Viết, như là một can dự vào lịch sử

Thứ bảy - 20/01/2018 00:50
Ngày hôm nay, viết về chiến tranh, kể, khơi lại, dựng dậy những “chuyện xưa”, suy cho cùng là viết về hòa bình, là viết về số phận con người với tất cả chiều kích hiện sinh của nó. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam chưa thể xong xuôi, hoàn tất, nó vẫn là mảnh đất phong nhiêu, dung chứa nhiều nguồn “chưa ai khơi”, nhiều câu chuyện chưa ai kể, và nhiều kĩ thuật tự sự chưa ai thể nghiệm.
Ngày 6/12/2017, tại địa chỉ Nhà số 4, Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Tạp chí Nghiên cứu văn học (Viện Văn học Việt Nam) tổ chức toạ đàm “Viết về chiến tranh thời kì Đổi mới”. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu đáng chú ý của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học tại cuộc toạ đàm và bên lề cuộc tọa đàm.

 
* Một cách tổng quan nhất, có thể nhận diện những chuyển dịch của tư duy nghệ thuật đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam từ trước 1975 sang thời kì Đổi mới như thế nào?
PGS, TS Lưu Khánh Thơ: Giai đoạn 30 năm chiến tranh cách mạng 1945-1975, thơ viết về cuộc kháng chiến của dân tộc là tiếng hát tự hào của cái “ta” nhân danh dân tộc, nhân danh chính nghĩa. Thơ viết về chiến tranh giai đoạn này là một “dàn đồng ca” với âm hưởng chủ đạo là cảm hứng sử thi. Thơ đã trở thành vũ khí chiến đấu, cất lên thành lời kêu gọi, thành khẩu hiệu, mệnh lệnh tiến công. Chúng ta thường thấy hình ảnh của những con người xả thân để bảo vệ Tổ quốc. Người lính lên đường với khát vọng chiến đấu và chiến thắng. Cuộc chiến tranh càng lan rộng và quyết liệt thì thơ càng bám sát đời sống, mở ra khả năng chiếm lĩnh thực tại phong phú, đa dạng của hiện thực chiến tranh. Các nhà thơ đã mang đến cho thơ giọng điệu đầy nhiệt huyết của một thế hệ sẵn sàng gánh vác sứ mệnh lịch sử theo tiếng gọi của Tổ quốc.
Cũng viết về cuộc chiến tranh đã đi qua, nhưng sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, các nhà thơ đã hướng tới những số phận, khắc họa những nỗi đau mất mát, thấm thía và lay động. Nỗi buồn được cảm thông và chia sẻ trong thơ viết về chiến tranh giai đoạn này rất thật, nó mệt mỏi, nhức đau như chính sự tàn khốc của chiến tranh. Dòng thơ này như bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, suy ngẫm và ý tưởng, cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm. Đọc nó, ta như được tham dự vào những nỗi khổ đau và hi vọng đã làm nên gương mặt của mỗi số phận. 
TS Lê Hương Thủy: Sau chiến tranh, với một độ lùi thời gian cần thiết, nhiều nhà văn đã có ý thức về việc đổi mới cách nhìn về chiến tranh. Cảm hứng sử thi nhạt dần và thay vào đó là cảm hứng nhận thức lại hiện thực. Viết về chiến tranh từ những cảm nghiệm cá nhân, nhiều tác phẩm đã hướng đến việc thể hiện tính nhân loại phổ quát.
Nhiều tác phẩm tiểu thuyết hơn một thập niên gần đây đã thể hiện được cái nhìn đa diện, phức cảm về chiến tranh. Không chỉ lấy hào quang của chiến thắng làm điểm quy chiếu, các nhà văn có ý thức đề cập đến những tổn thất, sức hủy diệt của chiến tranh, “nỗi buồn chiến tranh”. Các chi tiết, sự kiện và tình huống trong tác phẩm hướng đến việc diễn tả những trạng thái tâm lí, tình cảm của những người lính. Nhà văn không còn che đậy con người cá nhân với những phần khuất lấp của nó. Nỗi ám ảnh chiến tranh không còn là nỗi ám ảnh về bom rơi, đạn lạc mà là nỗi ám ảnh về những cảm giác và trạng thái khi con người rơi vào một tình huống do hoàn cảnh chiến tranh gây nên, phải đối mặt với rất nhiều cam go, đối diện với cái chết, với đói và khát, đối mặt với bản năng sinh tồn, phải chống chọi và vật lộn với muôn vàn khó khăn và hiểm nguy để tồn tại. 
Trong bối cảnh đời sống xã hội đương đại, khi mà tinh thần tự vấn, tinh thần đối thoại được khơi dậy, các nhà văn đã cho thấy khát vọng và ý thức đổi mới lối viết, đổi mới cách nhìn về chiến tranh. Chấn thương từ chỗ là những ám ảnh đã là yếu tố thúc đẩy quá trình sáng tác, tạo nên những căn tố của chất liệu hiện thực. Nhận thức về chiến tranh, về cái giá của độc lập dân tộc là một vấn đề được trở đi trở lại trong nhiều sáng tác văn học thời kì này. Người đọc hôm nay không dễ dàng chấp nhận những tác phẩm được viết đơn giản, một chiều mà đã có ý thức sàng lọc và hứng thú tiếp nhận những sáng tác văn học với đa dạng góc nhìn và cách thể hiện, tiếp cận đề tài chiến tranh.

* Ở một cái nhìn cụ thể hơn, đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam thời kì Đổi mới đã được phản tư, bổ khuyết, nới giãn đường biên như thế nào nhờ vào sự đổi mới tư duy nghệ thuật, cái nhìn nghệ thuật như đã nói?
Nhà phê bình Bùi Việt Thắng: Sang thời kì Đổi mới, văn học đề tài chiến tranh đã được bổ sung thêm bằng nhiều hơn những trang viết của người phụ nữ so với trước đó. Tiếng nói tố cáo chiến tranh, lí giải nó bằng nghệ thuật ngôn từ của người phụ nữ đã vang lên không kém phần rốt ráo, sâu sắc và không thể nói là không để lại nhiều dư ba. Tôi dám chắc Một chiều xa thành phố (1986), Bi kịch nhỏ (1993), Nhiệt đới gió mùa (2012), Làn gió chảy qua (2016) của Lê Minh Khuê, Ở đất kẻ thù (2007) của Lê Lan Anh, Người yêu dấu và những truyện khác (2017) của Dạ Ngân… chẳng hạn, ám ảnh độc giả không kém Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Vì sao? Vì nhà văn nữ đã chuyển chiến tranh từ ngoài chiến trường rộng lớn vào trong mỗi ngôi nhà, mỗi “gia đình bé mọn”, vào tận “hang ổ cuối cùng” của mỗi người.
Đưa chiến tranh vào trong mỗi nhà thì cũng đã có trường hợp nhà văn nam thành công như Dương Hướng với Bến không chồng. Nhưng là hi hữu. Nhiệm vụ này phải được trao cho các nhà văn nữ. Vì sao các nhà văn nữ lại gánh lấy trọng trách văn chương này? Nói một cách vắn tắt thì, bốn cuộc chiến tranh trong vòng 40 năm (1945-1985, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh chống Mĩ, chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc) đã cướp đi hàng triệu sinh mệnh con người. Nó đánh trực diện vào mỗi gia đình. Nó làm chia lìa gia đình. Nó gây nên hậu họa thất lạc, lưu lạc của cả xã hội, gia đình và ở mỗi con người. Cấu trúc gia đình Việt Nam từ 1945 đến 1985, có thể nói, đã bị vỡ ra, biến dạng so với truyền thống, vì thế công cuộc hàn gắn nó phải mất một thời gian dài (cả trăm năm). Chủ đề “thất lạc gia đình”, “thất lạc bản thân” do hậu họa của chiến tranh chắc còn hằn rõ nét trong văn chương dài lâu. Nhìn chiến tranh qua mỗi gia đình, có lẽ, phù hợp hơn cả với nhà văn nữ.
TS Đỗ Hải Ninh: Tôi muốn nói về trường hợp hai cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của Nguyễn Bình Phương: Mình và họ (2014) và Kể xong rồi đi (2017). Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên âm hưởng trầm buồn, da diết và sâu lắng của hai cuốn tiểu thuyết này chính là từ những giai điệu của kí ức chiến tranh. Nguyễn Bình Phương đã tạo nên nhân vật người kể chuyện tự ý thức và ngôn ngữ mang tinh thần đối thoại trong hình thức tiểu thuyết đa thanh (polyphony) theo quan niệm của Bakhtin. Với những kiểu nhân vật như vậy, nhà văn không còn giữ quyền năng phát ngôn, cắt nghĩa và đánh giá sự việc, định hướng cho độc giả và thể hiện cái nhìn toàn tri mà buộc “giải phóng tối đa cho sự tự ý thức và ngôn từ của nhân vật”. Chiến tranh, qua hai lần kí ức, được kể lại qua lời của các nhân vật “không đáng tin cậy”, không phải là phát ngôn chính thức của tác giả. 
Không chỉ vọng về giai điệu của kí ức chiến tranh, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng vang lên âm thanh xô bồ, đa tạp của đời sống hiện tại. Như một bè trầm trong bản giao hưởng thời hậu chiến, nỗi đau chiến tranh vẫn vang âm dai dẳng không thoát khỏi mạch truyện bởi những sang chấn tinh thần trong những hồi ức, ám ảnh chiến tranh. Văn chương Nguyễn Bình Phương là thứ ngôn ngữ cảm thấy chứ không phải kể, tả với một cốt truyện rõ ràng mạch lạc.   
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đã vượt qua kiểu phản ánh hiện thực chiến tranh, để xuyên sâu hơn vào những tầng ngầm văn hóa, lịch sử và tâm lí con người. Tác phẩm của anh nhìn chiến tranh từ số phận cá nhân, bởi vậy, chất vấn lại chiến tranh một cách toàn diện, với những vấn đề mang tầm phổ quát. 
 TS Phan Tuấn Anh: Nhìn vào những tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỉ XX đến nay về chiến tranh biên giới, ta có thể nhận ra một đặc điểm chung, đó là chủ yếu viết về chiến tranh biên giới Tây Nam. Tuy nhiên, từ đầu thế kỉ XXI đến nay, tình hình đã ít nhiều có những thay đổi cơ bản. Những tác phẩm tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh biên giới đáng chú ý mới xuất bản những năm gần đây (như Xác phàm của Nguyễn Đình Tú, Mình và họ của Nguyễn Bình Phương - viết về chiến tranh biên giới phía Bắc, Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú, Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân… - viết về chiến tranh biên giới Tây Nam) có thể xem là sự cụ thể hóa tinh thần dân tộc chủ nghĩa Việt Nam hiện thời, trước những biến động phức tạp của tình hình chính trị, quân sự và ngoại giao quốc tế.  
Thông qua sự kiện tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2015, và trước đó nữa là hai tiểu thuyết Đất không đổi màuNgười đàn bà khóc mướn của nhà văn Nguyễn Quốc Trung đoạt giải thưởng văn học Sông Mê Kông năm 2007, đời sống văn học Việt Nam thực sự đã có những bước ngoặt về nhận thức. Diễn ngôn tiểu thuyết viết về chiến tranh biên giới từng bước chậm rãi, tròng trành đã tìm được sự khẳng định từ nhiều phía trong đời sống văn học nước nhà đương đại.
Mặc dù được sáng tạo dưới cảm hứng chính của diễn ngôn dân tộc, nhưng so với nhiều tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, tiểu thuyết chiến tranh biên giới do thời điểm ra đời muộn hơn nên những cách tân và xu hướng, quan điểm nghệ thuật mới của tiểu thuyết (hậu) hiện đại được thể hiện khá rõ. Góc độ tính dục, vô thức, các ẩn ức, dục năng của người lính được quan tâm, khai thác như một ứng xử nhân văn của tác giả. Thân phận, nỗi đau của cá nhân đương đại hòa quyện, đổ bóng lên thân phận và nỗi đau của dân tộc và đất nước. Diễn ngôn huyền ảo đã phá vỡ tính khuôn sáo, gò bó cứng nhắc và đơn nghĩa của tính hiện thực, để dẫn dắt bạn đọc vào ý nghĩa bề sâu của chiến tranh, những chấn thương tinh thần của người lính. Các tiểu thuyết đề tài chiến tranh biên giới được triển khai theo kiểu đa tuyến, với nhiều người kể chuyện khác nhau và nhiều điểm nhìn nghệ thuật khác nhau, đối lập nhau, thời gian nghệ thuật cũng có sự đảo thuật, hồi cố giữa các tuyến. Nếu như thân phận người lính trong tiểu thuyết về chiến tranh chống Pháp và Mĩ luôn là người thắng trận, thì đến tiểu thuyết về chiến tranh biên giới, xét từ góc độ cá nhân, có những trường hợp là những kẻ thua trận, bị địch bắt. Từ vị trí người thua cuộc, tù binh, những người lính Việt Nam có góc độ quan sát chiến tranh từ phía bên kia chiến hào, có thời gian suy ngẫm, đối thoại về bản chất của cuộc chiến…
TS Nguyễn Thanh Tâm: Tôi muốn nói về chiến tranh qua trang viết của những cây bút rất trẻ (8x, 9x).
Khi những tượng đài của văn học thời chiến vẫn toả bóng, thậm chí trở thành những huyền thoại, nhà văn trẻ phải đối diện với thách thức: thoát khỏi ám ảnh của những tác phẩm đã đóng đinh vào lịch sử văn học thời chiến, đồng thời, kiến tạo bản sắc của thế hệ mình. 
Khi không có được lợi thế về trải nghiệm thực tế, chiến tranh trong cảm thức, trong hiểu biết của các nhà văn trẻ là sự tưởng tượng bắt nguồn từ sách vở, tư liệu, từ những câu chuyện kể của các cựu binh, nhân chứng… Như thế, phần trực quan như là kinh nghiệm sống trải sẽ là điểm yếu của các nhà văn trẻ. Bù lại, tưởng tượng với sự tiếp sức của tâm thức hậu chiến, các điều kiện chính trị, xã hội, công nghệ, kĩ thuật, sự tương tác tri thức trong tinh thần toàn cầu hoá đã đem đến cho các nhà văn trẻ những cơ hội khác để tiếp cận vấn đề chiến tranh. Đó là cơ hội của người viết cũng là cơ hội của cộng đồng đọc và diễn giải văn chương, lịch sử.  
Các nhà văn trẻ viết về chiến tranh như một sự rút kinh nghiệm, hoặc một đề xuất, bổ sung vào kinh nghiệm chiến tranh, kinh nghiệm viết, đọc của thế hệ đi trước. Người viết trẻ đã đứng ở một vị trí khác, một tâm thế khác để nhìn về biến cố chiến tranh. Với họ, chiến tranh chỉ là nguyên cớ cho những câu chuyện khác. Ngay cả khi thể hiện chiến tranh, lớp men sử thi đã bị gột bỏ đi để trả hiện tượng trở về với đời sống thế tục. Rất hiếm hoi những khẩu hiệu, những lời tuyên thệ, ý chí sắt máu nào trong Đợi đến lượt của Đinh Phương, trong cuộc sống giữa đô thành Sài Gòn của nhân vật con trai viên tướng Việt Nam Cộng hoà (Mộ phần tuổi trẻ - Huỳnh Trọng Khang), trong những đêm vũ trường nhầy nhụa của Diễm Thuý (Đỉnh khói - Nguyễn Thị Kim Hoà), trong hi vọng mong manh diệu kì gợi lên từ một bông súng đỏ (Ngụ ngôn tháng tư - Trần Thị Tú Ngọc)…
 Xét về thành tựu, văn học trẻ với đề tài chiến tranh chưa thể so sánh với thế hệ đi trước. Cần thêm thời gian, điều kiện cho những dự định, tìm tòi hướng tiếp cận và thể hiện đề tài chiến tranh trong hành trình văn chương của các nhà văn trẻ. Những tác phẩm của người viết trẻ gần đây là một bổ sung cần thiết, từng bước cho di sản lịch sử, văn chương viết về chiến tranh của Việt Nam.

 
IMG 4858
Quang cảnh buổi tọa đàm - Ảnh: Thành Duy

* Hướng mở nào cho văn học Việt Nam đề tài chiến tranh?
Nhà văn Chu Lai: Tính dục trong chiến tranh chẳng hạn, là một khoảng trống trong văn học đề tài chiến tranh. Nếu ai đủ bản lĩnh, tài năng để khơi nguồn này thì hứa hẹn sẽ cho ra những tác phẩm mới đáng đọc.
Phải viết về chiến tranh, về tất cả tính chất trần trụi, khốc liệt của nó sao cho tác phẩm giàu hàm lượng tính người nhất, nhân văn, nhân bản nhất.
Văn học viết về chiến tranh hôm nay không thể được đọc bằng tâm thế đọc của hôm qua. Nếu không tháo lỏng cách nhìn về chiến tranh (cả về phía người viết, người đọc và nhà quản lí) thì đừng mong hiển lộ tác phẩm mới tầm cỡ về chiến tranh. Phải làm sao viết về chiến tranh mà tác phẩm lại hướng về những vấn đề bỏng rẫy của thì hiện tại, để cuộc sống đáng sống hơn, người gần người hơn.
Nhà văn Bảo Ninh: Khởi đi từ hơn 30 năm nay, “đổi mới” đã thành câu chuyện không còn mới.
Nay cần có một loại hình tác giả mới/khác viết về chiến tranh. Những bộ đội về hưu chẳng hạn. Tiểu thuyết Rừng đói (2016) của Nguyễn Trọng Luân tái hiện bộ mặt chiến tranh rất sinh động. Hay những người trẻ tuổi chẳng hạn. Phan Thuý Hà, bằng những diễn ngôn tự sự của mình, đã khách quan hoá câu chuyện chiến tranh. Văn học chiến tranh lâu nay có nhiều chuyện bịa, hư cấu, nếu khai thác được những câu chuyện thật thì rất thú vị. Những người tham chiến đôi khi không quan tâm nhiều đến đại cục, toàn cảnh, họ sống mái với kẻ thù nhiều lúc là chỉ để bảo vệ một người bạn lính trong cùng tiểu đội. Văn chương nên khai thác những câu chuyện thật ấy, phải thật thì mới đi vào lòng người được.
Không nên đẩy lùi, cản trở tôn chỉ, tinh thần “đổi mới” bằng quán tính, thói quen bắt bẻ, can gián những cái mới, cái khác, đặc biệt là đối với văn chương nghệ thuật.
Nhà thơ Anh Ngọc: Đối với người sáng tác, có sức thuyết phục hơn trăm ngàn tuyên ngôn, diễn thuyết là tác phẩm của họ. Tác phẩm của nhà văn trình hiện đầy đủ tư tưởng, phẩm tính nghệ thuật, thẩm mĩ mà nó có.
Theo tôi, văn chương đông tây kim cổ, những tác phẩm hay nhất, lớn nhất vẫn là những tác phẩm viết về chiến tranh. Chiến tranh là một bất lợi lớn đối với số phận dân tộc nhưng lại là một lợi thế lớn đối với văn chương dân tộc. Muốn có tác phẩm tầm cỡ, phải phá dỡ những “biển cấm”.
Nhà văn Khuất Quang Thụy: Chỉ cần làm đúng thiên chức của mình thì các nhà văn đã đổi mới được văn học đề tài chiến tranh. Cái mà văn học chiến tranh đang mon men chạm tới là những tư tưởng triết học về chiến tranh. Đây mới là tầm cao, chiều sâu của đề tài chiến tranh mà văn học của ta cần hướng đến.
Những tác phẩm đỉnh cao về chiến tranh sắp ra đời, biết đâu lại không phải của những nhà văn cựu binh, hay của những nhà văn trưởng thành sau chiến tranh đang mặc áo lính, mà là của những cây bút trẻ đang khuất lấp ở đâu đó. Chúng tôi đã làm gần như xong phần việc của mình. Giờ là thời cơ “xuất chiêu” của những người viết trẻ. Thế hệ chúng tôi đối thoại với lịch sử. Thế hệ trẻ hôm nay chất vấn lại lịch sử.

* Bên ngoài biên giới Việt Nam, đặc biệt là ở Mĩ, tình hình sáng tác, nghiên cứu về văn học đề tài chiến tranh Việt Nam diễn ra như thế nào?
Nhà nghiên cứu Đặng Thái Hà: Viet Thanh Nguyen, một người Mĩ gốc Việt,  với trường hợp tiểu thuyết hư cấu The Sympathizer (Cảm tình viên, giải Pulitzer năm 2016) và tập tiểu luận Nothing ever dies. Vietnam and the Memory of War (Không gì mãi chết đi. Việt Nam và kí ức chiến tranh), đã nỗ lực hiện thực hóa tham vọng lấp đầy chỗ trống mà tác phẩm của các tác giả người Việt và người Mĩ gốc Việt, dù càng ngày càng được dịch và xuất bản nhiều hơn cũng như trở nên mỗi lúc một phổ biến hơn với công chúng Mĩ, gần như vẫn còn bỏ ngỏ: đó là một cái nhìn “trực tiếp đối diện với lịch sử cuộc chiến của Mĩ ở Việt Nam từ góc nhìn của người Mĩ gốc Việt”, vì “hầu hết các tác phẩm văn chương Việt Nam đã được dịch sang tiếng Anh tập trung vào cách nhìn của người Việt ở miền Bắc, của người Cộng sản”. Trong khi đó, “văn chương của người Mĩ gốc Việt thường tập trung vào trải nghiệm của người tị nạn, những gì đã xảy đến với người Việt khi họ đến Mĩ”. Chủ đề này không những trở đi trở lại như một mối mặc cảm của thế hệ di dân người Việt đầu tiên, mà còn trở thành một áp lực cộng đồng đè nặng lên đa phần những người cầm bút thế hệ sau này. Tác phẩm của Viet Thanh Nguyen, ngược lại, là một phản ứng đối với mọi trói buộc quá khứ và tự giải phóng khỏi mọi món nợ cộng đồng, không chấp nhận cái nhìn tình cảm chủ nghĩa khi viết về chiến tranh. Với Viet Thanh Nguyen, không một ai có thể bào chữa rằng mình vô can trong một cuộc chiến, và cũng không một ai là hoàn toàn vô tội trước quá khứ, bởi chúng ta liên tục phải đối diện với những lựa chọn về ghi nhớ hoặc lãng quên. Như thế, tác phẩm của Viet Thanh Nguyen đã soi chiếu bản chất của mọi cuộc chiến tranh từ điểm nhìn về bản chất nhân tính, để cuối cùng, dẫn đến một nhận thức chân thực nhưng cũng không kém phần bi đát về chiến tranh cũng như về bản ngã, từ đó học cách bao dung hơn với chính mình và kẻ khác.
Nhà nghiên cứu Trần Đăng Trung: Với người Mĩ, chiến tranh Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc xung đột vũ trang, hơn thế rất nhiều, nó đã trở thành một “não trạng”, một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Viết về cuộc chiến, vì vậy, là một nhu cầu tự thân, một thôi thúc nội tại với tất cả những ai đã từng chia sẻ cái trải nghiệm chung thấm thía đó. Hơn bất cứ cuộc chiến tranh thời hiện đại nào khác mà nước Mĩ từng can dự, Việt Nam là sự kiện sản sinh ra khối lượng sáng tác văn học đồ sộ nhất, đa dạng và phức tạp nhất với số lượng tác phẩm ngày càng gia tăng theo thời gian. Dường như ngay cả khi cuộc chiến đã kết thúc một thời gian khá dài, người Mĩ vẫn không ngừng suy tư, trăn trở về đề tài này. Sáng tác văn học về chiến tranh Việt Nam đã trở thành một trào lưu rộng khắp, một dòng chảy liên tục trong đời sống văn học Mĩ.
Đứng trước một hiện tượng nổi bật như vậy, nhiều nhà nghiên cứu Mĩ đã cho ra đời những công trình với tham vọng tổng kết, khát quát những đặc trưng cơ bản, phân tích những tác phẩm tiêu biểu và định giá chất lượng nghệ thuật của dòng văn học viết về chiến tranh Việt Nam. Chẳng hạn, trong công trình Bước đầu nghiên cứu: Những tự sự Mĩ về Việt Nam, Thomas Myers đưa ra những ngữ cảnh để có thể hiểu được nội dung và hình thức của các tự sự Mĩ về chiến tranh Việt Nam. Myers khảo sát những huyền thoại và tín điều cũng như truyền thống văn học Mĩ (cụ thể là dòng tiểu thuyết lịch sử và chiến tranh) tác động tới các tác phẩm này. Ông cho rằng những sáng tác về Việt Nam hay nhất là những tác phẩm vượt qua được thứ chủ nghĩa hiện thực trận mạc đơn thuần để kết nối hay tương tác với những yếu tố lịch sử, văn hóa, văn học, những huyền thoại phổ biến hay những cuộc chiến trước đó của nước Mĩ.
Trong suốt một thời gian dài, những nghiên cứu về văn học chiến tranh Việt Nam bị bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia - dân tộc của mỗi bên tham chiến. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây của các học giả Mĩ tâm huyết đã nỗ lực trình bày một cách toàn diện các tác phẩm văn học về chiến tranh Việt Nam dưới góc độ bao quát hơn, từ một góc nhìn xuyên quốc gia, bởi lẽ cuộc chiến, về bản chất, là một xung đột và trải nghiệm đậm đặc tính quốc tế, đa diện và đa phương. Nghiên cứu văn học chiến tranh Việt Nam ở Mĩ gắn liền với một nỗ lực cắt nghĩa, lí giải cuộc chiến một cách riết róng của người Mĩ. Những tác phẩm văn học cùng những diễn giải từ nhiều góc độ, quan điểm, hệ giá trị vén lên bức màn mờ ảo và hỗn loạn mà cuộc chiến gây ra đối với nước Mĩ. Những câu chuyện lẩn khuất, những tiếng nói bị lãng quên, những sự thật đa tạp dần được khai mở và nhận thức rõ ràng. Những vết thương chiến tranh cùng những điều đen tối nhất không ngừng được mổ xẻ, phân tích và chính thái độ sòng phẳng đó đã góp phần chữa lành nhiều di hại mà cuộc chiến gây ra cho con người.
Văn học chiến tranh có thể được nhìn nhận dưới rất nhiều đường hướng và có thể đặt ra vô số vấn đề nhân văn thiết yếu nếu chúng ta có một tinh thần cởi mở và bao dung trong học thuật.
 
HOÀNG ĐĂNG KHOA lược ghi  

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo