Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải - Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng: Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí

Thứ sáu - 02/01/2015 12:00
Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải

Những biến động của tình hình thế giới vào cuối những năm tám mươi của thế kỉ trước đã đặt đất nước Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam trước một thách thức to lớn của lịch sử, đặt ra trước Đảng, Nhà nước và Quân đội một yêu cầu lớn lao và cấp thiết, đó là cần phải đổi mới tư duy ở tầm chiến lược trong đó có tư duy chiến lược về quân sự, quốc phòng. Đó cũng là tiền đề dẫn đến sự ra đời của Viện Chiến lược Quân sự (nay là Viện Chiến lược Quốc phòng) vào ngày 11 tháng 1 năm 1990 với người lãnh đạo đầu tiên là cố Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo.

Ở tuổi 25, những người làm công tác nghiên cứu chiến lược quốc phòng hiện đang làm gì? VNQĐ xin dành cuộc đối thoại đầu tiên của năm 2015 này cho người lãnh đạo cao nhất của Viện Chiến lược Quốc phòng hiện nay - Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải.

PV: Thưa đồng chí Viện trưởng! Toàn quân chúng ta vừa đón một lễ trọng, kỉ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, và khi Quân đội ta ở tuổi 70 thì Viện Chiến lược Quốc phòng cũng chuẩn bị bước sang tuổi 25, nghĩa là ở mốc kỉ niệm 45 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh dấu sự ra đời của một cơ quan đặc biệt mang tên Viện Chiến lược Quân sự. Đồng chí Viện trưởng có thể cho bạn đọc VNQĐ chúng tôi biết về hoàn cảnh ra đời của Viện?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Từ đầu những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới đã diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ; chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào. Thế giới rơi vào khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc diễn biến phức tạp. Ở Việt Nam, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh những thuận lợi và thành tựu đạt được, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế - xã hội rơi vào trì trệ, khủng hoảng. Nước ta bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận, chiến tranh biên giới xảy ra…

Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải đổi mới mạnh mẽ, cơ bản cách nghĩ, cách làm, mà trước hết là đổi mới tư duy trên các lĩnh vực, trong đó có tư duy về quân sự, quốc phòng. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ trương đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược quốc phòng; hình thành cơ quan nghiên cứu chiến lược trực thuộc Bộ làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị có liên quan, tập trung nghiên cứu, cung cấp các luận cứ khoa học, tham mưu đề xuất các quyết sách, làm cơ sở cho hoạch định đường lối và chỉ đạo, điều hành sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Do đó, ngày 11 tháng 1 năm 1990, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 25/QĐ-QP về việc tổ chức Viện Chiến lược Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Viện có chức năng: “là cơ quan nghiên cứu, đề đạt các kiến nghị và tư vấn cho Đảng Uỷ Quân sự Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng những vấn đề có tính chất chiến lược”. Ngày 25 tháng 4 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số 616/TTg tổ chức lại Viện Chiến lược Quân sự thành Viện Chiến lược Quốc phòng.

Sự kiện Viện Chiến lược Quân sự ra đời thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đối với công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược quốc phòng. Sự ra đời của Viện và một số cơ quan, đơn vị khác, khẳng định một nguyên tắc: hình thành tổ chức mới phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Chúng tôi không dám nhận là “một cơ quan đặc biệt” nhưng Viện ra đời vào mùa xuân, như lời dạy của Bác: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ” cũng là điều đặc biệt.

PV: Ngay từ ngày đầu thành lập, việc lựa chọn cán bộ chủ chốt của Viện dường như đã được “chọn mặt gửi vàng” thưa đồng chí Viện trưởng?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Tôi nghĩ điều đó xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Viện. Ngay từ khi thành lập, để tạo điều kiện cho Viện thực hiện nhiệm vụ, Bộ Quốc phòng đã quy định các cơ quan chức năng khác có trách nhiệm cung cấp tình hình và số liệu cho Viện; đồng thời lựa chọn, điều động các tướng lĩnh, nhà khoa học, cán bộ chủ trì có trình độ lí luận và kinh nghiệm thực tiễn từ Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) và các cơ quan chiến lược về xây dựng Viện. Có thể nói, những cán bộ đầu tiên của Viện đúng là thế hệ cán bộ “vàng”, tiêu biểu như Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo (khi ấy đang là Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao) được điều động về làm Viện trưởng, Thiếu tướng Đoàn Chương (khi ấy đang là Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội), Trung tướng GS,TS Đỗ Trình và Trung tướng GS, TS Phạm Hồng Sơn (khi ấy đang là Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao) về làm Phó Viện trưởng… Có lẽ từ việc lựa chọn đúng người đúng việc ấy mà ngay sau khi thành lập, Viện đã triển khai nghiên cứu những nhiệm vụ tầm quốc gia như: chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, đề tài “Đối tượng - đồng minh”… Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.09: “Những luận cứ khoa học của Chiến lược quốc phòng - an ninh trong giai đoạn mới”.

Những thế hệ cán bộ tiếp nối sau này của Viện cũng được Bộ Quốc phòng lựa chọn kĩ lưỡng trước khi điều động về nắm giữ những trọng trách. Với vai trò là cơ quan nghiên cứu, đề đạt các kiến nghị và tư vấn cho Quân Ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những vấn đề có tính chiến lược, đồng thời với trình độ chuyên sâu, kinh nghiệm thực tiễn, thì sự năng động, nhanh nhạy trong tư duy, phong cách làm việc cũng là một trong những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu chiến lược. Nhiều cán bộ lãnh đạo của Viện đã trải qua hoạt động thực tiễn trên các cương vị khác nhau, trong đó có đồng chí từng giữ những trọng trách như Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, Tư lệnh quân khu, Tư lệnh quân đoàn, Cục trưởng Cục Tác chiến…

PV: Chúng tôi có nghe một câu nói về những người làm công tác chiến lược quốc phòng rằng, “làm chiến lược không thể ngồi trong nhà bói như thầy bói”, tức là vai trò không thể thiếu của hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc phòng và thông tin đối ngoại. Bộ Chính trị (khoá XI) đã ra nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế; Quân ủy trung ương cũng ban hành Nghị quyết số 806 -NQ/TW ngày 31/12/2013 về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Đồng chí Viện trưởng có thể chia sẻ một chút về mảng công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về quốc phòng của Viện?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Đúng như vậy. Ngoài nhiệm vụ nghiên cứu về hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, năm 2012, Viện Chiến lược Quốc phòng được Bộ giao nhiệm vụ tham gia công tác đối ngoại quốc phòng trên một số lĩnh vực. Trong những năm qua, được sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Viện Chiến lược Quốc phòng đã khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, nhất là công tác đối ngoại quốc phòng và nghiên cứu quốc tế. Có thể nêu một số kết quả nổi bật của Viện như:

Chủ trì tổ chức Hội nghị các viện nghiên cứu quốc phòng, an ninh ASEAN lần thứ 3 (NADI 3), đón tiếp và làm việc với nhiều đoàn nghiên cứu khảo sát của nước ngoài, tham gia các đoàn công tác nước ngoài của Bộ Quốc phòng, làm trưởng đoàn các đoàn công tác tham dự hội thảo, hội nghị theo nhiệm vụ Bộ giao, dự các Đối thoại quốc phòng như: Đối thoại quốc phòng quốc tế Giacacta, Diễn đàn Putrajaya, Đối thoại quốc phòng Xơ Un lần thứ 3, Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 5 tại Trung Quốc. Viện cũng tham gia Ban chỉ đạo hội nhập quốc tế về quốc phòng, Ban hội nhập kinh tế quốc tế Bộ Quốc phòng…

Tổ chức nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đối ngoại quốc phòng, tiêu biểu như: Nghiên cứu vấn đề Biển Đông trong quan hệ Trung Quốc - Mĩ - ASEAN và tác động của nó đến cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; Dự báo quan hệ Trung - Mĩ, tác động đến quốc phòng Việt Nam, những đối sách chủ yếu; Hợp tác Việt Nam - Lào - Campuchia và những vấn đề đặt ra với quốc phòng Việt Nam; Nghiên cứu chiến lược bảo vệ đất nước của một số nước và những vấn đề đặt ra đối với Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; Nghiên cứu xây dựng hậu phương chiến lược trên biên giới Việt - Lào trong tình hình mới...

Trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn vào khu vực và thế giới, cùng với các cơ quan khác, hoạt động của Viện đã góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế về quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và Nghị quyết 28 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

PV: Chúng ta đều biết vai trò của thông tin, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin đến mức “nhiễu loạn’ như hiện nay thì càng đòi hỏi cao kĩ năng thanh lọc và xử lí, điều đó cũng đòi hỏi ở người làm công tác chiến lược một sự nhạy cảm trong phân tích, nhận định, đánh giá… Như vậy, người làm công tác chiến lược không chỉ là nhà khoa học, nhà nghiên cứu quân sự. Đồng chí Viện trưởng nghĩ sao về nhìn nhận này? Đồng chí có thể chia sẻ thêm?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Cám ơn Tạp chí VNQĐ đã dành sự quan tâm đối với Viện và đánh giá cao những người làm công tác nghiên cứu chiến lược. Muốn dự báo, tham mưu chiến lược quốc phòng sát đúng phải có thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời. Điều đó không hề đơn giản trong thời đại bùng nổ thông tin, “thế giới phẳng” hiện nay. Thông tin đến từ nhiều nguồn khác nhau, theo các ý đồ, quan điểm khác nhau, có cả thông tin giả, thông tin sai lệch,… Do đó, trước hết người làm công tác nghiên cứu chiến lược phải biết xử lí, phân tích, đánh giá độ tin cậy, tìm ra những thông tin, tư liệu trung thực nhất, nếu không sẽ tiến hành các bước tiếp theo từ những cơ sở không đầy đủ, chính xác. Các anh có thể hình dung công việc của chúng tôi giống như trắc thủ ra đa tìm mục tiêu trong một “rừng nhiễu” cũng được, dù việc dự báo, tham mưu chiến lược quốc phòng hệ trọng hơn vì liên quan đến đại sự của quốc gia, quân đội. “Một nửa bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng nửa sự thật không phải là sự thật”! Chúng tôi phải tìm ra đâu là thông tin thực sự. Chúng tôi không chỉ sàng lọc, cung cấp thông tin ở thì hiện tại mà phải nhận định, dự báo, tìm ra quy luật vận động, phát triển, tác động của các sự kiện, đối tác, đối tượng liên quan trong tương lai, từ đó, tham mưu, đề xuất các kiến nghị, chủ trương, đối sách chiến lược cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Trên thực tế, chúng tôi không dừng lại ở việc dự báo, tham mưu mà còn trực tiếp tham gia xây dựng chiến lược quốc gia, chiến lược chuyên ngành, các nghị quyết, chính sách có liên quan. Như vậy, đúng như các anh cảm nhận, người làm công tác nghiên cứu chiến lược phải có tư chất của nhà khoa học, nhà nghiên cứu quân sự, phải có bản lĩnh chính trị, hiểu biết về nhiều lĩnh vực, phải đặt mình ở cương vị lãnh đạo, chỉ huy để có những kiến nghị, tham mưu, đề xuất ở tầm chiến lược. Tuy nhiên, làm được như vậy chẳng hề dễ dàng, và chúng tôi còn phải phấn đấu rất nhiều.

PV: Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã tạo ra những thay đổi to lớn đối với đất nước. Tuy nhiên, trong thời kì đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, chúng ta cũng gặp phải mâu thuẫn giữa yêu cầu giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia với yêu cầu hội nhập phát triển kinh tế. Quân đội là một trong những lực lượng nòng cốt phải giải bài toán này và trong đó, không thể không nhắc đến vai trò của Viện Chiến lược Quốc phòng. Viện đã thực hiện nhiệm vụ này như thế nào thưa đồng chí Viện trưởng?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Nhận thức sâu sắc về tình hình thế giới, trong nước, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra định hướng chiến lược, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế nhằm củng cố môi trường hoà bình, tranh thủ tối đa điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những khó khăn, thách thức đối với việc giữ vững độc lập tự chủ, chủ quyền, an ninh quốc gia. Thực tế cho thấy, trong một số lĩnh vực, địa bàn, chưa kết hợp chặt chẽ giữa hội nhập phát triển kinh tế với giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia như việc địa phương cấp phép cho doanh nghiệp nước ngoài đầu tư lâu dài tại vị trí có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng, an ninh ở Cửa Khẻm, Hải Vân gần đây là một ví dụ cụ thể.

Đoàn cán bộ Viện Chiến lược Quốc phòng khảo sát, nắm tình hình thực tiễn tại Quân đoàn 3. - Ảnh: TL

Quân đội là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực thi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế. Theo chức năng, nhiệm vụ, Viện Chiến lược Quốc phòng đã góp phần tích cực vào việc giải quyết mâu thuẫn, khắc phục, hạn chế tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế, cả trong lí luận, nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Để thực hiện nhiệm vụ đó, trước hết, Viện đã quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ…; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế…; hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc…”. Trên cơ sở đó chúng tôi đề xuất, tham mưu nội dung, giải pháp chiến lược nhằm giải quyết mối quan hệ giữa giữ vững độc lập tự chủ và đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong quá trình tham gia xây dựng các nghị quyết, chính sách, chiến lược, văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng như: Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Nghị quyết về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh trong chiến lược kinh tế - xã hội đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, tham gia ý kiến về bảo đảm quốc phòng - an ninh trong đàm phán, thực thi các hiệp định kinh tế, thương mại tự do với các nước, tham gia xây dựng quy hoạch quốc phòng - an ninh trong quy hoạch tổng thể của các vùng kinh tế trọng điểm, các địa phương… Viện chúng tôi đã chủ động dự báo tình hình liên quan và tham mưu, đề xuất chủ trương, đối sách xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, xử lí linh hoạt các tình huống không để rơi vào thế bị động, đối đầu; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc phòng, tăng cường quan hệ với cơ quan nghiên cứu chiến lược của các nước. Thông qua đó, góp phần xây dựng, củng cố lòng tin, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập, hợp tác về kinh tế và các lĩnh vực khác… Đồng thời, Viện cũng chủ động tham gia tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh với những nhận thức sai trái trong quá trình hội nhập, chỉ thấy “cái được” mà ít cân nhắc “cái mất” hoặc thấy “cái mất” nhiều hơn “cái được”…

PV: Thưa đồng chí Viện trưởng! Là cơ quan nghiên cứu, tư vấn cho Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng các vấn đề về đường lối, chính sách, chiến lược quốc phòng, quân sự, chắc hẳn thực tiễn và những đúc rút, những bài học về nghệ thuật quân sự từ những năm tháng chiến tranh qua hai cuộc kháng chiến đã giúp nhiều cho Viện trong việc giải quyết các vấn đề của hôm nay?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhất là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý báu về tổ chức, chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tác chiến chiến lược, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng quân đội, xây dựng hậu phương, cô lập, phân hoá kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của các nước và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới… Đặc biệt là từ chính các công trình nghiên cứu tổng kết chiến tranh, tổng kết tác chiến chiến lược…, do Viện chủ trì hoặc tham gia. Từ các tổng kết lí luận và thực tiễn vô cùng phong phú ấy của đất nước, quân đội, chúng tôi tìm ra những nét đặc sắc, những vấn đề có tính quy luật để vận dụng, phát triển trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân, phát triển khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong giai đoạn mới.

Đó chính là một trong những cơ sở rất quan trọng để Viện thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu về lí luận và thực tiễn, cả cơ bản lâu dài và trước mắt, trên nhiều lĩnh vực, nội dung như: Xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam, xây dựng chiến lược quân sự Việt Nam, đề xuất tổ chức biên chế Quân đội trong điều kiện mới, phát triển lí luận chiến tranh nhân dân Việt Nam, tác chiến phòng thủ chiến lược thời kì đầu chiến tranh, tác chiến phòng thủ quân khu, tác chiến bảo vệ đảo, quần đảo trong tình hình mới… Các công trình, đề tài nghiên cứu của Viện đã kế thừa, vận dụng kinh nghiệm, bổ sung, phát triển lí luận, giải quyết các vấn đề thực tiễn phù hợp với điều kiện mới.

PV: Ở thời kì đầu những năm đổi mới, một số công trình nghiên cứu của Viện đã mang lại những tác dụng thiết thực, không những góp phần bổ sung, hoàn thiện chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự mà còn góp phần tích cực vào việc đổi mới tư duy về quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự. Nhưng qua những gì Viện trưởng vừa chia sẻ, có thể nói, những công trình nghiên cứu về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được Viện Chiến lược Quốc phòng ưu tiên hàng đầu. Đồng chí Viện trưởng có thể chia sẻ?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Có thể nói nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược của Viện chúng tôi bao quát hầu hết các hoạt động quốc phòng, quân sự, tập trung vào các nội dung, lĩnh vực chủ yếu như: học thuyết, đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, quân sự; nghệ thuật quân sự; tổ chức, xây dựng và sử dụng lực lượng vũ trang; kinh tế, quốc phòng, kĩ thuật, hậu cần, hậu phương chiến lược; hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, đối tác, đối tượng…

Trong 25 năm qua, Viện Chiến lược Quốc phòng đã thực hiện hàng trăm công trình, đề tài khoa học, các nhiệm vụ quan trọng được Bộ Quốc phòng giao và các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Từ các kết quả nghiên cứu đã góp phần bổ sung, hoàn thiện chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, góp phần tích cực vào việc đổi mới tư duy về quốc phòng - an ninh trong tình hình mới. Một số công trình, đề tài khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu tiêu biểu như: Học thuyết quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; Nghiên cứu tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong nghệ thuật quân sự Việt Nam; Dự báo đối tượng tác chiến, phương thức tiến hành chiến tranh của địch, đối phó của ta; Dự báo các hình thái chiến tranh và đối sách của ta; Những khái niệm, hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới; xây dựng nền quốc phòng Việt Nam trong tình hình mới; xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam đến năm 2025; xây dựng chiến lược quân sự Việt Nam đến năm 2025…

Không chỉ giới hạn trong phạm vi Bộ Quốc phòng, Viện còn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quốc gia, trong đó có chiến lược bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng, an ninh với đối ngoại… Có thể kể ra một số các công trình, nhiệm vụ nghiên cứu tiêu biểu như: Những vấn đề chiến lược chủ yếu của công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; Kết hợp kinh tế với Quốc phòng trong thời kỳ CNH, HĐH; Đánh giá ý đồ của một số nước lớn đối với Đông Nam Á, Đông Dương và Việt Nam, chủ trương, giải pháp của ta; tham gia xây dựng Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; Chủ trì xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung Ương 8 (Khoá XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới của Quân uỷ Trung ương và Chính phủ. Tất cả những công trình tôi vừa kể đều là những nhiệm vụ đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ.

Chúng tôi đang tập trung hoàn thiện các chiến lược Quốc phòng, Quân sự, dự thảo Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược Quốc Phòng và tiếp tục triển khai nghiên cứu đường lối quân sự, học thuyết quốc phòng , vấn đề chiến tranh và hòa bình trong tình hình mới… Kết quả nghiên cứu đã góp phần đổi mới tư duy về đối tác, đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; cung cấp luận cứ khoa học, tham mưu, đề xuất quyết sách cho Đảng, Nhà nước hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xử lí các tình huống chiến lược…

PV: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông…”. Lãnh đạo Viện đã giải quyết mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn như thế nào để những công trình, đề tài khoa học của Viện đi vào cuộc sống thưa đồng chí Viện trưởng?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là điều mà chúng tôi luôn quán triệt sâu sắc và trăn trở để thực hiện cho tốt. Tuy nhiên, là cơ quan nghiên cứu các vấn đề chiến lược nên thực hiện lời dạy đó không đơn giản. Lãnh đạo, chỉ huy Viện coi lí luận gắn với thực tiễn, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, đó là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt. Hàng năm, Viện chúng tôi vẫn tổ chức đoàn nghiên cứu, khảo sát ở các địa phương trên phạm vi cả nước, trao đổi với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội. Các hoạt động nghiên cứu, khảo sát giúp Viện nắm chắc tình hình, phát hiện vấn đề cần nghiên cứu, từ thực tiễn một số địa bàn để khái quát thành những vấn đề chung của quốc gia, quân đội. Điều đó giúp cho nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu của Viện bám sát thực tiễn, thiết thực hơn. Thông qua hoạt động nghiên cứu, khảo sát, hội thảo, Viện có điều kiện trao đổi, xin ý kiến, kiểm chứng kết quả nghiên cứu, để bổ sung, hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng các công trình, nhiệm vụ, nghiên cứu chiến lược.

Kết quả nghiên cứu của Viện phải được đưa vào cuộc sống một cách chủ động, hiệu quả nhất, thông qua việc xây dựng báo cáo, đề xuất, kiến nghị, xây dựng chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, tham gia chuẩn bị, xây dựng dự thảo Nghị quyết, các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đồng thời với các nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, Viện đã chủ động nghiên cứu, dự báo, đề xuất, kiến nghị với Bộ Quốc phòng khi có tình hình, sự kiện đột xuất…

Nhờ đó, nhiều kết quả nghiên cứu, ý kiến tham mưu, đề xuất, kiến nghị của Viện đã được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ghi nhận; được đánh giá xuất sắc, có tác dụng thiết thực. Tuy nhiên, chúng tôi còn phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn mới có thể đáp ứng được yêu cầu, và lời dạy của Hồ Chủ tịch vẫn là phương châm chỉ đạo đối với đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu chiến lược của Viện.

PV: Gần đây, chúng ta đã ban hành “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam”, qua đó nhiều vấn đề đã được trình bày công khai, sáng tỏ. Được biết đây là một công trình do Bộ trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ cho Viện. Đồng chí Viện trưởng có thể nói về ý nghĩa của công trình này?

Trung tướng, TS Nguyễn Đức Hải: Sách trắng Quốc phòng Việt Nam là cuốn sách chính thức của Nhà nước Việt Nam về các vấn đề liên quan đến quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thể hiện những thông tin cập nhật, đầy đủ, mới nhất về các thách thức, về đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, sức mạnh quốc phòng tổng hợp, tổ chức, vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam và dân quân tự vệ… Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2014 một lần nữa khẳng định Việt Nam không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, không đi với nước này chống lại nước kia, không đe dọa sử dụng vũ lực và không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Sách trắng Quốc phòng thể hiện sự minh bạch, hội nhập quốc tế của Quốc phòng Việt Nam. Qua đó, giúp cho các nước trên thế giới tăng thêm hiểu biết về đất nước, con người và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Với ý nghĩa quan trọng cả trên phạm vi quốc tế và trong nước, việc biên soạn Sách trắng Quốc phòng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao cho Viện Chiến lược Quốc phòng chủ trì, phối hợp với một số cơ quan khác biên soạn Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Viện Chiến lược Quốc phòng cũng rất vinh dự, tự hào được Bộ Quốc phòng tin tưởng giao chủ trì biên soạn Sách trắng Quốc phòng Việt Nam các năm 1997, 2004, 2009, 2014… Đặc biệt, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2014 được hoàn thành đúng vào dịp Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng tròn 70 tuổi càng có ý nghĩa.

PV: Xin cám ơn đồng chí Viện trưởng và chúc tập thể cũng như cá nhân mỗi nhà khoa học của Viện Chiến lược Quốc phòng luôn có một tầm nhìn chiến lược, đúng như tên gọi của Viện!

VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI thực hiện

Tác giả bài viết: VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI thực hiện



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo