nam Cộng hòa vài trăm mét. Trong chiến tranh, ngôi đền đã nhiều lần bị bom đạn của đối phương tàn phá. Ngày 10 tháng 3 năm 1971, đền bị đốt cháy. Năm 1972, người dân Long Đức lại góp tiền của và công sức xây lại ngôi đền. Sau đó, đền lại bị đốt cháy mấy lần nữa, ngày 9 tháng 4 năm 1975, tiếp là ngày 29 tháng 4 năm 1975 (tức chỉ trước 30 tháng 4 năm 1975 một ngày) ngôi đền lại bị bom đạn làm hư hỏng một phần. Sau đó, đền được chính quyền tỉnh Trà Vinh cho trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Ngôi đền hiện nay có kết cấu theo kiểu hình khối vuông, nóc bánh ú, mái lợp lá, nền láng xi măng. Nơi đền tọa lạc hiện đã được mở rộng 4 hecta, và lần lượt có thêm nhiều hạng mục được xây dựng như: cổng chào, nhà bao che đền thờ, nhà truyền thống, nhà trưng bày vũ khí, nhà sàn Bác Hồ (phục dựng theo nguyên mẫu nhà sàn Bác Hồ ở Hà Nội)... Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Long Đức (Trà Vinh) đã được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia, và được chính quyền tỉnh Trà Vinh chọn làm biểu trưng của tỉnh.

Tác giả trước bến Cồn Tàu, Trà Vinh - nơi nhà văn Văn Phác, Tổng biên tập đầu tiên của Văn nghệ Quân đội đã có mặt 50 năm trước - Ảnh: Xuân Thủy

Trong lần đi tìm dấu người xưa này, chúng tôi đã đến được cửa sông Cổ Chiên. Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên (hay còn gọi là cửa Cung Hầu) và cửa Định An. Vùng cửa sông này còn gọi là vùng Ba Động. Gọi vậy bởi vùng đất biển bồi này có ba động cát lớn là Bàu Móp - Long Sơn, Cồn Trứng - Trường Long Hòa và Bàu Cá - Long Toàn. Nơi đây có di tích đoàn “tàu không số” Cồn Tàu ở ấp Cồn Trứng, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Trước khi đến thắp nhang tri ân các anh hùng liệt sĩ “tàu không số” Cồn Tàu chúng tôi được các chiến sĩ Đồn biên phòng 622 Biên phòng Trà Vinh dẫn đi thăm vùng Ba Động. Chiếc tàu mang số hiệu BP 173.502 như một con tuấn mã rẽ sóng hướng ra phía biển mênh mông trời và nước, nắng và gió. Thượng tá Võ Văn Võ vừa cầm lái con tàu vừa chỉ cho chúng tôi đâu là Cồn Trứng, Khâu Lầu, Bàu Cá, Bàu Móp… Theo tay anh, mọi người chỉ thấy những bờ bãi xa mờ, thấp thoáng vài ba mái lá. Anh Võ bảo, đấy là những bến bãi năm xưa mà những con “tàu không số” vào ra. Đại tá Huỳnh Công Đức, Chủ nhiệm chính trị Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Trà Vinh cho biết: Đầu năm 1961, Trung ương chỉ thị cho các tỉnh như: Bà Rịa, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau... chuẩn bị bến bãi và tổ chức những chuyến tàu bí mật ra Bắc, vừa thăm dò mở đường, vừa nghiên cứu tình hình địch, có điều kiện chở vũ khí về miền Nam. Chấp hành chỉ thị của Trung ương, đầu tháng 5 năm 1961, đồng chí Trần Văn Long, Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh xuống huyện Duyên Hải để tuyển chọn những cán bộ dũng cảm, gan dạ, có kinh nghiệm đi biển đó là các đồng chí: Lê Văn Lòng, Hồ Văn In, Trần Văn Mao, Nguyễn Văn Khương, Nguyễn Văn Chấp và Ngô Văn Tôi chuẩn bị vượt biển. Năm giờ chiều ngày 3 tháng 8 năm 1961, thuyền rời vàm ra khơi hướng về Bắc. Sau những ngày mạo hiểm, các đồng chí Đoàn - Kết - Đấu - Tranh - Thắng - Lợi cũng đến được hậu phương lớn. Ngày 19 tháng 2 năm 1962, Trung ương Cục miền Nam ra quyết định thành lập đoàn 926, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương cục và sự quản lý Bến trên địa bàn Trà Vinh do đồng chí Nguyễn Văn Sến, Phó chính ủy Đoàn 926 phụ trách. Chấp hành chỉ thị của Trung ương cục, Tỉnh ủy Trà Vinh nhanh chóng xây dựng bến; cụm bến được tổ chức ở xã Trường Long Hòa thuộc Khâu Lầu, Cồn Tàu, Cồn Trứng...

Đại tá Lê Thanh Trà, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện Duyên Hải cho biết thêm: Từ năm 1963 đến năm 1966, các điểm đến hai bến của Trà Vinh đã tiếp nhận 16 chuyến tàu, riêng bến Cồn Tàu tiếp nhận 10 chuyến với 680 tấn vũ khí, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bến Trà Vinh tiêu biểu là bến Cồn Tàu, cùng với bến Bà Rịa, Bến Tre, Cà Mau đã tiếp nhận 124 chuyến tàu, góp phần viết nên huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển… Anh Năm Trà bảo, bến Cồn Tàu, tỉnh Trà Vinh là một mắt xích quan trọng của tuyến đường này và là một nét son trong lịch sử cách mạng Trà Vinh. Thì ra, nơi đây vùng cửa sông này cách đây đúng 50 năm tướng Văn Phác (bí danh Tám Trần) là Tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội chúng tôi đã có mặt. Trong bài hồi ký Vượt biển vào Nam, nhà văn Văn Phác - nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân giải phóng miền Nam, Chính ủy Quân đoàn 232, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin cho biết: Đợt tập trung cán bộ đi B giữa 1964 là đợt tập trung đông nhất, lớn nhất từ trước đến giờ gồm nhiều cán bộ trung cao cấp của các cơ quan đơn vị. Đoàn của ông có 5 người: ông Lê Thế Bôn - Tham mưu trưởng, ông Văn Lân - Trưởng phòng tổ chức Quân khu Hữu Ngạn, anh Phúc “béo”, anh Sơn Tiêu - Bộ Tư lệnh pháo binh và ông Trần Văn Phác - Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân, Tổng cục Chính trị. Đoàn tập kết ở bến Vạn Hoa (Đồ Sơn - Hải Phòng) và lên một con “tàu không số” do ông Phan Vinh là thuyền trưởng, ông Sang người Bến Tre làm chính trị viên tàu. Ngoài 5 cán bộ và thủy thủ đoàn, tàu còn chở theo hơn 100 tấn vũ khí. Sau hơn một tuần lễ lênh đênh trên biển, vừa dò đường tìm hướng vừa tránh máy bay và tàu địch đoàn cập bến Trà Vinh cách đồn địch chỉ chừng 3 cây số! Tướng Tám Trần kể tiếp: “…Sang giơ đèn pin nhấp nháy đúng 5 cái. Lần thứ nhất không có tiếng đáp lại. Tàu lách qua những cọc đáy, tiến lên. Đồng chí Sang nháy đèn pin một lần nữa… có tín hiệu đáp lại từ bờ… Và, có tiếng gọi từ xuồng máy phía đất liền. Thế là gặp nhau rồi, vui không để đâu hết! Xuồng đã áp mạn tàu. Đồng chí Sang nói như hét lên, anh Tư dẫn tàu vô kẻo sáng! Sang kéo tay Tư lên tàu… Một chị phụ nữ đứng tuổi, tự giới thiệu ở nhà là con thứ tư, ở đây là tổ trưởng giao liên, nhanh nhẹn đưa chúng tôi tới một bụi cây khá xa biển, có trải sẵn tấm nilon mới, rộng. Chị thân mật hỏi: Mấy anh mệt lắm hè? Anh Thế Bôn nhanh nhảu đáp: Vâng, bảy ngày, bảy đêm bị sóng biển tra tấn liên tục, tàu lại bị lạc đường, căng thẳng quá chị Tư à! Vẫn giọng nói nhẹ nhàng, chị Tư muốn phân trần: Đề nghị mấy anh nghỉ lại đây. Chỗ này yên tĩnh không sợ lộ. Tối, tụi em sẽ đưa mấy anh vô nhà nghỉ. Một em giao liên đem đến mấy quả dưa hấu kếch sù. Chị Tư tự tay bổ ra mời chúng tôi và không quên tự giới thiệu: Dưa Trà Vinh bón bằng bã tôm, ngọt không đâu bằng. Các anh ăn thử xem có phải như vậy không. Đúng như chị Tư nói. Miếng dưa màu đỏ tươi, có vị ngọt lịm người. Hương vị làm tôi nhớ mãi đến bây giờ! (Văn Phác tuyển tập, Nxb Công an Nhân dân - 2007, tr. 256, 257).

Đoàn nhà văn Văn nghệ Quân đội tại Nhà lưu niệm Đường Hồ Chí Minh trên biển bến Cồn Tàu, Trà Vinh - Ảnh: PV

Biết tôi đang chìm đắm trong câu chuyện nhớ người xưa từng ở nơi này, nhà văn Nguyễn Đình Tú xua tay: “Thôi mọi người im lặng, không ai nói gì hết để ông Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội “đời thứ 7” thả hồn tìm lại dấu xưa của ông Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội đầu tiên!”.

Về Trà Vinh không thể không về Cầu Kè, huyện ở phía tây tỉnh, phía bắc giáp huyện Trà Ôn (Vĩnh Long), phía đông là huyện Càng Long và Tiểu Cần (Trà Vinh), phía tây và nam là sông Hậu. Cầu Kè có diện tích 245 km2 và dân số là 116.000 người. Huyện lỵ là thị trấn Cầu Kè cách thị xã Trà Vinh khoảng 40 km về hướng tây. Cầu Kè không chỉ nổi tiếng vì có đặc sản dừa sáp (loại dừa chỉ trồng duy nhất được ở đây) mà còn được cả nước biết tới vì có “người mẹ cầm súng” - Út Tịch (1931-1968). Bà là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

“Người mẹ cầm súng” tên thật là Nguyễn Thị Út, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1931, nguyên quán tại làng Tích Thiện, xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Là người có tính khí mạnh mẽ, bà sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia 23 trận đánh lớn nhỏ, góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt và làm tan rã trên 200 tên địch, thu 70 súng. Bà là một chiến sĩ trinh sát dũng cảm và mưu trí, một chiến đấu viên ngoan cường, một chiến sĩ binh vận tài tình đã vận động nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bốt lấy súng không tốn một viên đạn. Bà nổi tiếng với những câu nói bất hủ: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “Nó đánh mình, mình đánh nó!”, đánh Mỹ với tinh thần “còn cái lai quần cũng đánh!…”. Bà được nhà văn Nguyễn Thi xây dựng thành hình tượng nhân vật chính trong tác phẩm Người mẹ cầm súng nổi tiếng, được đưa vào sách giáo khoa văn học phổ thông, sau được dựng thành phim Mẹ vắng nhà do Trần Khánh Dư làm đạo diễn, Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Thu thủ vai chính. Một con đường tại quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh cũng được mang tên bà…

Và, một điều thú vị là tác giả của tiểu thuyết Người mẹ cầm súng viết về người nữ anh hùng Út Tịch - nhà văn Nguyễn Thi - cũng là người của “nhà số 4” Tạp chí Văn nghệ Quân đội chúng tôi. Nguyễn Thi (1928-1968) tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca (bút danh khác là Nguyễn Ngọc Tấn), quê ở xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Mồ côi cha từ năm mười tuổi, mẹ đi bước nữa, Nguyễn Thi phải chịu vất vả, tủi cực từ nhỏ. Năm 1943, một người anh đưa ông vào Sài Gòn. Năm 1945, ông tham gia cách mạng và sau đó gia nhập lực lượng vũ trang. Nguyễn Thi vừa cầm súng chiến đấu, vừa hăng hái tham gia hoạt động văn nghệ. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Thời gian “ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân” và sống cảnh “ngày Bắc đêm Nam” này, ông đã viết những truyện ngắn nổi tiếng như Trăng sáng, Đôi bạn, Im lặng… với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn. Năm 1962, ông tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu và hi sinh ở mặt trận Sài Gòn trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên. Năm 2011, ông được truy phong danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên ông được đặt cho một con đường ở quận 5 thành phố Hồ Chí Minh…

Về Trà Vinh hôm nay, đi tìm “dấu chân người xưa”, chúng tôi cảm nhận được tinh thần anh dũng bất khuất trong đấu tranh, đức tính cần cù trong lao động sản xuất của người dân xứ này; đồng thời cũng thấu hiểu được những thách thức, khó khăn ở một vùng quê đang đổi mới. Tỉnh Cửu Long trước đây (bao gồm hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long) cũng như Trà Vinh bây giờ, về cơ bản vẫn là thuần nông, một phần đất đai bị nhiễm phèn, chưa được rửa mặn, giao thông thủy lợi gặp nhiều khó khăn; đời sống nhân dân còn nghèo, nếu như không nói là nghèo nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh có 7 huyện thì có tới 4 huyện nghèo, trong đó có gần 30 xã còn khó khăn, 12 xã đặc biệt khó khăn. Những địa phương có đông đồng bào Khơ-me sinh sống là những vùng nghèo nhất, mà ở Trà Vinh người Khơ-me chiếm tới gần 30% dân số toàn tỉnh (riêng huyện Trà Cú có tới 70%, có xã 90% dân số là người Khơ-me).

Về Trà Vinh hôm nay vẫn còn vẳng nghe đâu đây một “điệu buồn phương Nam”: Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi/ Thương những đời như lục bình trôi (Vũ Đức Sao Biển), nhưng với tôi, tôi nghĩ trên con đường đi tới của mình, người Trà Vinh với những “hành trang” thật riêng là tinh thần mở luồng “mở lối”, là ý chí ngoan cường “còn cái lai quần cũng đánh” và sự cần cù nhất định Trà Vinh sẽ sớm phồn vinh. Tôi tin như vậy, khi đã “thật mục sở thị” những công trình (trong 14 dự án trọng điểm), ví như công trình thủy lợi Nam sông Măng Thít; tận mắt thấy cái ngổn ngang, hoành tráng của Trung tâm Điện lực Duyên Hải. (trung tâm này có tổng diện tích 641 héc ta, tổng công suất gần 4.500 MW, tổng vốn đầu tư khoảng 5 tỉ đô la Mỹ, điện năng sản xuất hàng năm khoảng 25 tỉ KWh), cái kỳ vĩ của dự án “Luồng cho tàu có trọng tải lớn vào sông Hậu” (dự án do Cục Hàng hải Việt Nam làm chủ đầu tư, được triển khai trên địa bàn các xã Long Vĩnh, Long Khánh, Dân Thành, huyện Duyên Hải. Tổng mức đầu tư gần 9.800 tỷ đồng. Đây là công trình đào kênh tắt từ biển đi qua tỉnh Trà Vinh để tiếp nhận tàu có trọng tải trên 20.000 tấn vào cảng Cần Thơ)… và hình dung được vóc dáng của cây cầu mới Cổ Chiên!

Về Trà Vinh hè này tôi cứ ngỡ mình như đang bay cùng con chim sáo Bay về Bạc Liêu, con sáo bay theo phương người/ Bay về Trà Vinh, con sáo bay qua đời tôi.

Thập Tam trại, tháng 6 năm 2014

N.V.B



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo