Trở về Binh đoàn của tôi

Thứ sáu - 25/05/2012 13:03
Mỗi lần có dịp đến bất cứ đơn vị nào của binh đoàn Cửu Long, tôi đều có cảm xúc như được về với đơn vị cũ của mình. Gần mười năm công tác ở binh đoàn, tôi đã được đến khắp các tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, có khi ở cả tháng.

Thời làm nghĩa vụ quốc tế ở đất nước Chùa Tháp, mỗi khi đi cơ sở phải vượt qua hàng trăm cây số, đi bằng xe tải, có khi di chuyển bằng trực thăng, các phương tiện ấy tới là về ngay, còn tôi ở lại làm nhiệm vụ của một người viết văn, viết báo chiến trường. Tôi ở lâu đến độ, nhiều người ngỡ tôi là người đơn vị họ.

Trung đoàn T-TG 22 huấn luyện vượt sông - Ảnh: TL

Mà người làm văn chẳng có gì thúc bách, muốn đến đơn vị nào, ở bao lâu cũng được. Nhiều lần tôi được dẫn các nhà văn Thanh Tịnh, Thu Bồn, Nam Hà, Nguyễn Đức Mậu… đến một số đơn vị và ở lại mấy tuần. Các nhà văn ấy đã có tác phẩm viết về binh đoàn Cửu Long thời làm nghĩa vụ quốc tế.


Nghe tôi kể vậy, mấy chiến sĩ trung đoàn công binh 550 trố mắt ngạc nhiên như trẻ thơ nghe chuyện cổ tích. Cũng phải, năm nay họ mới mười tám, mười chín tuổi, nhập ngũ sau dịp tết Nhâm Thìn, nghĩa là chưa đầy một tháng. Vừa mới bén hơi quân phục, như lời chiến sĩ có tên là Hoàng nói vui thế. Còn chuyện tôi kể diễn ra cách đây đã ba mươi năm rồi. Chiến sĩ Hoàng hỏi lại tôi:

- Theo chú, chiến sĩ thế hệ ấy khác lớp chiến sĩ hôm nay nhiều không?

Tôi bảo: “Nhiều chứ, ngày ấy tụi tôi lớn lên khi đất nước có chiến tranh, dĩ nhiên là học hành không được chu đáo như các bạn bây giờ. Hơn thế, các bạn được tiếp thu nền khoa học công nghệ tiến tiến, cập nhật thông tin nhanh, hiểu biết rộng. Tụi tôi ngày ấy thiếu hụt học vấn nên rất ham đọc sách, trong ba lô người nào cũng có sách”.

Thấy tôi vui chuyện, Hoàng kể, ngay những ngày đầu mới vào đơn vị, được thăm bảo tàng, nhà truyền thống, cũng biết ít nhiều lịch sử đơn vị. Rồi nghe cán bộ, chiến sĩ cũ kể về công việc đã và đang làm của trung đoàn, có những phần việc đang thực hiện ở tận cao nguyên xa xôi thì ngạc nhiên đến hồi hộp. Chính sự ngạc nhiên làm cho Hoàng và các bạn thấy hấp dẫn với công việc phía trước, mong huấn luyện chuyên ngành mau để đi làm nhiệm vụ.

Lính công binh phải huấn luyện chuyên ngành rất kỹ, ví như bơi lội chẳng hạn, phải thành thạo vì người lính công binh không thể chết đuối vì không biết bơi. Cho nên khu doanh trại dành ra khoảng đất rộng để tạo hồ lớn đủ tiêu chuẩn cho bộ đội huấn luyện bơi lội. Thao trường huấn luyện cũng bề bộn với mô hình phà, cầu phao, bãi cài và tháo gỡ bom mìn, chất nổ. Công việc huấn luyện nặng, đòi hỏi kỹ năng giỏi vì tiếp xúc với chất nổ sơ suất một chút là phải trả giá bằng tính mạng như thường.


Doanh trại của trung đoàn cũng mang chất công binh, nhà cửa, doanh trại vững trãi, đường sá rộng láng bóng, trong các khuôn viên nhỏ, thấp thoáng bên gốc cổ thụ, khóm cây là tượng hình trâu, hươu nai, mỗi con một dáng vẻ rất có thần, tạo nên không gian mang hồn cốt của làng quê Việt Nam mình. Tuy vậy, trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ họ đều nói về công việc đang làm ở bản làng, vùng sâu vùng xa nào đó.

Công việc của bộ đội công binh luôn lặng thầm, nghe kể bao nhiêu cũng không chán vì người kể chính là nhân chứng mở những cung đường, bắc cầu mới, tháo gỡ bom mìn cho những ngôi nhà, mái trường, khu công nghiệp mọc lên, đòi hỏi phải có lòng quả cảm, trí thông minh, khiến người nghe hết sức hồi hộp.

Mấy năm trước đơn vị này còn giúp đồng bào ở Bến Tre khắc phục hậu quả lũ lụt, xây dựng đường liên thôn, nhà tình nghĩa. Tôi đã được gặp anh Lê Lương Quyền, Chính ủy trung đoàn nhiều lần, lần nào nghe anh kể chuyện cũng rất hấp dẫn vì anh là người trực tiếp thực hiện những công việc ấy.

Năm ngoái, tôi đến thăm và nghe anh nói về chuyện lo cái ăn, cái mặc cho bộ đội thời bão giá, và hôm nay là chuyện người lính công binh thời bình. Anh bảo, hiện nay chúng tôi đang cùng các đơn vị bạn làm đường tuần tra dọc biên giới ở Tây Nguyên, tết Nguyên Đán vẫn thi công cho kịp hoàn thành trước khi mùa mưa đến.


Anh Quyền mở chiếc laptop, giới thiệu cho chúng tôi xem những tấm ảnh anh chụp trong chuyến đi biên giới về. Làm đường ở vùng Chư Blong, thuộc tỉnh Gia Lai là vùng núi non hiểm trở, độ dốc rất cao, bộ đội đi cắm mốc đường, phải leo núi, luồn rừng cả ngày trời, rồi bạt sườn núi, san mặt bằng để xe qua được. Có máy húc nhưng vẫn phải thi công bằng sức người là chính. Bộ đội phải tự vận chuyển vật liệu, xi măng, nước lên các đỉnh núi.

Làm đường bê tông sử dụng lâu dài, phải đủ độ dày, độ phẳng, độ lượn, và bề mặt phải nhám, nếu trơn, xe trượt bánh là nhào xuống vực sâu liền. Khí hậu khắc nghiệt nên tập trung thi công từ lúc ba giờ chiều cho đến chín giờ đêm để tránh cái nắng thiêu đốt của cao nguyên.

Đây sẽ là tuyến giao thông bằng bê tông dài nhất Việt Nam, phục vụ cho lợi ích quốc phòng, an ninh quốc gia, phát triển kinh tế cho đồng bào các dân tộc dọc đường biên. Tương lai gần, sẽ có những cửa khẩu giao thương hàng hóa tiểu ngạch, không chỉ ta mà các nước bạn cũng được hưởng lợi từ con đường chiến sĩ công binh đang ngày đêm thi công này.


Khi đến trung đoàn chúng tôi được gặp trung tá Bùi Xuân Thành, trung úy Lê Văn Lộc của tổ tháo gỡ bom mìn, chất nổ. Anh Thành được đồng đội gọi là Thành cẩn thận vì đức tính rất cẩn thận. Làm nghề này nếu sơ suất một chút là mất mạng như chơi. Thành nói vậy. Anh từng cùng đồng đội rà tháo bom mìn để xây dựng khu công nghiệp Nhơn Trạch.

Cuộc chiến tranh lùi xa, đất đai đã biến dạng, trước khi rà tháo là phải phát cỏ gai, cây cối. Có khi mìn nổ ngay khi bộ đội đang phát quang mặt bằng. Nhơn Trạch là vùng địch để lại rất nhiều chất nổ, mìn claymo, nhiều nhất là mìn chống tăng và đạn phốt pho. Đạn phốt pho rất nguy hiểm, đào lên bắt không khí là cháy nổ tức khắc. Các loại vật nổ khác như lựu đạn đã rút chốt, đạn M79 cầm không đúng cách cũng nổ.

Sau mấy tháng rà tháo, đại đội của Thành đã làm sạch một vùng đất an toàn cho các đơn vị thi công. Đến nay Nhơn Trạch thành khu công nghiệp, khu chế xuất hàng hóa lớn nhất vùng. Sau đó, Thành lại dẫn đơn vị về miền Tây rà tháo bom mìn. Rà tháo bom mìn ở vùng sông nước rất cơ cực, phải ngăn rạch, tát cạn nước mới dùng máy dò được.

Khi có bom, mìn phải đào cẩn thận vì bùn nhão, xẻng cuốc dễ chạm vào chất nổ. Loại mìn nào khó gỡ nhất? Nghe tôi hỏi, Thành đáp: “M79, bom bi, mìn do lính diệt chủng Pôn Pốt chế tác, vỏ kíp nổ bằng inốc, không phân hủy theo thời gian”. Đáp vậy rồi Thành nói thêm, nhưng là lính công binh, khó mấy, dù phải hy sinh cũng phải làm, mình không tháo ngòi nổ bom mìn thì ai tháo?

Tôi hỏi tiếp: “Vậy bà xã anh có biết sự nguy hiểm mà anh phải đối mặt không?”. Thành đáp: “Có chứ! Cô ấy lo lắm. Mỗi khi tôi đi làm nhiệm vụ là cô ấy mất ăn mất ngủ. Nhưng là vợ bộ đội, cô ấy đành chấp nhận. Tôi rất thương nhà tôi và chỉ biết động viên thôi anh ạ”.


Bùi Xuân Thành và đồng đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong nhiều năm qua, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Nhưng giờ đây, ngắm khuôn mặt của tuổi bốn mươi đã nhiều nếp nhăn, tóc có sợi bạc, tôi hiểu được nỗi gian nguy, căng thẳng mà các anh đã trải qua. Chính ủy Lương cho biết, nhiệm vụ của các chiến sĩ tháo gỡ bom mìn sắp tới còn rất nhiều vì nơi trung đoàn làm nhiệm vụ là những vùng đất ác liệt nhất trong chiến tranh, chưa kể, mỗi khi nhân dân phát hiện ra bom mìn là lại gọi các anh tới. Và các anh nghe tiếng gọi của nhân dân là lập tức lên đường ngay.

*
* *

Trong suốt mười năm chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ Quốc tế, sư đoàn 9 luôn đảm đương những nhiệm vụ quan trọng nhất của Binh đoàn Cửu Long. Trong các chiến dịch lớn, sư đoàn là mũi đột kích hướng chính diện, rất ít khi là đơn vị dự bị của chiến dịch. Bây giờ, sư đoàn là đơn vị điểm của toàn quân.

Khi chúng tôi đến thì sư đoàn vừa hoàn thành cuộc diễn tập hợp đồng quân binh chủng, có sự phối hợp của không quân, xe tăng, pháo binh. Địa điểm diễn tập cách nơi đứng chân gần hai trăm cây số, bộ đội hành quân bộ, ngày đi, đêm nghỉ, kết hợp làm công tác dân vận. Phương án diễn tập có qui mô lớn này mở đầu bằng máy bay đánh bom phủ đầu sở chỉ huy địch, pháo binh bắn dọn đường, xe tăng càn lướt để bộ binh tiến lên đánh chiếm mục tiêu. Đây là cuộc diễn tập lớn nhất từ trước đến nay và sư đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đầu năm đã mở màn bằng một cuộc diễn tập hoành tráng như vậy là rất đáng mừng. Đợt bổ sung chiến sĩ mới chất lượng sức khỏe khá cao, tuy vậy trình độ học vấn chưa được như mong muốn, trình độ văn hóa cấp 2 vẫn còn chiếm đa số. Qua đây, chúng ta đặt câu hỏi, phải chăng công tác tuyển quân chưa thật tốt hay môi trường quân đội chưa thật sự thu hút trí thức trẻ lập nghiệp lâu dài? Sư đoàn trưởng Phạm Xuân Trạo chia sẻ với chúng tôi về công việc xây dựng đơn vị. Anh bảo:

- Cán bộ, đặc biệt là cấp phân đội phải thật sự giỏi mới xây dựng được đơn vị mạnh. Rất nhiều cán bộ trẻ tuổi đời, nhất là những người tuyển từ phổ thông vào trường sĩ quan, có thế mạnh về học hành bài bản nhưng kinh nghiệm chỉ huy, cọ xát thực tế còn hạn chế, ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng đơn vị. Đó là điều cần nhìn ra và cần khắc phục.


Cách đây không lâu, tôi được về sư đoàn này và được nghe đồng chí Phạm Xuân Thuyết, sư đoàn phó tham mưu trưởng, nói về công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Theo anh Thuyết, huấn luyện chiến sĩ mới phải rất tỉ mỉ, khoa học, chống hình thức đại khái. Phải tạo cho chiến sĩ mới tác phong chính qui thì mới xây dựng được đơn vị chính quy. Cán bộ thì phải có trình độ, có trải nghiệm thực sự. Nhiều cán bộ trẻ của sư đoàn đã đạt đến tiêu chuẩn ấy, như đại úy Nguyễn Việt Hồng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4, đã xây dựng đơn vị kiểu mẫu của sư đoàn, trong những đợt đi làm công tác dân vận, giúp dân, được nhân dân khen ngợi, trong đợt diễn tập quân binh chủng vừa qua, chỉ huy đơn vị đánh cửa mở được đánh giá tốt.

Chiến sĩ sư đoàn đa số là con em các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, mang theo nhiều cách sống khác nhau vào bộ đội. Làm sao để tạo cho họ nền nếp thống nhất? Xuống nơi ở của các tân binh, tôi nhận thấy, mới hơn một tháng nhưng chiến sĩ mới đã thay đổi rất nhiều. Chiến sĩ Võ Duy, quê ở Đồng Tháp, nói với tôi: “Cháu lớn lên ở một ấp hẻo lánh, vùng sâu, đàn ông trước nay ham nhậu nhẹt, mở miệng là kèm theo chửi đệm. Vào đơn vị, cháu phải sửa”.

Môi trường sống quân đội ta cũng như ở sư đoàn 9 này không cho phép người lính nói tục. Chiến sĩ trẻ ở đây còn được chú trọng giáo dục về ửng xử văn hóa. Qua những buổi tham quan, học tập truyền thống, giao lưu kết nghĩa với các cơ sở đoàn, chiến sĩ có điều kiện tiếp thu kiến thức văn hóa. Môi trường sống của chiến sĩ phải là môi trường văn hóa, không chỉ với sách báo, phương tiện nghe nhìn mà cả cách ứng xử hàng ngày, nền nếp sinh hoạt trong đơn vị.

Chiến sĩ là chủ nhân của đơn vị, mọi hoạt động cho tới các chế độ đều công khai. Trước kia, thế hệ chúng tôi chỉ biết đến bữa xách bát đũa tới nhà ăn, xong bữa là về. Còn bây giờ, các chế độ, tiêu chuẩn các bữa ăn, món ăn, định lượng đều được ghi lên bảng cho mọi người biết.

Thời hội nhập, thế hệ chiến sĩ trẻ có những quan niệm sống, tiếp thụ, ứng dụng văn hóa khác với thế hệ chúng tôi trước kia. Có những điều trước đây thế hệ chúng tôi coi là cấm kỵ như khiêu vũ chẳng hạn, đến nỗi khi làm nghĩa vụ quốc tế trên đất Chùa Tháp, những đêm múa lâm thôn, chúng tôi hết sức bỡ ngỡ. Bây giờ bộ đội được học khiêu vũ vì họ sinh ra, lớn lên trong một đất nước thanh bình, tiếp nhận nhiều nguồn văn hóa khác nhau nên có nhu cầu đa dạng hơn và đơn vị đã biết đáp ứng phần nào những nhu cầu ấy của họ.

Khi có phong trào xây dựng nông thôn mới, đoàn thanh niên sư đoàn đã đến giúp nhân dân xã Tân Thành, Tân Châu, Tây Ninh cải tạo môi trường sống, làm đường giao thông nông thôn, xây dựng nhà tình nghĩa, khám, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo. “Điều đó giúp cho cán bộ chiến sĩ hiểu và gắn bó mật thiết với nhân dân”, đại tá Phạm Xuân Thuyết, sư đoàn phó tham mưu trưởng nói vậy.


(Khi tôi đang viết bút ký này thì nhận được tin đồng chí Đại tá Phạm Xuân Trạo được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó, tham mưu trưởng binh đoàn, đồng chí Phạm Xuân Thuyết được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 9).

*
* *

Cũng phải đến mười năm, nay tôi mới có dịp trở lại nông trường Đồng Sen của binh đoàn. Gọi là nông trường chứ thực ra biên chế giống như đội sản xuất. Ngày tôi đến nông trường là những ngôi nhà tôn nằm giữa vùng đất rộng lớn loi thoi những đám cây tràm bông vàng, mấy lò nung gạch cung cấp vật liệu cho các đơn vị dựng doanh trại. Bây giờ, biên chế vẫn vậy nhưng đã chuyển đổi sang trồng cao su, mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Môi trường sống đã thay đổi, cảnh quan khác xưa với những lô cao su chạy dài tưởng vô tận. Cao su đang mùa thay lá, chỉ ít ngày nữa là cho mủ, những đống bát đựng mủ đang xếp đống, chờ đợi.

Anh Hùng, giám đốc nông trường còn khá trẻ, vừa đảm nhiệm lãnh đạo “căn cứ hậu cần” của binh đoàn được mấy tháng. Anh vốn là kỹ sư nông lâm chuyên ngành cao su, sau khi tốt nghiệp đại học thì vào bộ đội, phục vụ ở nông trường cho tới nay. Anh là người Bình Định, ít nói, nhưng khi nói về cây cao su, giọng anh hứng khởi, say sưa. Theo anh, trồng cao su ngoài kỹ thuật còn phải có “mẹo” của nghề, từ chọn giống, ươm hạt cho đến cách cạo mủ. Cạo mủ chỉ cần học vài ba ngày là được, nhưng cạo để khỏi ảnh hưởng đến cây, mủ nhỏ vào bát là phải có bí quyết.

Anh Hùng cho biết nông trường Đồng Sen trước kia chỉ trồng tràm, trồng sắn, đốt gạch, chăn nuôi bò, không thu được bao nhiêu, nhiều lúc phải nhờ vào hỗ trợ của binh đoàn. Nhiều nông trường các đơn vị khác phải giải thể, chia nhỏ đất cho từng gia đình và công nhân trở thành nông dân. Chính lúc nông trường đang lâm vào thế sống dở chết dở ấy thì Tư lệnh binh đoàn lúc bấy giờ là Thiếu tướng Nguyễn Minh Chữ đi khảo sát. Sau khi xem địa thế, chất đất, Tư lệnh đưa ra phương án trồng cao su. Lúc ấy, trong Bộ Tư lệnh binh đoàn cũng có người phản đối vì giá cao su thời gian đó còn thấp, trồng cao su năm, sáu năm mới thu hoạch, lấy gì để sống cho tới khi cao su ra mủ? Rồi vốn ở đâu để mua cây giống, phân bón? Nhưng với tính quyết đoán cao của một người chỉ huy từng kinh qua trận mạc, Tư lệnh Nguyễn Minh Chữ ra chỉ thị trồng 100 ha, binh đoàn sẽ cấp vốn ban đầu. Cao su lên rất nhanh, thân mập, da căng nhức những gân gỗ, và đến năm 2002, cho mùa mủ đầu tiên. Đó cũng là lúc giá mủ cao su trên thị trường tăng cao. Có thêm vốn, nông trường cho trồng tiếp số đất còn lại. Bây giờ, mỗi năm nông trường thu được hơn 1.500 tấn mủ. Từ tiền thu được do bán mủ, thu nhập công nhân cao lên, nhiều người dân đến đây xin lập nghiệp, những làng ấp công nhân cao su mọc lên, có trường học, bệnh xá, đời sống người lao động được đảm bảo.

Gần mười năm nay, cao su được giá, đời sống công nhân tốt lên, hầu hết đều tậu được đất vườn, xây được nhà, sắm được xe cộ, máy móc. Dân ở các ấp cũng có vườn, ngoài việc làm cho nông trường còn làm những công việc khác như trồng cây ăn trái, làm nghề xây, nghề mộc, cũng kiếm được khá bộn tiền. Điều đó khiến làng ấp yên vui, không có tệ nạn rượu chè, đánh bạc, nghiện ngập ma túy. Trẻ em được học hành chu đáo, đã có nhiều em trở thành sinh viên đại học. Một thế hệ trí thức mới đã và đang hình thành ở những làng ấp cao su do những chiến sĩ Binh đoàn Cửu Long xây dựng nên trên vùng đất hoang vu này.

*
* *

Tôi lại nhớ đến cuộc trao đổi với đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hoàng, Tư lệnh binh đoàn, một người rất tin vào thế hệ trẻ hôm nay của binh đoàn. Chính cán bộ, chiến sĩ trẻ tạo nên sức sống dồi dào của các đơn vị. Tư lệnh nói vậy. Và, anh cho biết, thế hệ trẻ có trình độ học vấn, tiếp thu được thông tin mới, hơn hẳn lớp cha anh, nhưng công bằng mà nhận xét, có những điều không bằng được thế hệ trước. Đó là bản lĩnh, tính tự lập. Thế hệ chiến sĩ thời chiến tranh bản lĩnh cao, khi một tiểu đội, một tổ chẳng hạn, làm nhiệm vụ chốt chặn hay đi công tác họ đều tự xử lý tốt các tình huống. Chiến sĩ chúng ta bây giờ khó có thể làm được như vậy. Phần lớn chiến sĩ hồi chiến tranh học vấn không cao nhưng luôn tự học hỏi, vậy mà chữ khá đẹp, hành văn trôi chảy, nhiều người làm được thơ, văn. Còn khá đông chiến sĩ hôm nay học vấn khá cao nhưng chữ không đẹp, câu văn nhiều lúc tối nghĩa, thiếu chủ ngữ, vị ngữ. Phải chăng, họ quen thao tác bằng máy vi tính? Tư lệnh đặt câu hỏi vậy và nói vui, có lẽ chúng tôi phải mở cuộc thi rèn văn hay chữ tốt cho chiến sĩ.

Đồng chí Tư lệnh cho biết, nhiệm vụ trọng tâm của binh đoàn là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nhưng công tác tăng gia sản xuất, giúp dân trên địa bàn đứng chân cũng rất quan trọng. Phải xây dựng binh đoàn thành một khối thống nhất, tạo thành sức mạnh tổng hợp, gắn bó mật thiết với nhân dân trên các địa bàn đứng chân, để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào như huấn thị của Đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục trong ngày thành lập binh đoàn: “Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long - phải xây dựng chính qui hiện đại, đoàn kết với nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ để trở thành Binh đoàn phía Nam của Tổ quốc hùng mạnh”.

Binh đoàn và nhiều tiểu đoàn, trung đoàn đã 2 lần được tặng danh hiệu Anh hùng. Gần bốn mươi năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ binh đoàn Cửu Long đã và đang giữ trọn lời thề danh dự từ buổi đầu thành lập cho đến hôm nay một cách xuất sắc

Thành phố Hồ Chí Minh, 15-3-2012
NGUYỄN QUỐC TRUNG




 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo