Trung tướng Phan văn Giang - Tư lệnh Quân khu 1: Tự hào chiến sĩ "Thủ đô gió ngàn"

Thứ ba - 27/01/2015 20:56

 

phan van giang(1)
Trung tướng Phan Văn Giang

Mỗi lần lên Việt Bắc, trong sâu thẳm kí ức tôi lại vang lên những câu thơ đã vô cùng quen thuộc từ thuở học trò: Suối dài xanh mướt nương ngô/ Bốn phương lồng lộng Thủ đô gió ngàn. Nhà thơ Tố Hữu dùng cụm từ Thủ đô gió ngàn quả là gợi cảm và cũng thật chuẩn xác khi nói về Việt Bắc - chiến khu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Nơi ấy, có hang Pác Bó (Cao Bằng), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc sau khi bôn ba tìm đường cứu nước trở về. Những câu thơ của Bác viết về vùng đất này trong những năm tháng cam go còn ngân rung trong lòng chúng ta: Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê Nin, ia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà. Giữa Thủ đô gió ngàn, ở Khuổi Nậm Pác Bó, Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh  ra đời vào ngày 19/5/1941 và tại Khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam - được thành lập vào ngày 22/12/1944. Chưa đầy một năm sau, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ, dân tộc Việt Nam rũ bùn đứng dậy sáng lòa (thơ Nguyễn Đình Thi) làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm Ất Dậu 1945 vĩ đại…

Lịch sử được nhắc lại bằng lòng tự hào, sự tri ân các thế hệ cha anh trên quê hương cội nguồn, cái nôi của Cách mạng và đó chính là nguồn năng lượng quý giá được truyền thổi vào những khởi động mạnh mẽ của lớp cán bộ, chiến sĩ Quân khu 1 hôm nay. Họ đã xứng danh là Bộ đội Cụ Hồ trên vùng đất Thủ đô gió ngàn bằng những công việc cụ thể góp phần rất quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Đất nước, tô thắm thêm truyền thống Trung hiếu – Tiên phong – Đoàn kết – Chiến thắng của lực lượng vũ trang Quân khu 1.

Đó cũng là nội dung chính cuộc trò chuyện giữa các nhà văn Tạp chí Văn nghệ Quân đội với Trung tướng Phan Văn Giang, Tư lệnh Quân khu 1.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Thưa Trung tướng Phan Văn Giang, Thái Nguyên là một trong mười tám tỉnh thuộc Chiến khu 1 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập vào ngày 16/10/1945. Từ đó đến nay ngày 16 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của Lực lượng vũ trang Quân khu 1. Là một người con của vùng đất Thủ đô gió ngàn giàu truyền thống cách mạng, đã từng có mặt trên điểm cao 893 (ở Bản Pát, Cao Chương, Trà Lĩnh) cùng đồng đội bảo vệ biên giới chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, chắc chắn truyền thống lực lượng vũ trang trên quê hương Việt Bắc - Quân khu 1 là điều không thể thiếu trong những bước rèn luyện trưởng thành của cán bộ chiến sĩ Quân khu và cả riêng đồng chí Tư lệnh...

Trung tướng Phan Văn Giang: Điều đó hoàn toàn đúng. Dù lực lượng vũ trang chúng ta phát triển tới đâu, hiện đại chính quy đến mấy thì vẫn phải giữ gìn, phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, nghệ thuật dựng nước giữ nước của ông cha. Tôi rất ấn tượng với những mốc son lịch sử của lực lượng vũ trang Việt Bắc – Quân khu 1. Đây là miền non sông nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc; phía Đông và phía Nam giáp Quân khu 3, Thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp Quân khu 2; phía Bắc giáp Trung Quốc. Do điều kiện địa lí, lịch sử Việt Bắc – Quân khu 1 đã nhiều lần được điều chỉnh địa giới hành chính với nhiều tên gọi khác nhau như Chiến khu 1, Liên khu 1, Liên khu Việt Bắc, Quân khu Việt Bắc và nay là Quân khu 1.

Nói về truyền thống Quân khu không thể không nhắc tới những dấu mốc lịch sử quan trọng. Đó là, ngày ra đời của Quân khu 1 như đồng chí đã nói ở trên. Ngày 16/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh các chiến khu trong cả nước, trong đó có Chiến khu 1 gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Quảng Yên, Lai Châu, Sơn La và Châu Mai Đà (Hòa Bình). Bộ Chỉ huy và cơ quan Chiến khu đóng tại Kép Le xã Đồng Quang (nay thuộc phường Hoàng Văn Thụ), thành phố Thái Nguyên. Ngày 28/11/1946, Chính phủ quyết định chia Việt Bắc thành 4 chiến khu (1, 10, 12, 14). Ngày 25/1/1948, Chủ tịch Hồ chí Minh kí sắc lệnh sáp nhập Chiến khu 1 và Chiến khu 12 thành Liên khu 1; Chiến khu 10 và Chiến khu 14 thành Liên khu 10. Ngày 4/11/1949, Liên khu 1 và Liên khu 10 sáp nhập thành Liên khu Việt Bắc. Ngày 3/6/1957, Quân khu Việt Bắc ra đời và ngày 29/5/1976, Chủ tịch nước kí sắc lệnh thành lập Quân khu 1 trên cơ sở sáp nhập Quân khu Tây Bắc và Quân khu Việt Bắc…

Truyền thống vẻ vang của Quân khu 1 được thể hiện ngắn gọn trong 8 chữ vàng Trung hiếu, Tiên phong, Đoàn kết, Chiến thắng.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Trải qua các giai đoạn chống Pháp, chống Mĩ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù mang các tên khác nhau nhưng lực lượng vũ trang Việt Bắc – Quân khu 1 vẫn luôn phát huy truyền thống vẻ vang, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Điều đó chắc chắn được minh chứng qua những đóng góp to lớn của lực lượng vũ trang Quân khu 1 trong 70 năm qua...

Trung tướng Phan Văn Giang: Không dễ nói hết những đóng góp, những chiến công, kì tích cũng như những hi sinh to lớn của nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Bắc - Quân khu 1 trong các cuộc chiến tranh yêu nước, tôi chỉ xin tóm tắt một vài ý chính. Trong kháng chiến chống Pháp, Việt Bắc được chọn làm An toàn khu, là Thủ đô kháng chiến của cả nước, tôi còn nhớ mấy câu thơ của Tố Hữu viết về điều này: Ở đâu u ám quân thù/ Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi/ Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền… Quân và dân Việt Bắc đã lập nhiều chiến công to lớn, bảo vệ vững chắc các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, đồng thời góp phần tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Lực lượng vũ trang Quân khu 1 đã cùng với nhân dân cả nước chiến đấu ngoan cường, sáng tạo, trực tiếp hoặc phối hợp với các địa phương và Bộ Tổng chỉ huy mở nhiều chiến dịch tiến công địch, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Trong kháng chiến chống Mĩ, lực lượng vũ trang Quân khu 1 chi viện tích cực cho chiến trường miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế. Việt Bắc là một trong những đầu mối giao lưu quốc tế của cả nước, nơi tiếp nhận viện trợ của bạn bè thế giới, giúp nhân dân ta đánh Mĩ. Ngoài ra, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ra miền Bắc, quân và dân Việt Bắc đã phối hợp với các lực lượng của Bộ bắn rơi 385 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc B52… Sau năm 1975, Quân khu 1 tổ chức tốt lực lượng, nâng cao cảnh giác, chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc…

Chiến sĩ đoàn Xe tăng 409, Quân khu 1 - Ảnh: Duy Hiệp

Nhà văn Nguyễn Xuân Thủy: Quân khu 1 có những tỉnh là vùng đất phên dậu ở phía Bắc nước ta. Đặc điểm địa lí đó cùng những biến cố, thăng trầm lịch sử trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã minh chứng cho tầm vóc, vị thế vô cùng quan trọng của vùng đất này. Là một người lính từng có mặt trên điểm chốt biên cương phía Bắc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc thời đang còn rất trẻ, chắc đồng chí Tư lệnh rất thấm thía điều đó. Ở thời nào cũng vậy, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc luôn luôn song hành với công cuộc xây dựng đất nước. Với cương vị của mình, đồng chí có cái nhìn như thế nào về thế trận toàn dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay ở vùng đất địa đầu Tổ quốc?

Trung tướng Phan Văn Giang: Tháng 5/2014 vừa rồi tôi đã đi thị sát một số tỉnh cực Bắc, đi đến 27 đồn biên phòng qua chặng đường dài gần 600 cây số, gặp gỡ, chuyện trò với nhiều cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Điều làm ấm lòng tôi nhất có lẽ là lòng tin vào Đảng, Quân đội của nhân dân các dân tộc vùng biên. Còn nhiều khó khăn thiếu thốn lắm nhưng người dân biên giới vẫn sát cánh cùng bộ đội gắn bó, giữ gìn bờ cõi non sông. Có huyện ở biên giới đã bỏ kinh phí ra xây dựng 2 trận địa phòng không. Nhân dân ở Đình Lập (Lạng Sơn) đã góp củi cho bộ đội Đoàn 346 nấu ăn khi đi diễn tập. Vui hơn, có nơi dân còn mổ lợn “khao quân” đi diễn tập nữa đấy. Nói ra điều này trong thời kinh tế thị trường chắc nhiều người không tin, họ bảo chúng tôi tô hồng sự thật nhưng cuộc sống ở vùng biên thực tế là thế đấy, nhân dân là thế đấy, chưa bao giờ cái tốt đẹp, điều tốt đẹp vắng bóng, lụi tàn. Thế trận toàn dân bảo vệ Tổ quốc được thiết lập, xây dựng, củng cố ngày thêm vững chắc với phương châm mang tầm chiến lược: Làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh. Khi kẻ thù xâm lược đến thì mỗi làng thôn là một trận địa, mỗi người dân là một chiến sĩ chống giặc. Tuy nhiên, chúng tôi luôn coi trọng và thực hiện tốt công tác quốc phòng, công tác quân sự. Ngay từ đầu năm 2014, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tổ chức hội nghị với cán bộ chủ chốt 6 tỉnh trên địa bàn để tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị, Nghị định 152/2007 của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ, Chỉ thị số 06/2011 của Tổng Tham mưu trưởng về quy hoạch xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ. Quân khu tổ chức giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh (QPAN) cho 280/280 trường, với tỉ lệ sinh viên học sinh tham gia 99,51%. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức QPAN cho các đối tượng được 111 lớp (có 3 lớp dành cho già làng, trưởng bản) với 10.179 lượt người tham gia. Thực hiện đăng kí công dân trong độ tuổi nghĩa vụ dân quân tự vệ (DQTV) đạt 15,86% so với tổng dân số. Tổ chức biên chế lực lượng DQTV đạt 1,8% so với tổng dân số. Toàn Quân khu hiện có 1960 cơ sở DQTV, trong đó có 95,2% hoàn thành chương trình huấn luyện năm. Về công tác quân sự, Quân khu 1 tích cực tổ chức luyện tập các phương án, do vậy nhận thức và khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội được nâng lên. Quân khu tổ chức thi công các công trình CZ3, CZ4, Sở chỉ huy QK-05, căn cứ chiến đấu, tham gia làm đường tuần tra biên giới, đường vành đai Trường bắn TB1 đạt chất lượng tốt. Ngoài ra, Quân khu còn hoàn thành nhiệm vụ làm đường vào khu di tích lịch sử ở xã Tam Kim, Hoa Thám (Nguyên Bình, Cao Bằng), rà phá bom mìn, vật nổ trong dự án 120, 504 tại Lạng Sơn, Cao Bằng. Tổ chức huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu cho quân dự bị động viên đúng kế hoạch. Nội dung giáo án huấn luyện không chung chung mà tùy thuộc vào vị trí địa lí, địa hình từng nơi và cũng theo từng đối tượng, ví dụ với quân chủ lực, dân quân tự vệ phải có tính chuyên sâu. Trong thời bình, công tác huấn luyện phải xoay quanh trục kinh tế là như thế.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Không phải chỉ thời chiến tranh, Quân đội mới coi trọng công tác dân vận mà thời bình cũng thế. Tình cảm quân dân đã đi vào văn học nghệ thuật với những hình tượng rất đẹp. Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân, đó là điều chúng ta thường hay nhắc tới. Qua những lần đi thực tế vùng cao, vùng sâu ở địa bàn Quân khu 1, các nhà văn Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã được nghe dân khen ngợi bộ đội Quân khu 1. Xin đồng chí Tư lệnh điểm qua mấy nét về tình quân dân trên quê hương cách mạng?

Trung tướng Phan Văn Giang: Địa bàn Quân khu 1 hiện nay gồm 6 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh. Trong đó, có tất cả 59 huyện, thị xã, thành phố với 1080 xã, phường, thị trấn. Cao Bằng, Lạng Sơn tiếp giáp với Trung Quốc suốt chiều dài 564 kilômét đường biên giới. Diện tích tự nhiên của 6 tỉnh trên địa bàn xấp xỉ 28 nghìn cây số vuông, dân số 5,5 triệu người với 25 dân tộc anh em cùng chung sống. Công tác dân vận bao gồm nhiều nội dung công việc được Quân khu triển khai đồng bộ, có hiệu quả thiết thực. Trong năm 2014, chúng tôi đã tổ chức đưa 25 đại đội đến 18 cơ sở địa phương huấn luyện dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận; 23 tổ, đội công tác về địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo hay cơ sở có vụ việc phức tạp làm công tác nắm địa bàn, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân. Trong thời gian qua, ở huyện Ba Bể (Bắc Kạn) và Bảo Lâm (Cao Bằng) xuất hiện việc truyền đạo trái phép của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, qua tuyên truyền, vận động của bộ đội, nhân dân đã hiểu rõ bộ mặt thật của tổ chức phi pháp đó. Nhờ phối hợp chặt chẽ với bên công an, các cấp ủy, chính quyền địa phương mà tình hình an ninh chính trị trên địa bàn được giữ vững. Năm qua Quân khu 1 đã đóng góp gần 200 nghìn ngày công giúp đỡ địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, khắc phục hậu quả thiên tai… Nhân dịp kỉ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, theo kế hoạch của Tổng cục Chính trị, Quân khu đã triển khai các hoạt động và xây dựng một số công trình giúp 2 xã Tam Kim và Hoa Thám (huyện Nguyên Bình, Cao Bằng) như tham gia thi công đường giao thông từ đèo Cao Bắc vào Khu di tích rừng Trần Hưng Đạo dài 22,39 kilômét, đến nay đã hoàn thành; công trình Nhà trưng bày, đón tiếp khách ở Khu di tích rừng Trần Hưng Đạo cũng cơ bản xong… Chúng tôi cũng giúp dân làm Nhà 100 đồng (tiền Nhà nước hỗ trợ là 50 triệu đồng/nhà). Quân khu cũng đã bỏ tiền ra làm nhà nội trú cho 60 em học sinh các dân tộc từ các xã ở lại huyện để đi học tại huyện Bảo Lâm. Một điều quan trọng chúng tôi rút ra là, muốn thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy làm Dân vận khéo chúng ta phải nắm chắc phong tục, tập quán của đồng bào địa phương. Dù mình bỏ công bỏ của ra giúp nhưng phải hỏi xin ý kiến địa phương và chính các cháu mà mình muốn giúp đỡ đấy, chứ không, khi nhà xây xong mà các cháu không muốn vào ở thì cũng không được. Để làm tốt công tác dân vận, Quân khu cũng đã khuyến khích và mở lớp dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ chiến sĩ. Năm qua Quân khu cũng đã tổ chức thăm và tặng quà cho 23.117 đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán và các ngày lễ lớn với số tiền gần 19 tỉ đồng; các đối tượng thương binh, thân nhân liệt sĩ trong và ngoài Quân đội nhân dịp 27/7 với số tiền 212 triệu đồng. Quân khu cũng triển khai tốt việc xây dựng “Đề án tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; thực hiện chương trình “Toàn quân xây dựng Nhà tình nghĩa, Nhà đồng đội” theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng…

Nhà văn Nguyễn Xuân Thủy: Chúng tôi thấy Quân khu 1 đã làm tốt công tác dân vận. Bộ đội luôn thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ dân trên nhiều mặt. Tuy nhiên, chúng tôi cũng biết rằng đời sống của nhân dân cũng như của nhiều gia đình sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng và cả chiến sĩ thuộc Quân khu cũng đang còn khó khăn so với mặt bằng chung của cả nước. Quân khu có những việc làm gì để tham gia cùng giảm bớt một phần khó khăn ấy, thưa đồng chí Tư lệnh?

Trung tướng Phan Văn Giang: Bài toán kinh tế bao giờ cũng khó. Đất nước mình vừa mới đạt ngưỡng thu nhập trung bình trên thế giới nhưng nhìn chung đời sống nhân dân còn muôn vàn khó khăn. Với vùng trung du, miền núi, vùng cao như Quân khu 1 thì sự khó khăn càng lớn hơn. Các nhà văn biết không, có huyện ở Cao Bằng năm 2013, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn đến 46,1%, có xã như Hoa Thám (Nguyên Bình) hộ nghèo chiếm 79,4%... Cuộc chiến đấu chống đói nghèo chẳng đơn giản, dễ dàng chút nào. Ông cha ta đã có câu: Người giàu trồng lau ra mía, kẻ khó trồng củ tía ra củ nâu. Cán bộ, chiến sĩ ta cũng đang còn nhiều khó khăn trong đời sống lắm. Tôi lên Đồn biên phòng Cô Ban, biết được một trường hợp sĩ quan ta có 2 đứa con mắc bệnh máu trắng, ở đơn vị khác lại có đồng chí lái xe cấp bậc trung úy chuyên nghiệp, vợ chưa có việc làm, con thì nhỏ, hoàn cảnh khó khăn vô cùng… Chúng tôi vừa động viên anh em về tinh thần, vừa cố gắng tạo mọi điều kiện để giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ giảm bớt khó khăn về kinh tế. Cái khó nhất với anh em cán bộ bây giờ là nhà ở. Đồng lương sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp hiện tại khó dành dụm, tích lũy để mua được nhà. Giải quyết vấn đề này, ngoài nhà công vụ, Quân khu cũng đã có dự án xây nhà chung cư cho anh em thuê giá rẻ hoặc chuyển nhượng khi đủ điều kiện. Hiện nay khu nhà chung cư của Bộ Chỉ huy quân sự Thái Nguyên đã được đưa vào sử dụng, dự án này vẫn đang tiếp tục triển khai ở các tỉnh khác.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Tôi có nghe câu này: “Một binh nhì có quyền mơ ước trở thành đại tướng”. Với đồng chí Tư lệnh, qua tìm hiểu tôi biết vốn gia cảnh khó khăn, 18 tuổi từ quê hương Thái Nguyên đi bộ đội (1978), 19 tuổi tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, 23 tuổi mồ côi cha... Bây giờ đã là một trong những vị tướng trẻ của Quân đội ta nhưng không hiểu khi bước chân vào quân ngũ, chàng trai Phan Văn Giang có ước mơ trở thành tướng lĩnh hay không? Trong mấy chục năm đời quân ngũ, kỉ niệm nào đáng nhớ nhất với đồng chí Tư lệnh?

Trung tướng Phan Văn Giang (cười): Cảm ơn nhà thơ đã nắm tương đối chắc sơ yếu lí lịch của tôi và đặt cho tôi một câu hỏi khá riêng tư. Thời trẻ, tôi cũng đã nghe tới câu nhà thơ vừa nói, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ có ước mơ đi bộ đội để thành tướng, chứ đừng nói đến đại tướng nhé... (cười). Tuy nhiên, tôi thích câu nói đó vì tôi cũng nghĩ tuổi trẻ nên có những ước mơ, khát khao đẹp đẽ để phấn đấu, vươn tới. Cũng như các anh, các bạn ở đây khi vào đời chắc cũng ước mơ trở thành nhà thơ nhà văn, đúng không nào?

Kỉ niệm đời lính thì nhiều, vui có, buồn có nhưng tôi chỉ kể lại hai kỉ niệm nhỏ liên quan đến chữ trường đó là chiến trườngnhà trường. Kỉ niệm chiến trường ấy là, khi vào bộ đội, tôi là chiến sĩ thông tin. Năm 1979 tôi có mặt ở điểm cao 893 Bản Pát. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc diễn ra vô cùng ác liệt, đối thủ của ta cậy đông quân áp dụng chiến thuật đầu nhọn đuôi dài, lấy thịt đè người, hùng hổ ào lên. Bộ đội ta chiến đấu rất ngoan cường nhưng súng còn mà đạn đã hết, phải rút lui theo lệnh của trên. Địch bắn theo rát rạt, nhiều đồng chí hi sinh… Sự khốc liệt của chiến tranh, những mất mát hi sinh của đồng đội và nhân dân vẫn còn ám ảnh tôi đến bây giờ. Còn kỉ niệm về nhà trường, tháng 11/1979, đúng Ngày Nhà giáo Việt Nam, tôi được trên cho đi ôn văn hóa để thi vào Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp. Tháng 8/1980, tôi được gọi vào Trường Cao đẳng Tăng - Thiết giáp để học nhưng chưa kịp học thì lại được gọi vào Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp. Lúc đó mới 20 tuổi, vào trường tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy người ta gọi nhau bằng Quê. Người này “Quê ơi”, người khác cũng “Quê ơi!”. Tôi thầm thắc mắc, “Trời, trường này sao lắm người tên Quê thế nhỉ?”. Hỏi ra mới biết, cánh lính tăng thiết giáp nhà ta dùng từ quê thay cho đồng hương. Nhưng vui nhất là chuyện tập đội ngũ, tôi đi sai chân nhưng không tài nào đổi được, chán ơi là chán. Chỉ huy phải cho ra khỏi hàng tập riêng, vì trước đó ở trên chốt toàn lo oánh nhau, có tập đội ngũ bao giờ đâu. Thế rồi đâu cũng vào đấy, khi kiểm tra điều lệnh tôi đạt 9,5 điểm, cao nhất khóa. Cũng xin được “khoe” với các nhà văn điều này, tốt nghiệp khóa học ấy, tôi được thay mặt 200 học viên đọc lời tuyên thệ trước cờ… Những kỉ niệm đầu đời ấy tôi nghĩ người lính nào cũng có, dù giản dị nhưng nó sẽ đi theo suốt cuộc đời.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Vâng! Thật thú vị khi được đồng chí Tư lệnh chia sẻ những câu chuyện đời lính giản dị nhưng đáng trân trọng. Chắc chắn là còn nhiều chuyện hay nữa, nhưng có lẽ hẹn đồng chí Tư lệnh vào một dịp khác. Xin cảm ơn đồng chí về cuộc trò chuyện cởi mở này!

                                     

                                                  Nguyễn Hữu Quý ghi

 

 

 



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo