Nhà văn HOÀNG PHƯƠNG NHÂM và truyện ngắn "Tê-rê-xa ngốc nghếch"

Chủ nhật - 21/08/2011 23:01

Nhà văn Hoàng Phương Nhâm

Năm 1994, gia đình tôi chuyển về Ninh Bình. Thị xã Ninh Bình ngày ấy còn khá hoang sơ, buồn, bụi và bẩn. Nhà tôi ở phố Lý Thái Tổ. Cuối phố có một ngôi nhà thờ bị bom Mỹ đánh đổ hồi chiến tranh phá hoại. Nhà thờ khi ấy và đến gần chục năm sau này vẫn còn là một đống đổ nát duy chỉ còn tháp chuông đứng sừng sững với cây thánh giá trên ngọn tháp chĩa thẳng lên trời. Ngôi nhà thờ đổ, tháp chuông và cây thánh giá đã gây ấn tượng mạnh với tôi.

Gần nhà tôi là cảng than bên bờ sông Đáy. Tôi thường gặp những người đi “mót” than, đa phần là đàn bà, trẻ con, người ngợm, quang gánh đen sì chiều chiều đi qua phố. Hết thảy họ đều lam lũ và tội nghiệp. Trong đó có một người đàn bà còn trẻ, gánh than nặng trĩu vai nhưng nét mặt hồn nhiên và mãn nguyện. Một chiều chủ nhật tình cờ tôi gặp người đàn bà ấy thơ thẩn tìm kiếm điều gì đó trong khuôn viên nhà thờ đổ. Và một lần vào những ngày cuối năm, tôi đi chợ qua cầu Chà Là thấy người đàn bà đó đứng trên cầu nhảy xuống sông trong tiếng hò hét, cổ vũ của bọn trẻ và những người hiếu kỳ. Người đàn bà đó đã khiến tôi xót xa mãi.

Cũng gần nhà tôi có một ngôi trường trung học. Có lần đi họp phụ huynh cho con, đứng trên ban công tầng ba nhìn xuống đường, tôi lại thấy người đàn bà ấy gánh than đi qua.

Thế là sau nhiều day dứt, câu chuyện TÊ-RÊ-XA ngốc nghếch được hình thành.



Tê-rê-xa ngốc nghếch


Trời lây phây mưa bụi. Muôn ngàn hạt nước li ti bay xiên xiên theo chiều gió nhẹ nhàng đậu xuống vạn vật. Những cành bàng khẳng khiu ở góc sân trường như cố vươn hết sức giữ những hạt nước tròn lóng lánh treo trên mình để làm duyên nhưng những hạt nước vẫn thi nhau rụng xuống. Và mưa bụi vẫn cứ bay. Bầu trời đã trong hơn. Có vài cánh én liệng trong không trung. Vậy là mùa xuân sắp trở lại. Tiếng trống báo tiết học cuối cùng trong ngày đã hết. Lũ học trò như chim sổ lồng chen nhau ùa ra sân, ra cổng. Tăng chưa vội về. Anh đứng trên ban công tầng ba nhìn xuống lũ trẻ đang chí chóe cười đùa và trêu chọc nhau. Mưa bụi không làm chúng bận tâm. Chỉ cần đặt cái cặp sách to tướng lên đầu và thế là chúng có thể đi vòng quanh thế giới. Tăng mỉm cười khi thầm so sánh với ngày anh đi học. Sân trường vắng teo Tăng mới lững thững dắt chiếc xe đạp cà tàng đi ra cùng khi ông bảo vệ đóng cổng trường. Tăng chẳng bao giờ vội về nhà vì mẹ anh đã mất cách đây vài tháng nên không có ai ngóng đợi anh cả. Chưa đến đầu cầu Chà Là bắc qua sông Vân sang chợ Tăng đã thấy trên cầu xúm đông xúm đỏ. Lại tụi học trò. Chắc có trò gì vui lắm nên chúng reo cười quên cả đói. Nghĩ vậy nhưng Tăng vẫn nhấn mạnh chân trên bàn đạp. Anh sợ bọn trẻ nghịch dại. Lên hết dốc, Tăng thấy một người đàn bà đứng ngoài lan can cầu, quần áo ướt dính bết vào thân hình gầy guộc, một tay bám hờ lấy thanh sắt lan can, tay kia dang rộng, quay đầu về phía bọn trẻ hỏi:

- Xong chưa?

Bọn trẻ khoái chí đồng thanh hô:

- Xong rồi!

Người đàn bà buông tay. Tăng thót tim. Tiếng reo của lũ trẻ và tiếng cười của những người hiếu kỳ như càng làm người đàn bà thích thú. Chị ta bơi vào bờ và lại lóp ngóp bò lên, trèo ra đứng ngoài lan can cầu như lúc trước. Tăng vứt chiếc xe đạp đổ kềnh bên dốc cầu, chạy vội đến gần người đàn bà. Anh khẽ gọi:

- Tê-rê-xa!

Người đàn bà giật mình quay lại. Nhìn thấy Tăng, chị ta khẽ kêu: “Lạy Chúa tôi!” rồi vội vàng trèo vào lòng cầu đến quỳ trước mặt Tăng:

- Lạy Cha!

Tăng dịu dàng đặt tay lên mái tóc ướt bết vào da đầu người đàn bà:

- Con về đi! Nào, đứng lên rồi về đi kẻo chết rét bây giờ!

Người đàn bà nâng bàn tay Tăng kính cẩn, dịu dàng đặt một nụ hôn bằng làn môi tím ngắt vì lạnh rồi ngoan ngoãn đứng dậy quay trở lại đầu cầu chỗ có một gánh than đen nhánh bị bỏ quên tự khi nào. Chị cất đòn gánh lên vai loạng choạng đi về phía chợ. Lũ học trò từ lúc biết Tăng đến đã bấm nhau tản đi. Những người hiếu kỳ còn nán lại nhìn Tăng như một sự lạ. Họ thấy anh cũng có vẻ gì đó hơi điên điên. Một người đàn bà đi chợ về qua cầu thấy mấy người còn đứng giữa lối đi thì bực mình:

- Nó điên điên khùng khùng còn chưa đủ khổ hay sao mà còn...

Tăng không nghe hết câu nói, anh quay lại chỗ chiếc xe đạp. Phía bên kia cầu, dáng người đàn bà gánh than đã lẫn vào đám đông tất bật giữa chợ. Với Tăng, người đàn bà ấy không điên mà chị ta chỉ ngốc nghếch, sự ngốc nghếch đáng thương. Từ dạo vào bộ đội rồi đi học xa, đến chục năm anh không gặp người con gái tội nghiệp của Chúa. Hồi Tăng còn nhỏ đã thấy mọi người gọi cô gái ấy là Tê. Bởi vì gọi như thế hợp với sự ngốc nghếch, điên điên của cô. Lần đầu tiên Tăng gặp lại Tê là hôm anh vào khu đất của nhà thờ đổ để tìm ít cỏ dại về làm lá xông và thuốc giải cảm cho mẹ. Bà cụ bị cảm đã mấy ngày phải nằm bẹp một chỗ, lúc nào cũng kêu đau khắp cả mình mẩy, chẳng muốn ăn uống gì. Khu nhà thờ khi xưa là nơi đẹp nhất thị xã. Ngày lễ, giáo dân mấy xứ đổ về đông vui, nhộn nhịp. Ngày thường, nhà thờ lại trở về với sự tĩnh lặng, tạo thêm vẻ tôn nghiêm nơi đất thánh. Thi thoảng có người đến nhà thờ xin thuốc của cha xứ về chữa bệnh. Những năm chiến tranh, bom giặc đánh sập, đến mãi bây giờ khu nhà thờ uy nghi xưa vẫn còn là đống gạch đổ nát, duy chỉ còn tháp chuông vẫn vươn lên sừng sững, chĩa cây thánh giá lên bầu trời hướng về miền đất Chúa linh thiêng như muốn tìm sự cứu rỗi. Giữa đống đổ nát, có những loài cây thơm như mùi thuốc len lỏi mọc lên cùng cỏ dại. Tăng vẫn vào đây để tìm hái những loài cây ấy. Anh cặp cuốn sách dày cộp mới mượn ở thư viện nhà trường vào nách để cúi xuống bẻ những nhánh lá thơm. Chợt có tiếng chân đi rón rén làm Tăng rợn cả người. Khi còn nhỏ, anh nghe người ta đồn có vị Cha trẻ đã bị bom đánh tan xác trước căn hầm trong vườn. Thi thoảng vẫn thấy bóng Cha lãng đãng trong khu nhà thờ đổ nát. Tăng ngẩng lên nhìn quanh. Vẫn chẳng thấy ai. Anh lại chăm chú chọn hái những nhánh lá thơm lẫn trong cỏ. Gặp một cánh trắc bách diệp bị giẫm gẫy, tiếc cành cây đẹp, Tăng đặt cuốn sách xuống để vuốt cho nó thẳng lên. Chưa kịp phủi tay, anh bỗng giật nẩy mình vì có tiếng ai đó kêu khẽ: “ Giê-su-ma, lạy Chúa tôi!” rồi một người lao đến, quỳ xuống ôm chầm lấy chân anh. Người đó khóc nức nở, nghẹn ngào:

- Lạy Cha! Thế là Người đã trở lại! Chúa lòng lành đã nghe thấu lời cầu nguyện của con. Người đã cho Cha trở về! Con mừng quá!

Tăng không hiểu ra sao. Anh đứng sững như trời trồng. Dưới chân anh là người đàn bà gầy gò, lam lũ. Người đàn bà áp mặt vào chân Tăng, thầm thì:

- Lạy Cha! Người không biết con nhớ với mong Người trở về đến mức nào đâu! Ngoài Cha ra con chẳng còn ai nữa cả! Chiều nào con cũng quỳ ở đây để cầu nguyện. Chúa nhân từ đã thấu lòng con!

Tăng run run cúi xuống gỡ tay người đàn bà đang ghì chặt lấy chân mình. Khi tay anh vừa chạm vào tay người đàn bà thì chị ta vội nâng lấy bàn tay anh với vẻ vô cùng kính cẩn, chị hôn nhẹ lên những ngón tay gầy đang run rẩy của anh. Nước mắt chan hòa trên gương mặt tiều tụy đang ngời lên niềm hạnh phúc vô biên của người đàn bà. Những giọt nước mắt như một thứ nước thần kỳ rửa trôi lớp bụi trần gian để lộ ra vẻ đẹp huyền bí trên gương mặt ấy làm anh sững sờ. Tăng nhận ra người đàn bà tiều tụy này chính là Tê-rê-xa, con gái ông bõ già ở nhà thờ khi xưa. Hồi còn học cấp một, bọn anh thường thấy cánh thanh niên gọi cô là “Con gái của Chúa”. Khi ấy cô khoảng mười bẩy tuổi, rất xinh đẹp và đã điên điên mất rồi! Tê-rê-xa đang nhầm anh với vị cha trẻ ngày xưa. Tăng không biết làm thế nào để thoát ra khỏi sự nhầm lẫn của người điên được. Một lúc sau, anh đánh liều đặt nhẹ tay lên đầu người đàn bà, khẽ nói:

- Phải! Cha đã về rồi! Ta mừng còn được gặp con! Con hãy để ta đi dạo quanh đây một lúc.

Người đàn bà khom người đứng dậy, lễ phép thưa:

- Trình Cha! Người có cần con dẫn đường không ạ? Nơi đây đã chẳng còn như xưa nữa!

Tăng xua tay:

- Thôi, con cứ đi làm việc của mình!

Người đàn bà cúi đầu đi giật lùi khuất sau đống gạch vữa ngổn ngang. Tăng chỉ chờ có thế. Anh vơ vội nắm lá vừa hái, cầm chặt cuốn sách, ba chân bốn cẳng nhảy đại qua bức tường đá lởm chởm.

Chuyện ở trên cầu cũng không làm bọn học trò ngạc nhiên vì chúng đã chứng kiến sự lạ như thế cách đây mấy năm rồi. Đấy là khi Tê-rê-xa gặp Tăng ở ngay cổng trường. Hôm ấy cũng vào buổi chiều, Tăng lững thững ôm cuốn “Ca dao và tục ngữ Việt Nam” từ cổng trường đi ra, chợt một người đàn bà lam lũ gánh hai sọt than nặng sững sờ thốt lên: “Giê-su-ma. Lạy Chúa tôi!”, rồi đặt vội gánh than xuống đường chạy tới quỳ trước mặt anh, mừng mừng tủi tủi:

- Lạy Cha! Là Người đấy ư? Hôm nọ, Người đi đâu để con tìm mãi!

Mấy đứa học trò về muộn thấy vậy dừng xe ngoái đầu lại nhìn, ngỡ ngàng và thích thú. Tăng thì ngỡ ngàng và ngượng. Biết lại là Tê-rê-xa ngốc nghếch, điên điên, anh bỗng thấy thương hại. Tăng nghĩ ra cách giải thoát cho mình khỏi cảnh trớ trêu mà không làm cho Tê-rê-xa thất vọng. Tăng đặt nhẹ tay lên đầu người đàn bà đang quỳ trước mặt và nói nhỏ:

- Phải, Cha đây. Ơn Chúa đã ban cho con còn khỏe mạnh thế này! Thôi, con mang gánh than về đi kẻo tối!

Tê-rê-xa lại kính cẩn nâng bàn tay Tăng lên hôn nhẹ bằng đôi môi khô nẻ của mình rồi đưa tay lên ngực làm dấu thánh. Chờ cho Tăng bước đi, người đàn bà mới đứng dậy. Chị đặt đòn gánh lên vai, gánh than đi một cách nhẹ nhàng, vẻ mặt ngời lên mãn nguyện chưa từng thấy. Lũ học trò vừa ngạc nhiên vừa kính phục tài của ông thầy dạy toán khô như ngói, tiết kiệm đến nỗi là học trò của thầy gần hết năm học mà chưa lần nào được chiêm ngưỡng nụ cười trên gương mặt thầy. Thế là chúng đã có chuyện giỡn lại ông thầy đáng kính của mình để trả thù những bài kiểm tra hóc búa. Không ngoái lại, Tăng cũng biết lũ học trò của anh đang nghĩ như vậy. Anh cười thầm. Nụ cười không ai nhìn thấy.

Minh họa: Lê Huy Quang


Tê ngốc nghếch bởi vì Tê là con của Chúa. Người đã sinh ra Tê. Chắc chắn như vậy! Vào một đêm cuối đông rét mướt, ông bõ đã nghe thấy tiếng khóc của con trẻ phía cổng nhà thờ. Tiếng khóc làm ông thổn thức không sao ngủ được. Tiếng khóc trong đêm khuya len lỏi khắp khu nhà thờ tĩnh mịch xua đuổi giấc ngủ chập chờn của vị Cha xứ già. Từ nhà phòng ông cụ chống gậy bước ra. Ông bõ lật đật ra mở cổng. Tay chân ông bõ như muốn rụng rời ra khỏi cơ thể khi thấy bên ngoài cánh cổng có một đứa hài nhi đặt trong chiếc làn mây cũ, có bọc tã lót, áo xống bên cạnh. Đường phố vắng tanh vắng ngắt. Thi thoảng cơn gió lạnh buốt xào xạc quét đám lá rụng xuống mặt đường. Ông bõ xách chiếc làn mây vào trình Cha. Đứa trẻ vẫn ngằn ngặt khóc. Sợ nó chết vì đói và lạnh, Cha xứ sai ông bõ lên phòng nghỉ của Cha mang chiếc bếp than hoa của Người xuống sưởi cho đứa trẻ và lấy hộp sữa của cha Thiêm dưới xứ Châu Phát mới biếu Cha đem cho đứa trẻ ăn. Ông bõ lóng ngóng làm theo sự chỉ dẫn của Cha. Ngoài năm mươi tuổi ông bõ mới được sờ mó vào đứa trẻ như thế này. Hôm sau, Cha xứ bảo ông bõ tìm các vị chức sắc giáo xứ để bàn về việc đứa trẻ nhưng mãi đến cuối tuần các vị mới đến đông đủ được. Tự nhiên, ông bõ thấy như có sợi dây vô hình đã ràng buộc mình với đứa trẻ. Ông xin hội đồng giáo xứ được nuôi nó, được nhận nó làm con. Mọi người ngần ngại nhưng ông bõ thiết tha quá, Cha xứ và các vị trong giáo hội đành chấp thuận. Từ đấy trong nhà Chúa còn thêm một đứa trẻ con. Nó lớn dần lên mà chẳng ốm đau quặt quẹo gì. Nó làm cho hai ông già đỡ cô quạnh và khắp nhà Chúa ấm áp bởi tiếng bi bô của con trẻ. Ông bõ xin với Cha cho nó được chịu lễ rửa tội. Cha đồng ý và đặt tên thánh cho nó là Tê-rê-xa Đỗ Thị Lài. Sống trong nhà Chúa, được sự chăm bẵm của hai ông già nên con bé lớn lên chẳng khác nào một thiên thần. Hình như đứa trẻ nào sinh ra từ phép màu của Chúa cũng được thừa hưởng những gì đẹp đẽ nhất từ kẻ sinh thành. Nhưng tâm hồn chúng dễ bị tối tăm nếu không được tình yêu thương soi sáng. Vị Cha xứ già khuyên ông bõ như vậy. Từ khi có con bé trong nhà thờ, vị Cha xứ già và ông bõ tự nguyện làm hai ông bố. Con bé lớn dần. Nó đã có thể giúp được nhiều việc và hình như con bé rất ý thức được mình. Nó hồn nhiên như mọi đứa trẻ khác khi có hai ông già ở đó nhưng nó lại có vẻ lầm lũi đến tội nghiệp khi chỉ có một mình. Nó cứ cặm cụi ở khu vườn trồng cây thuốc chơi với những chiếc lá rụng. Nó chẳng nói một lời nào. Ánh mắt nó buồn như khung cửa sổ lúc chiều chạng vạng. Khi nó lên sáu tuổi, Cha xứ bảo ông bõ xin cho con bé đi học lớp vỡ lòng cùng với trẻ con ngoài phố. Nó cũng sáng dạ như nhiều đứa trẻ khác. Chiều về, hai cha con ông bõ dọn dẹp mọi việc trong nhà thờ và sau đó cả hai cùng ra vườn trồng tỉa những cây thuốc rồi đem về sao tẩm để Cha xứ bốc thuốc chữa bệnh làm phúc cho con chiên trong xứ. Những thang thuốc bằng cây cỏ của Cha đã giành lại được nhiều mạng người từ tay thần chết. Thế mà một chiều kia, khi mặt trời gác núi, Cha cũng nhẹ nhàng từ giã cõi đời để về miền đất Chúa. Trước khi đi, Cha chỉ kịp dặn ông bõ khi nào con bé mười tuổi phải gửi nó xuống nhà dòng cho các bà xơ dưới xứ Châu Phát.

Không lâu sau đó, người được Bề trên cử về thay vị Cha xứ già khi trước là một vị linh mục mới ngoài ba mươi tuổi. Vị Cha trẻ có dáng vẻ rất thư sinh. Có lẽ không khi nào ông rời trang phục của kẻ tu hành. Ông ít khi ra khỏi nhà phòng và cũng rất ít nói nhưng khi ông cất lời thì giọng của ông lại có sức lôi cuốn đến lạ kỳ. Vào những hôm có lễ, con chiên nghe ông rao giảng không muốn về. Trừ những lúc ông ra ngoài làm việc đạo, còn hầu hết thời gian có thể, vị cha trẻ đều dùng vào việc đọc sách. Những cuốn sách dày cộm đặt trên mặt bàn lim kê cạnh giường ngủ. Khi nào vào hầu Cha dọn dẹp trong phòng, ông bõ đều thấy Cha cắm cúi trên cuốn sách. Có vẻ Cha trẻ rất trọng sự học nên mới về nhậm chức được mấy ngày, Cha đã hỏi đến việc học hành của Tê khi thấy nó đem vở ra hiên nhà ngồi làm toán. Từ hôm ấy, Cha trẻ dạy con bé học thêm vào lúc Người rỗi rãi. Ông bõ thấy con bé hay hỏi vặt Cha những điều bên ngoài quyển sách của nó. Có vẻ điều ấy làm Cha trẻ hài lòng nên ông thường rời nhà phòng ra ngoài dạy con bé học. Trên tay ông lúc nào cũng có cuốn sách dày cộp, nặng như một viên gạch. Đấy là một trong những cuốn sách trên giá của vị Cha xứ già khi xưa. Sinh thời, khi mắt đã quá kém, thi thoảng Người lại dùng chiếc khăn lụa lau bụi trên những cuốn sách ấy mặc dù bụi bặm chẳng thể vào được phòng Cha ở. Vào những buổi chiều tà, với cuốn sách trên tay, Cha trẻ lững thững thả bộ trên lối đi phía sau giáo đường nơi có vườn thuốc mà từ ngày vị Cha xứ già về nước Chúa chỉ có cha con ông bõ chăm sóc, thu hái. Cha già không còn, ít người về đây xin thuốc nên ông bõ nhiều khi có phần lơ đễnh việc xén tỉa. Vườn cây thuốc bò lan ra lấp cả lối đi. Ngay cạnh nhà phòng nơi Cha ở có cây ngọc lan cổ thụ tỏa bóng che rợp nửa mái nhà dường như hoa nở quanh năm, lúc nào cũng tỏa hương thơm ngát cả khu vườn. Một lối đi lát gạch nghiêng chạy từ mảnh sân nhỏ trước cửa nhà phòng chia khu vườn thuốc thành nhiều hình góc cạnh rồi uốn lượn dần về phía sân tháp nhà thờ. Bên trên sân tháp là tháp chuông cao lừng lững. Hai bên lối đi trồng toàn cây trúc đào trổ những chùm hoa hồng thắm vào mùa hè. Hoa đầy cây, rực rỡ đấy mà không hề có bướm ong bay lượn. Sẽ khổ thay cho những con côn trùng nào bị màu sắc rực rỡ của loài hoa này quyến rũ. Khi đã dại dột đậu xuống thì không bao giờ còn cất cánh bay lên được. Dưới gốc cây, những nhánh cỏ thơm bò lan, vấn vít, vươn lên bám quanh thân cây sần sùi, thô nhám. Cỏ cây trong vườn Chúa thật lạ. Những nhánh cỏ tía ấy chỉ tỏa hương thơm khi bị gãy lìa hay bị những bước chân vô tình xéo nát. Ngoài vườn, cạnh bờ tường, một hàng có đến hơn chục gốc nhãn lồng có lẽ cũng gần bằng tuổi ông bõ. Mỗi khi vào mùa dâng hoa Đức Mẹ, hoa nhãn lại trút vàng cả dưới gốc. Một lần thấy Cha trẻ đi dạo, hai tay cầm cuốn sách dày chắp ra phía sau lưng, cúi đầu tư lự bước từng bước ngắn, Tê hỏi:

- Sách dạy gì mà làm Cha suy nghĩ nhiều vậy, thưa Cha?

Vị Cha trẻ dừng bước. Ông ngồi xuống bên cạnh chỗ Tê đang nhặt cỏ cho những gốc dâu tây. Vạt áo tu sĩ lòa xòa vướng vào những cành dâu non, ông cẩn thận gỡ vạt áo khỏi nhánh cây và kéo về phía mình. Tê vừa cắm cúi nhặt cỏ vừa liếc mắt nhìn trộm bàn tay trắng trẻo có những ngón thon, dài của Cha. Ông đặt cuốn sách lên một viên gạch và cũng bắt đầu nhổ cỏ.

- Sách dạy về triết học con ạ.

Tê băn khoăn nhìn cuốn sách:

- Triết học có giống như toán học không, thưa Cha?

Vị Cha trẻ nhìn Tê. Ông mỉm cười âu yếm:

- Không giống nhau đâu con ạ! Sách dạy về nhiều điều lắm! Có những điều mà Cha phải đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm nhiều đêm mới hiểu được ít nhiều.

Cha trẻ trả lời câu hỏi của Tê bằng một giọng trầm nhẹ như gió thoảng. Tê lặng thinh. Nó nghĩ, người có sự học uyên thâm như đức Cha mà vẫn chưa hiểu hết cái sự sâu xa trong cuốn sách dày cộp kia!

- Con học xong bài chưa mà đã ra vườn thế vậy?

Mắt Tê sáng lên:

- Trình Cha, con đã học thuộc tất cả các bài ở lớp với bài của Người dạy rồi ạ!

Cha trẻ nhìn nó gật đầu hài lòng. Tự nhiên nó muốn sà vào lòng Cha, muốn rúc sâu vào trong vạt áo tu sĩ màu đen lại bung ra lòa xòa trên mặt đất. Với Tê, càng ngày nó càng thấy hơn cả Đức Chúa Ba ngôi ấy là Cha trẻ, sau nữa mới đến ông bõ, người đã dày công dưỡng dục từ khi bế nó ra khỏi chiếc làn mây cũ.

Năm mười ba tuổi, Tê lớn phổng phao và đã có nét mềm mại, duyên dáng thiếu nữ mà nó không nhận thấy. Vị Cha trẻ thấy đã đến lúc không thể trì hoãn việc đưa Tê xuống nhà dòng nữ tu xứ Châu Phát mặc dù thực tâm ông cũng thấy lưu luyến con bé còn ông bõ thì đau lòng thực sự. Ông lão gầy rộc đi rồi đổ bệnh. Mọi việc dọn dẹp trong nhà thờ chỉ trông vào con bé. Rồi báo chí bàn nhiều đến việc giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Thuở nhỏ, vị Cha trẻ đã nếm mùi tàn khốc của chiến tranh. Cha đã thoát chết trong một trận càn của giặc Pháp. Họ bắn cả vào nhà thờ đang buổi lễ trọng. Thân mẫu cùng đứa em gái của Cha còn đang được bế trên tay đã không bao giờ ra khỏi cổng nhà thờ ấy được nữa! Họ chìm trong đống gạch vỡ vụn và máu. Thị xã này tuy chỉ là cái dấu chấm trên bản đồ nhưng lại nằm trên con đường huyết mạch Bắc - Nam của đất nước. Những chuyến hàng tiếp viện cho mặt trận đều đi qua đây cả bằng đường sông và đường bộ. Vậy nên khi chiến tranh xảy ra, bom đạn đổ xuống nơi này là điều không thể tránh khỏi. Trong những buổi lễ, sau khi rao giảng Kinh thánh, ông nhắc nhủ con chiên hãy làm tròn bổn phận của mình để ngăn chặn chiến tranh, để bom đạn kẻ dữ không rơi vào đất Chúa. Trẻ con phải được học hành và sống bình an trong mái nhà của cha mẹ. Lời Cha vang vọng, thôi thúc, rưng rưng. Chưa khi nào Tê thấy Cha như thế. Dân ngoài phố đã bắt đầu lục tục đi sơ tán về các vùng ngoại vi. Cha xứ muốn cha con ông bõ cùng đi sơ tán với mọi người mà ông bõ không chịu. Cuối cùng chỉ có một mình Tê đi theo lớp học sơ tán về thôn Đầu Núi cách nhà thờ gần chục cây số. Thế mà chỉ vài ngày nó lại mò về một lần. Tòa Giám mục dưới Châu Phát triệu Cha trẻ về liên tục để hội kiến. Ngay hôm đầu tiên máy bay địch đánh vào thị xã, đang ở Châu Phát ông vội vã đạp xe về. Gần đến nơi ông đã thấy cảnh hoang tàn đến ngơ ngác ở khu ga xe lửa. Nhiều người đang hối hả cứu hàng. Phía cuối sân ga, khuất sau mấy toa tàu bỏ trống, có ba đứa trẻ con nhếch nhác đang hè nhau vét đống gạo trắng bị đổ dưới đất. Mỗi đứa chỉ vét đầy gạo vào cái túi vải đeo bên mình rồi kéo nhau tuồn ra khỏi ga đi về phía nhà thờ. Cha xứ cũng lên xe đạp cùng lối với ba đứa trẻ. Máy bay. Cả Cha xứ, ba đứa trẻ và ba túi gạo cùng dạt vội vào cổng nhà thờ. Cha về nhà mình còn ba đứa trẻ tìm nơi che chở. Bom nổ. Rồi lại bom nổ. Cả nhà thờ biến mất trong khói bụi. Khói bụi tan, chỉ còn thấy tháp chuông chênh vênh, sứt mẻ, duy chỉ có cây thánh giá trên đỉnh tháp là còn nguyên vẹn. Những người cứu nạn tìm thấy ba đứa trẻ đang sợ chết khiếp trong góc căn hầm trú ẩn ngay cạnh cổng. Ngoài cửa hầm còn mắc lại vạt áo choàng đen của vị tu sĩ. Sau trận bom, Tê bổ về. Nó ngơ ngác đứng trước những hố bom sâu hoắm. Nó cào bới đống gạch vụn như hóa rồ, mãi đến khi ông bõ kéo nó rời khỏi đống gạch vữa ngổn ngang thì mười đầu ngón tay nó đã đầm đìa máu. Từ khi ấy cho đến mãi sau này không khi nào Tê thôi nghĩ đến việc đi tìm người cha linh hồn của mình. Tê là người chung thủy với thần tượng của mình hơn tất thảy những người đàn bà chung thủy khác. Tê nhìn cuộc đời vô cùng trong trẻo bởi lúc nào cô cũng chỉ là thiếu nữ mười ba tuổi. Nhà thờ không còn, cha con ông bõ theo mọi người về nơi sơ tán. Hòa bình rồi cha con ông bõ cũng không về thị xã. Ngày ngày hai cha con ông về cảng sông sau núi Cánh Diều mót than đổi cho những người nung vôi trong Kỷ Vân. Cuộc sống lầm lụi nhưng Chúa ban cho Tê những nét xinh đẹp giấu dưới lớp bụi than nhem nhuốc. Có một dạo, tự nhiên Tê biến mất có dễ đến hơn một năm trời. Người ta xì xào, rồi người ta quên lãng. Chỉ có Tê càng ngốc nghếch hơn khi trở về với cái dáng mẹ xề. Mỗi khi vợ ông chủ lò vôi vẫn đổi than cho Tê bồng con ra đứng chơi ngoài cửa Tê lại sấn đến đòi bế đứa trẻ. Nghe đâu cũng dạo ấy vợ chồng ông chủ lò vôi chạy chữa mãi mới có được đứa trẻ trai kháu khỉnh như vậy. Bà vợ ông chủ lò vôi có đứa con nhưng người cứ quắt lại, còn Tê trắng trẻo, phây phây như nàng công chúa mới được lột xác từ con ếch với bộ ngực căng tròn lúc nào cũng thơm hơi sữa. Hàng ngày Tê lại quẩy quang gánh đi mót than ở cảng. Rồi Tê ốm. Trận ốm “thập tử nhất sinh”. Tê không chết nhưng càng ngày càng ngây ngây dại dại. Trông thấy ai, Tê cũng ngây ngô cười, níu người ta lại kể Chúa đã ban cho cô một thiên thần bé nhỏ. Người ta hỏi thiên thần ấy đâu rồi. Tê cười ngây ngô: “Chúa lại đem cho người khác mất rồi!”. Có người xui cô đi tìm Chúa mà đòi. Chả phải xui, Tê vẫn có ý đợi. Người mà Tê chờ đợi còn có quyền năng hơn cả Chúa Lời. Chiều thứ bảy chủ nhật nào Tê cũng về quỳ giữa đống đổ nát của nhà thờ cầu nguyện và chờ đợi. Tê đã dâng trọn trái tim thiếu nữ trong trắng, trinh nguyên cho người ấy. Tê không nhận thấy mái tóc mình đã có nhiều sợi bạc. Và Tê đã đợi được. Người ấy đã về. Với Tê, đống đổ nát ấy vẫn là thiên đường có những lối đi lát gạch nghiêng nho nhỏ dưới bóng hàng cây trúc đào và cỏ thơm bò lan vấn vít bước chân. Lối đi của những thiên thần. Tê và người ấy đã từng bước trên lối đi ngan ngát hương ngọc lan với hương cỏ thơm trong vườn Chúa.

Lũ học trò không còn thấy buồn cười khi ông thầy dạy toán của chúng thường đứng lặng trên ban công tầng ba trường học nhìn theo người đàn bà gánh than bước từng bước nhọc nhằn dưới đường. Mấy trò gái ghé tai nhau thì thào: “Ông ấy cũng điên mất rồi!” “Không biết bà Xuyên chủ nhiệm 10A9 ấy nghĩ gì nhỉ? Bà ấy cứ ca mãi Tình đơn cô...”. Tăng cắp cặp giáo án đi lên. Chúng bấm nhau: “Đến đấy!”. Nhìn chúng chí chóe chen nhau vào lớp, Tăng khẽ lắc đầu. Lũ học trò cả trai và gái 12C4 đều cao to lộc ngộc cả rồi. Tăng chỉ còn dạy chúng vài tháng nữa. Mỗi tiết dạy của Tăng, cả thầy và trò đều “cày” nát những trang giáo án, mệt bở hơi tai. Tăng chợt thấy, nghề dạy học của anh cũng nhọc nhằn như người đàn bà dở hơi gánh than trên phố. Tăng chạnh lòng khi cả tuần nay không thấy Tê gánh than đi qua cổng trường.

Hết giờ học, bọn trò gái không thấy Tăng đứng trên lan can tầng ba nhìn xuống như mọi khi. Hôm sau, tiết toán của thầy có thầy khác dạy thay. Bọn chúng nhìn nhau: “Thầy ốm! Nhưng sao không thấy cô chủ nhiệm 10A9 tất bật như những khi thầy ốm trước đây?”. Cuối buổi học, bọn trò gái đạp xe đến nhà thầy. Cửa khóa.

Hai hôm sau, cả thị xã xôn xao về một đám tang kỳ lạ. Theo sau chiếc quan tài từ nhà tang lễ bệnh viện tỉnh đi ra là người đàn ông khắc khổ trên tay nâng một vòng hoa trắng. Lặng lẽ sau ông có hai hàng các cô gái trẻ áo dài trắng muốt, trên tay mỗi người cầm một cành hoa huệ trắng như màu áo. Sau nữa là những chàng trai trẻ, rồi đến những người hiếu kỳ. Cả đoàn đi im lặng. Không kèn, không trống, không hát thánh ca, không kinh sám hối, chỉ có nét bi thương hiện rõ trên gương mặt mỗi người.

Ở đám mây bảy sắc cầu vồng trên cao, người ta nhìn thấy Tê mỉm cười, tin cậy.





 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 2.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo