Muốn đổi mới thành công, phải xây dựng đội ngũ

Thứ sáu - 18/11/2016 12:15
trung tuong tran duc nhan
Trung tướng Trần Đức Nhân
65 năm về trước, vào một buổi chiều cuối thu nắng dịu, trong bộ quần áo đã bạc sờn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến Nà Lang - một bản người Tày thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Tại một bãi trống trong rừng, Người đã  nói chuyện với cán bộ và học viên khoá I, Trường Chính trị Trung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam. “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại…" - lời căn dặn của Người đã trở thành kim chỉ nam định hướng mọi hoạt động của Nhà trường.
 
Từ ngôi trường tranh tre nứa lá ra đời trong kháng chiến ấy, Trường Chính trị Trung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành Học viện Chính trị - một trung tâm giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu của quân đội và quốc gia. Trò chuyện với phóng viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, đồng chí Trung tướng Trần Đức Nhân - Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Học viện đã ôn lại lịch sử Truyền thống 65 năm cùng những đóng góp to lớn của Nhà trường trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo...
PV: Thưa Trung tướng Trần Đức Nhân, nói đến Học viện Chính trị là nói đến một Nhà trường có uy tín và bề dày về đào tạo và nghiên cứu khoa học trong hệ thống giáo dục của quân đội và quốc gia. Một đơn vị đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý ấy đã nói lên cống hiến lớn lao của Nhà trường cho sự nghiệp cách mạng. Hướng tới Kỉ niệm Ngày Truyền thống Học viện, xin đồng chí cho bạn đọc ôn lại những trang sử vẻ vang của Nhà trường trong 65 năm qua.
Trung tướng Trần Đức Nhân: Lịch sử của một đơn vị ra đời trong kháng chiến bao giờ cũng dài, nên ở đây tôi chỉ khái quát lại theo những mốc thời gian. Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới có nhiều thuận lợi nhưng ngày càng gay go quyết liệt. Những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước khi ấy đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt để nhanh chóng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Tháng 2 năm 1951, Đại hội lần thứ II của Đảng đã khẳng định sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc kháng chiến; trong đó việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội là một vấn đề then chốt. Phải có đội ngũ cán bộ thực sự trung thành, được trang bị kiến thức, nắm vững đường lối cách mạng của Đảng. Quán triệt Nghị quyết của Đảng, Tổng Quân uỷ đã đặt công tác giáo dục chính trị thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng Quân đội nhân dân.
Một ngôi trường chính trị dành cho quân đội đã được ra đời trong hoàn cảnh ấy.
Từ tháng 11 năm 1950 đến tháng 4 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh đã mở hai lớp bồi dưỡng chính trị cho cán bộ quân đội nhằm “giáo dục tư tưởng và nâng cao năng lực công tác cho cán bộ”. Trên cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hai lớp này, tháng 7 năm 1951, Tổng Quân uỷ quyết định thành lập Trường Chính trị Trung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam (tiền thân của Học viện Chính trị ngày nay) và cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Giám đốc, đồng chí Võ Hồng Cương làm Phó Giám đốc, trực tiếp phụ trách Nhà trường.
Trường Chính trị Trung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam ngày ấy còn được gọi là “Trường Luân huấn chính trị”, nghĩa là ngôi trường dành cho cán bộ quân đội luân phiên về học tập, huấn luyện. Một niềm tự hào và vinh dự đặc biệt, trong những năm đầu thành lập, Trường đã được Bác Hồ về thăm và huấn thị ba lần. Lần đầu tiên là ngày 25 tháng 10 năm 1951. Buổi chiều thu hôm ấy, Người đã đi bộ hơn chục cây số đến thăm và nói chuyện với cán bộ, học viên, chiến sĩ của Trường. Để mãi mãi ghi nhớ công ơn của Người, ngày 25 tháng 10 được quyết định là Ngày Truyền thống của Học viện Chính trị.
Từ năm 1951 đến năm 1953, Nhà trường đã mở sáu khoá học, huấn luyện chính trị cho gần 2000 cán bộ trung, cao cấp của quân đội. Kết quả đào tạo đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, biểu hiện tập trung ở hàng loạt chiến dịch, tiến tới chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
Từ năm 1954 đến cuối năm 1964, trong mười năm miền Bắc có hoà bình, Nhà trường đã mở bảy khoá bổ túc chính trị cho cán bộ trung, cao cấp quân đội và ba khoá đào tạo cán bộ chính trị trung cấp. Cũng trong giai đoạn này, những công trình nghiên cứu của Nhà trường về chủ nghĩa Mác - Lênin, chống chủ nghĩa cơ hội xét lại, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng chủ nghĩa tập thể,… đã có sức hấp dẫn giới khoa học.
Từ năm 1965 đến năm 1975, Học viện đã đào tạo, bồi dưỡng được hơn 16.000 cán bộ chính trị sơ cấp, trung cấp và cao cấp, kịp thời cung cấp cho các chiến trường chống đế quốc Mĩ. Trên 700 lượt cán bộ, giảng viên của Học viện đã luân phiên đi thực tế, tham gia chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, tăng cường cho các chiến trường. Nhiều đồng chí đã trở thành linh hồn của cuộc chiến đấu, thành biểu tượng cao đẹp của đội ngũ chính uỷ, chính trị viên, là tấm gương sáng để cán bộ, chiến sĩ học tập noi theo, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ năm 1975 đến năm 1985, Học viện đã đào tạo được hơn 13.000 cán bộ chính trị các cấp cho quân đội. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, gần 100 cán bộ, giảng viên của Học viện được tăng cường cho các đơn vị chiến đấu.
Bước vào thời kì Đổi mới, Học viện đã nhanh chóng vươn lên về mọi mặt để đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ mới. Từ năm 1986 đến nay, Học viện đã đào tạo gần 12.000 cán bộ chính trị cấp phân đội, gần 13.000 cán bộ chính trị cấp trung, sư đoàn và giảng viên khoa học xã hội nhân văn, bồi dưỡng chính trị cho hơn 300 cán bộ cao cấp, đào tạo được gần 1.300 cán bộ chính trị cho quân đội nhân dân Lào và Quân đội Hoàng gia Campuchia,... Bên cạnh nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, Học viện còn đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng Quân đội nhân dân và xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong thời kì mới.
Lịch sử 65 năm xây dựng và phát triển, lớp lớp các thế hệ đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang của Học viện Chính trị với 22 chữ vàng: “Kiên định và phát triển, đoàn kết và kỉ luật, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ”. Với những thành tích và đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Học viện Chính trị đã được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Sao vàng, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
 
PV: Đối với một Nhà trường thì chất lượng giáo dục, đào tạo luôn là mục tiêu quan trọng nhất. Thưa Trung tướng, tôi được biết những năm gần đây, Học viện Chính trị đã có sự đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ về chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Xin đồng chí cho biết rõ hơn về điều này.
Trung tướng Trần Đức Nhân: Trong đổi mới giáo dục, đào tạo, Học viện chúng tôi thực hiện ba vấn đề. Về chương trình, trên cơ sở nghiên cứu chương trình khung do Bộ quy định, chúng tôi có sự điều chỉnh để đảm bảo tính hệ thống, thống nhất, thiết thực, đào tạo theo chức danh gắn với trình độ học vấn. Việc xây dựng chương trình đảm bảo tính kế thừa, liên thông, khắc phục sự trùng lặp về nội dung giữa các cấp học, bậc học. Về nội dung và phương pháp, có sự đổi mới mang tính đột phá cả về phía người dạy và người học. Nội dung luôn cập nhật, bổ sung những vấn đề mới về lí luận và thực tiễn. Phương pháp dạy học được đổi mới toàn diện, phù hợp với đổi mới nội dung đào tạo cho từng đối tượng; ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin, phương tiện kĩ thuật hiện đại. Trong quá trình giảng dạy có sự phát vấn, tương tác giữa người dạy và người học, không truyền thụ kiến thức xuôi chiều; giảm thời gian giảng lí thuyết, tăng thời gian thực hành, thời gian tự học, tự nghiên cứu của học viên, cung cấp cho học viên những vấn đề cần nghiên cứu.

 
IMG 1168
Tham quan Nhà truyền thống Học viện Chính trị - Ảnh: PV

 
PV: Thưa Trung tướng, như vậy Học viện đã có nhiều giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng tư duy độc lập của người học. Điều đó càng có ý nghĩa trong việc học tập các bộ môn chính trị, khi mà việc tiếp thu kiến thức rất dễ rơi vào khô cứng, thụ động. Cùng với sự đổi mới đồng bộ này, việc mở rộng quy mô và đa dạng hoá các loại hình đào tạo được thực hiện như thế nào?
Trung tướng Trần Đức Nhân: Học viện đã từng bước bổ sung, hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Ngoài các lớp đào tạo cán bộ chính trị binh chủng hợp thành, cán bộ chính trị quân, binh chủng, giảng viên khoa học xã hội nhân văn quân sự, Nhà trường còn có các lớp đào tạo lí luận chính trị cao cấp, các lớp đào tạo cán bộ báo chí, các lớp hoàn thiện và các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ Quân đội nhân dân Lào, Quân đội Hoàng gia Campuchia…
Cùng với đào tạo văn bằng và đào tạo chức danh, nhiệm vụ đào tạo sau đại học của Học viện cũng có những bước phát triển nhanh chóng. Cho đến nay, Học viện đã đào tạo được 2362 thạc sĩ của tám chuyên ngành, trên 300 tiến sĩ của bảy chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn quân sự và đang chuẩn bị mở mã ngành sau đại học chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Việc mở rộng đào tạo sau đại học cho đối tượng dân sự cũng đã và đang được tiến hành.
Trong đào tạo sau đại học, chúng tôi giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển quy mô đào tạo với yêu cầu giữ vững, nâng cao chất lượng đào tạo. Mỗi đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ phải thông qua đề cương tại hội đồng khoa học của khoa, được Phòng Sau đại học thẩm định, báo cáo Chủ tịch Hội đồng khoa học của Học viện, rồi mới được tiến hành nghiên cứu; khi bảo vệ ở cấp bộ môn và cấp Học viện cũng phải theo một quy trình chặt chẽ. Có thể nói, đến nay Học viện đã khẳng định được vị trí, uy tín và tiềm lực của một trung tâm đào tạo sau đại học, cung cấp được nhiều cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có chất lượng cao cho quân đội.
 
PV: Không chỉ là một cơ sở đào tạo đáng tin cậy, Học viện Chính trị còn là một trung tâm nghiên cứu khoa học có uy tín của quân đội và quốc gia. Xin đồng chí Chính uỷ cho biết các thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà trường.
Trung tướng Trần Đức Nhân: Những năm qua, Học viện Chính trị đã triển khai đồng bộ các hoạt động nghiên cứu khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và tổng kết thực tiễn, phát triển lí luận. Các đề tài nghiên cứu phát triển lí luận có đóng góp quan trọng, cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Tổng cục Chính trị. Đó là phát triển lí luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về nhà nước pháp quyền, về dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân...
 Từ năm 1986 đến nay, Học viện đã tham gia nghiên cứu và đưa vào sử dụng 11 đề tài cấp Nhà nước, 36 đề tài cấp Bộ Quốc phòng, 68 đề tài cấp ngành, 232 đề tài cấp Học viện, 69 đề tài lịch sử quân sự, hàng nghìn đề tài cấp cơ sở và đề tài của học viên. Ngoài ra, Học viện còn biên soạn hàng trăm giáo trình, sách tham khảo, sách kỉ yếu hội thảo. Các cuộc toạ đàm khoa học, sinh hoạt học thuật được duy trì thường xuyên; 45 cuộc hội thảo khoa học cấp Học viện và hàng trăm hội thảo cấp phòng, khoa, hệ,… thu hút nhiều nhà khoa học tham gia. Không chỉ giới hạn hoạt động khoa học trong nhà trường, Học viện chúng tôi còn tích cực mở rộng quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội.
 
PV: Hình ảnh của Học viện Chính trị 65 năm qua luôn được ví như một thành trì, một pháo đài của sự kiên định lí tưởng cộng sản. Hơn hai thập kỉ gần đây, chiến lược “diễn biến hoà bình” và âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch đã đặt Học viện trước một nhiệm vụ mới với những khó khăn, thách thức mới - đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lí luận. Cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện đã làm gì để tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh này, thưa Chính ủy?
Trung tướng Trần Đức Nhân: Trước hết cần phải nói rằng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn vừa là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt các hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tác của Học viện Chính trị, vừa là yêu cầu hàng đầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ trong Nhà trường.
Những năm qua, Học viện Chính trị luôn đứng ở vị trí xung kích, tuyến đầu trong cuộc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.
Trong cuộc đấu tranh này, Học viện Chính trị giữ vai trò nòng cốt. Giảng viên, học viên và cán bộ nghiên cứu của Học viện đã biên soạn và xuất bản hàng chục cuốn sách, viết hàng trăm bài đăng báo, tạp chí, cùng một số lượng rất lớn các bài trên blog, facebook; Mới đầu chỉ có khoảng 20 blog, nay Học viện đã có hàng trăm blog. Website của Học viện Chính trị có một chuyên mục “Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng” thu hút được nhiều cán bộ, học viên tham gia viết.
Hiện nay, mạng xã hội nở rộ, các thế lực thù địch lợi dụng phương tiện này để chống phá ta. Mà cuộc đấu tranh tư tưởng cần có tính thời sự, kịp thời nên ta cũng phải tận dụng ngay mạng xã hội để đấu tranh, góp phần định hướng cho dư luận xã hội. Sự định hướng tư tưởng khi đã phát huy tác dụng tốt, giống như người đã được uống vắc-xin phòng bệnh, thì mọi luận điệu của kẻ thù đều trở nên vô nghĩa. Nói như câu thơ của Tố Hữu: Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. Có thể nói sự lan toả trên các trang mạng xã hội rất mạnh, nên trong lĩnh vực đấu tranh này việc định hướng cho dư luận xã hội rất quan trọng.
 
PV: Thưa Trung tướng, trong giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng hay bất cứ lĩnh vực công tác nào cũng đều cần một đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Xin đồng chí cho biết những chủ trương của Học viện trong việc xây dựng đội ngũ.
Trung tướng Trần Đức Nhân: Đây chính là vấn đề tôi đang muốn nhấn mạnh. Từ khi thành lập đến nay, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện theo hướng cơ bản, chuyên sâu, có cơ cấu hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu. Những năm qua, Đảng uỷ Học viện đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, gắn xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy, quản lí với xây dựng đội ngũ nhà giáo, đội ngũ cán bộ khoa học. Để kiện toàn, phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lí giáo dục, ngoài việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn theo yêu cầu chuẩn hoá, chúng tôi còn cử cán bộ đi đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy ở đơn vị để chủ động học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực, tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn. Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy, thì việc phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, nhất là cán bộ khoa học đầu ngành, cán bộ khoa học trẻ luôn được chú trọng, quan tâm. Nhà trường còn có chính sách phù hợp để thu hút đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Học viện.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ trong toàn Học viện đã cơ bản đủ về số lượng, có cơ cấu tương đối hợp lí, có phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. 100% cán bộ, giảng viên của Học viện có trình độ đại học và sau đại học; trong đó tỉ lệ sau đại học chiếm trên 65%. Trải qua 65 năm, đến nay Học viện đã có hàng trăm cán bộ được phong quân hàm cấp tướng; gần một trăm đồng chí được phong hàm giáo sư, phó giáo sư, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú… Đây là niềm tự hào, là thành tựu có được từ những chặng đường phấn đấu gian khổ trong suốt 65 năm nhằm xây dựng Học viện, xứng đáng là một trung tâm hàng đầu về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị và nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của quân đội và quốc gia.
Điều cuối cùng tôi muốn nói rằng, vấn đề gốc, vấn đề mấu chốt vẫn là xây dựng đội ngũ. Muốn đổi mới thành công, phải xây dựng được đội ngũ. Đã là người thầy đứng trên bục giảng thì kiến thức phải toàn diện và chuyên sâu; phải luôn luôn tự học, tự nghiên cứu, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức thực tiễn. Đối với việc trau dồi kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ, Nhà trường chúng tôi chỉ đạo rất quyết liệt. Ai không đi thực tế ở trung đoàn, không được làm giảng viên, chỉ làm trợ giảng. Về học vấn, phải là tiến sĩ mới được làm chủ nhiệm bộ môn. Chúng tôi phấn đấu đến năm 2020, có ít nhất 40 đến 45% giảng viên là tiến sĩ (hiện nay tiến sĩ ở Học viện có 112 đồng chí). Chủ nhiệm khoa đương nhiên phải là tiến sĩ.
 
PV: Qua những gì đồng chí chia sẻ, bạn đọc có thể thấy được rõ nét truyền thống và thành tựu trong 65 năm xây dựng, phát triển của Học viện Anh hùng. Xin cảm ơn đồng chí về cuộc trò chuyện!.
 
PV ghi
 
 
 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo