Vô ngôn

Thứ bảy - 06/10/2018 13:02
yasunari kawabata

Nhà văn Yasunari Kawabata (1899 - 1972) là người châu Á thứ ba và là người Nhật Bản đầu tiên được trao giải Nobel văn chương năm 1968 cho lối kể chuyện bậc thầy, sự nhạy cảm lớn lao thể hiện được cốt cách của tinh thần Nhật Bản. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt như các tiểu thuyết: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Người đẹp say ngủ, Đẹp và buồn, Hồ...
Truyện ngắn
Vô ngôn được Yasunari Kawabata chọn in trong tập Tuyết đầu trên đỉnh Phú Sĩ năm 1958. Tập truyện này đã được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Mĩ năm 1999.



Người ta nói rằng Omiya Akifusa sẽ không nói thêm một lời nào nữa. Rằng lão sẽ chẳng viết thêm một chữ nào - dù lão là nhà văn và mới sáu mươi. Điều này không chỉ có nghĩa là lão sẽ không viết tiểu thuyết nữa, mà còn có nghĩa là lão sẽ không viết thêm một chữ hay một nét nào.

Tay phải của lão Akifusa giờ đã liệt và cũng vô dụng như lưỡi của lão vậy. Nhưng tôi nghe nói lão còn cử động tay trái được chút ít, nên chắc là nếu muốn thì lão vẫn có thể viết được. Cứ cho là lão không viết được một đoạn dù ngắn dù dài thì lão vẫn có thể viết chữ bằng kí tự katakana(1) thật lớn khi cần ai đó làm gì cho mình. Và vì lão không còn nói được - cũng không thể ra dấu hay làm hiệu lệnh - nên ngay cả kí tự katakana xiên xẹo nhất cũng có thể giúp thể hiện ý nghĩ và cảm xúc của lão mà không cách nào khác làm được. Như thế chắc chắn sẽ bớt hiểu lầm.

Dù chữ viết có khó đọc thế nào thì chắc chắn vẫn dễ hiểu hơn nhiều so với ngôn ngữ cơ thể lóng ngóng hay cử chỉ ngượng ngùng. Giả dụ lão già Akifusa ra hiệu được rằng lão muốn uống gì đó - bằng cách chu môi lại như đang mút chẳng hạn, hoặc bắt chước hành động đưa cái cốc lên miệng - thì cũng rất khó mà biết được lão muốn uống nước, trà, sữa hay thuốc. Lão sẽ phân biệt nước và trà bằng cách nào đây? Nếu viết được “nước” hoặc “trà” thì rõ ràng hơn biết bao. Ngay cả một chữ cái “n” hay “t” cũng sẽ truyền tải được điều này.

Chẳng lạ lùng lắm hay sao, khi một người kiếm sống đã bốn mươi năm bằng cách dùng các nét và các chữ để viết, nay gần như đã đánh mất đi hoàn toàn các chữ và các nét ấy, cũng nhờ vậy mà hiểu ra được quyền năng của chúng một cách cơ bản và rõ ràng nhất - một người mà nay đã có thể sử dụng từ ngữ với hiểu biết như vậy - lại từ chối sử dụng ngôn từ. Chỉ một chữ “n” hay “t” thôi cũng có thể đáng giá hơn tất cả những cơn lũ, thật sự là những cơn lũ cuồn cuộn của ngôn từ mà lão đã viết trong đời. Chữ cái duy nhất đó sẽ là một tuyên ngôn rành mạch hơn, một tác phẩm quan trọng hơn tất thảy. Nó sẽ có nhiều quyền năng hơn tất thảy.

Tôi nghĩ mình sẽ tìm cách nói điều này với Akifusa khi đến gặp lão.

Từ Kamakura đi đến Zushi bằng ô tô thì phải đi qua một đường hầm và đường sá thì không mấy dễ chịu. Có một đài hỏa thiêu ở ngay trước đường hầm, và người ta đồn rằng gần đây có một hồn ma thường xuất hiện ở đó. Hồn ma của một cô gái trẻ hiện lên trong những chiếc xe đi qua đài hỏa thiêu vào ban đêm.

Khi chúng tôi đi ngang qua đoạn này thì trời hãy còn sáng, nên không có gì phải lo, dù vậy tôi vẫn hỏi cậu tài xế taxi trông quen mặt xem cậu ta có biết gì không.

“Tôi thì tôi chưa gặp cô ta, chưa - nhưng có người trong công ti tôi thì đã cho cô ta đi nhờ xe rồi. Mà không chỉ hãng chúng tôi, cô ta còn đi nhờ xe của các hãng khác nữa. Chúng tôi thường sắp xếp sao cho khi đi qua đoạn này vào ban đêm thì sẽ gọi thêm một người đi cùng”, cậu tài xế nói. Dựa vào cách nói thì anh chàng đã lặp đi lặp lại câu chuyện này đến phát mệt.

“Cô ta xuất hiện ở đâu?”

“Còn đâu nữa. Lúc nào cũng là những xe trống từ Zushi về”.

“Có người trong xe thì cô ta không xuất hiện à?”

“Theo những gì tôi nghe được thì là xe trống trên đường về. Gần đến đài hỏa thiêu thì cô ta mờ đi, tôi đoán vậy. Và từ những gì tôi nghe được thì không phải là kiểu xe dừng lại rồi cô ta mới bước vào đâu. Anh sẽ không biết cô ta lên lúc nào. Tài xế sẽ thấy là lạ, quay lại, rồi thấy người phụ nữ trẻ ngồi đó. Nhưng vì cô ta là ma nên nhìn vào gương chiếu hậu thì không thấy gì cả”.

“Kì lạ thật. Chắc là ma thì không có bóng trong gương chăng?”

“Chắc là không. Người ta nói là cô ta không có bóng. Kể cả mắt người có nhìn được…”

“Phải rồi, nhưng mắt người nhìn thấy cô ta, phải không? Gương thì không dễ để lại ấn tượng”, tôi nói. Nhưng tất nhiên cặp mắt nhìn vào gương thì chẳng phải cũng là mắt người hay sao?

“Nhưng cũng không chỉ có một hai người nhìn thấy cô ta”, cậu tài xế nói.

“Cô ta thường đi bao xa?”

“Chậc, thì anh phát hoảng rồi thần hồn nát thần tính, vì thế sẽ cố lái đi thật nhanh, cho đến khi về đến trung tâm Kamamura thì anh bình tĩnh hơn, lúc đó thì cô ta cũng biến mất rồi”.

“Vậy hẳn là cô ta ở Kamamura. Cô ta chắc là muốn về thăm nhà. Họ không biết cô ta là ai ư?”

“À, chuyện đó thì tôi không biết…”

Kể cả có biết, hoặc nếu cánh lái taxi có truyền tai nhau xem cô ta là ai, hay cô ta nhà ở đâu, thì tôi nghi là anh chàng này cũng không bất cẩn mà kể cho một hành khách nghe.

“Cô ta mặc một bộ kimono, hồn ma ấy - một người phụ nữ khá nhan sắc. Không phải là có ai ngoái lại mà nhìn cô ta hay làm sao. Chẳng ai đi nhìn chằm chằm vào mặt hồn ma cả”.

“Cô ta có nói gì bao giờ không?”

“Tôi nghe nói là cô ta chẳng nói gì. Ít nhất thì cũng phải cảm ơn mới phải chứ, đúng không? Nhưng tất nhiên có nói thì ma quỷ cũng chỉ phàn nàn thôi”.

Ngay trước khi vào hầm, tôi ngước lên nhìn ngọn núi có đài hỏa thiêu. Đây là nhà hóa thân thành phố Kamamura, nên có thể hầu hết những người được hỏa thiêu ở đây sẽ muốn về thăm nhà ở Kamamura. Có một người phụ nữ như biểu tượng cho tất cả những người đã chết đi vòng quanh suốt đêm trong những chiếc taxi vắng thì cũng hay. Nhưng tôi không tin chuyện này.

“Tôi thì không nghĩ là hồn ma lại cần đi taxi. Họ đi đâu, xuất hiện đâu chẳng được?”

Xe chúng tôi đến nhà của Omiya Akifusa không lâu sau khi ra khỏi hầm.

Bầu trời lúc bốn giờ chiều nhiều mây và ửng màu hồng đào, báo hiệu mùa xuân đang đến. Tôi ngần ngừ một lúc trước cổng nhà lão Omiya.

Tôi mới tới thăm lão Akifusa hai lần trong tám tháng kể từ khi lão trở thành một thứ hồn ma sống. Lần đầu là ngay sau khi lão bị đột quỵ. Lão hơn tôi đâu hai chục tuổi, một người tôi kính trọng, một nhà văn đã bảo trợ cho tôi - thật khó cho tôi khi nhìn lão thế này, xấu xí và khổ sở.

Nhưng tôi biết rằng nếu Akifusa bị đột quỵ một lần nữa thì chắc sẽ là kết thúc. Chúng tôi sống ở hai thị trấn cận kề - chúng tôi vẫn nói Zushi và Kamamura cách nhau không quá một quãng đồng - và vì tôi đã lờ đi không viếng thăm nên lương tâm bắt đầu thấy không ổn. Số người đã rời khỏi thế giới này khi tôi bận cân nhắc xem có tới thăm họ hay không rồi lại không tới là không nhỏ. Điều này diễn ra thường xuyên đến độ tôi tin rằng cuộc sống đơn giản là thế. Tôi đã nghĩ đến việc xin lão Akifusa viết gì đó cho tôi trên một tờ giấy hansetsu(2) nhưng ý tưởng này giờ đây dường như vô nghĩa. Và chuyện tương tự cũng đã xảy ra với tôi mấy lần rồi. Đột tử không phải là thứ mà tôi có thể coi thường. Tôi hoàn toàn hiểu rằng mình cũng có thể chết bất cứ lúc nào - có thể là vào một đêm trời bão - mà tôi cũng không chăm sóc tốt cho bản thân mình.

Tôi biết có những nhà văn khác đã đột tử vì xuất huyết não hoặc trụy tim - nhưng chưa bao giờ nghe nói ai sống sót mà bị bại liệt như lão Akifusa. Nếu ta coi cái chết là nỗi bất hạnh lớn nhất thì phải nói là Akifusa đã cực kì may mắn vì được tiếp tục sống, mặc dù trở thành một bệnh nhân không có cơ may phục hồi - một người tàn phế. Nhưng hầu hết chúng ta cũng khó mà cảm thấy may mắn theo nghĩa này. Cũng khó mà nói Akifusa có cảm thấy mình may mắn hay không.

Akifusa mới bị đột quỵ tám tháng, nhưng tôi nghe nói số người đến thăm lão đã giảm đi nhiều. Nói chuyện một ông già điếc đã là khó, nói chuyện với một người vẫn còn nghe được nhưng không nói được còn khó hơn. Lão hiểu ta nói gì với lão, mặc dù ta không hiểu lão muốn nói gì với ta - điều này còn kì lạ hơn là nói chuyện với người điếc.

Vợ lão Akifusa đã mất từ lâu. Lão có hai đứa con gái, nhưng đứa thứ đã lấy chồng và chuyển đi, còn Tomiko, đứa đầu, thì ở lại để chăm sóc cha. Lão Akifusa cũng không thực sự cần tái hôn, vì Tomiko đã quán xuyến hết việc nhà - mà quả thật, lão còn thích thú với những tự do của cuộc sống độc thân - và cũng có thể nói là chính vì thế mà Tomiko đã buộc phải chịu những hi sinh nhất định vì cha. Chuyện lão Akifusa vẫn sống độc thân, tuy rằng lão có nhiều mối tình, cũng cho thấy sức mạnh ý chí của lão lớn đến mức vượt qua được những cảm xúc - hoặc có lẽ đằng sau đó còn có chuyện gì khác.

Người con thứ cao ráo và có những đường nét xinh đẹp lạ thường - cô có phần giống cha hơn cô chị - nhưng nói thế không có nghĩa Tomiko là mẫu phụ nữ không lấy được chồng. Tất nhiên cô không còn trẻ nữa - cô sắp sửa bốn mươi, nên gần như không tô son điểm phấn gì - nhưng ở cô người ta cảm nhận được nét gì trong trắng. Cô có vẻ vốn là người ít nói, nhưng không hề có nét gì là u buồn hay khó chịu như một bà cô. Có lẽ sự tận tụy với cha cũng an ủi cô phần nào.

Những người đến thăm luôn nói chuyện với Tomiko thay vì Akifusa. Cô ngồi cạnh gối của cha.

Tôi giật mình khi thấy Tomiko đã gầy đi nhiều. Sự ngạc nhiên ấy là một điều kì lạ, vì Tomiko xưa nay vốn đã gầy - nhưng kể cả như vậy, thấy Tomiko bỗng già đi và héo hắt hơn, tôi cảm thấy trầm uất. Tôi chợt nhận ra những người trong căn nhà này đã phải chịu nhiều đau khổ.

Sau khi nói những lời không đâu của một khách thăm bệnh thì chẳng còn gì để nói nữa, nên cuối cùng tôi nói một chuyện mà lẽ ra không nên nói.

“Người ta đồn là có một hồn ma hay xuất hiện ở phía bên kia đường hầm - cô có nghe không? Thật ra là tôi đã hỏi chuyện cậu tài xế trên đường đến đây…”

“Thật hả anh? Tôi lúc nào cũng ở nhà - chưa nghe thấy gì cả”. Rõ ràng là cô muốn biết nhiều hơn, nên tôi tóm tắt những gì tôi biết, dù vẫn nghĩ là tốt hơn không nên nêu ra chuyện này.

“Đây là chuyện cũng khó mà tin được - ít nhất là cho tới khi tận mắt nhìn thấy. Tất nhiên, có tận mắt chứng kiến thì cũng chưa chắc đã tin. Suy cho cùng thì lúc nào cũng có thể có ảo giác”.

“Anh Mita, anh nên tìm hồn ma đó tối nay - xem nó có thật không”, Tomiko nói. Cô ấy nói như thế thật kì lạ."

“Ồ, nhưng cô biết đấy, nó không xuất hiện khi trời còn sáng”.

“Nếu anh ở lại dùng bữa thì lúc đó mặt trời đã lặn”.

“Tôi e là không được. Thêm nữa, hình như hồn ma chỉ xuất hiện khi xe không có khách”.

“Nếu vậy thì anh khỏi phải lo gì nữa, đúng không? Cha tôi nói là ông rất hài lòng vì anh đã đến, và mong anh thấy tự nhiên như ở nhà. Cha ơi - cha muốn anh Mita ở lại dùng bữa đúng không?"

Tôi nhìn sang lão Akifusa. Dường như lão già vừa gật đầu trên gối. Lão có thấy hài lòng vì tôi đến thăm không? Tròng trắng trong đôi mắt lão đã mờ đục và nhòe nhoẹt, và có những vẩn vàng nhoen cả đến con ngươi, nhưng sâu dưới lớp nhoèn đục đó thì con ngươi của lão dường như đang lấp lánh. Có vẻ như khi những tia lấp lánh ấy bùng lên thành ngọn lửa thì lão sẽ bị đột quỵ lần nữa - chuyện đó có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào - và tôi thấy nao người.

“Tôi chỉ e sẽ làm cha cô mệt nếu ở lại quá lâu, và có thể sẽ…”
“Không. Cha tôi không mệt đâu”, Tomiko nói dứt khoát. “Tôi cũng thấy là giữ anh lại với một người bệnh nặng như cha tôi là không thoải mái cho anh, nhưng cha tôi sẽ nhớ rằng ông cũng là nhà văn khi có một nhà văn khác ở đây…”

“Ông ấy... sao cơ?”

Tôi có phần ngạc nhiên trước sự thay đổi trong giọng điệu của Tomiko, nhưng cũng chuẩn bị tinh thần ở lại thêm một lúc.

“Chắc chắn cha cô luôn ý thức mình là nhà văn rồi”.

“Có một cuốn tiểu thuyết của cha tôi mà tôi nghĩ đến rất nhiều từ khi ông bị thế này. Ông viết về một cậu bé muốn trở thành nhà văn - gần như ngày nào cậu cũng soạn những lá thư kì lạ cho ông, cho đến một ngày thì cậu hóa điên và được đưa vào nhà thương. Bút và hộp mực bị coi là nguy hiểm, bút chì cũng vậy, nên cậu không được giữ những thứ đó. Giấy thếp là thứ duy nhất mà cậu được phép có trong phòng. Trông cậu như lúc nào cũng ngồi trước giấy và viết... ít ra thì cậu nghĩ là cậu đang viết. Nhưng trang giấy lúc nào cũng trắng. Những chuyện đó là có thật, còn lại là hư cấu của cha tôi. Lần nào mẹ cậu đến thăm, cậu cũng nói - Mẹ, xem con viết này, mẹ, mẹ đọc đi chứ? Mẹ đọc cho con nghe đi? Mẹ cậu sẽ nhìn vào tờ bản thảo cậu đưa mà không có gì trên đó, và bà muốn khóc vô cùng, nhưng vẫn nói - Ôi, con viết hay lắm, hay quá! - và bà sẽ mỉm cười. Mỗi lần mẹ đến cậu lại giục bà đọc bản thảo cho nghe, và bà bắt đầu đọc từ trang giấy trắng. Bà nhận ra bà có thể kể cho cậu nghe những câu chuyện của chính mình. Đó là đại ý của cuốn tiểu thuyết. Người mẹ kể cho con mình nghe về thời thơ ấu của cậu. Cậu bé điên chắc hẳn đã nghĩ rằng mẹ cậu đang đọc những kí ức mà cậu viết ra - và cậu đang nghe những thứ ấy. Mắt cậu lấp lánh hãnh diện. Người mẹ không biết con trai có hiểu mình đang nói gì không, nhưng lần nào đến bà cũng kể lại câu chuyện đó, và càng ngày bà càng kể hay hơn - đến mức trông như bà đang kể câu chuyện của chính con mình. Bà nhớ lại những chuyện đã quên. Và kí ức của cậu bé cũng trở nên đẹp hơn. Cậu bé đã gợi câu chuyện của mẹ mình ra, giúp đỡ bà, thay đổi câu chuyện - không còn cách nào phân biệt cuốn tiểu thuyết là của ai, của người mẹ hay của cậu bé. Khi người mẹ nói chuyện, bà tập trung đến nỗi quên đi bản thân mình. Bà quên đi việc con trai mình bị điên. Miễn là cậu nghe mẹ kể bằng tất cả sự tập trung của mình thì cũng không thể biết cậu có điên hay không - cũng có thể cậu vừa điên vừa tỉnh. Và trong những lúc như vậy thì tâm hồn của người mẹ và của cậu bé hòa vào làm một - như thể cả hai người họ đang sống trên thiên đường - và cả hai đều hạnh phúc. Người mẹ càng đọc, cậu bé có vẻ càng khá lên, nên bà tiếp tục đọc trên trang giấy trắng”.

“Đó là cuốn Những điều mẹ đọc được, phải không? - một trong những kiệt tác của cha cô. Một tác phẩm không thể quên”.

“Cuốn sách được viết ở ngôi thứ nhất - cậu bé là người xưng ‘tôi’ - nhưng có những chuyện mà cậu nhớ được về tuổi thơ của cậu thực ra lại là những chuyện đã xảy ra với tôi và em gái tôi hồi nhỏ. Cha tôi cho những chuyện đó xảy ra với một cậu bé…”

“Thật vậy ư?”

Đây là lần đầu tiên tôi nghe chuyện này.

“Tôi thật sự không hiểu sao cha lại viết một cuốn tiểu thuyết như vậy. Cuốn sách làm tôi sợ - nhất là bây giờ khi ông bị thế này. Cha tôi không điên, và tôi cũng không thể giống như người mẹ nọ, đọc cho ông một cuốn tiểu thuyết chưa được viết ra - nhưng tôi thật sự băn khoăn không biết ông có đang thầm viết một cuốn tiểu thuyết trong đầu hay không”.
Tôi chợt nhận ra rằng Tomiko là một người đặc biệt - có thể nói ra những thứ như vậy mặc dù lão Akifusa có lẽ vẫn nghe được từng lời. Tôi không biết đáp lại ra sao.

“Nhưng cha cô đã viết rất nhiều tác phẩm xuất sắc - ông và cậu bé mê văn kia khác nhau hoàn toàn”.

“Anh nghĩ vậy à? Tôi nghĩ cha tôi vẫn còn muốn viết”.

“Tất nhiên, dù không phải ai cũng đồng ý”.

Cá nhân mà nói thì tôi nghĩ lão viết cũng khá đủ rồi, nhưng nếu lâm vào tình cảnh của lão Akifusa thì tôi cũng không biết mình sẽ nghĩ gì.

“Chỉ là tôi không viết thay cho cha tôi được. Giá mà tôi viết được Những điều con đọc được thì hay biết mấy, nhưng tôi không làm được…”

Giọng của cô nghe như một người phụ nữ trẻ đang sống trong địa ngục. Việc Tomiko đã trở thành kiểu phụ nữ nói những điều như vậy - phải chăng liên tục trông nom cha, một bóng ma sống, cô bị ám bởi một điều gì đó trong ông? Tôi nhận ra cô có thể sẽ viết một cuốn sách chứa đầy những kí ức tồi tệ khi lão Akifusa chết. Tôi bắt đầu cảm thấy một nỗi căm ghét dấy lên.

“Nếu như cô thử viết về cha cô…”

Tôi dằn lòng không nói thêm là khi lão hãy còn sống. Tôi chợt nhớ một vài lời của Marcel Proust. Một quý ông đã chà đạp rất nhiều người trong hồi kí của mình, nên khi nó cuối cùng cũng sắp sửa được xuất bản, ông viết, “Tôi đang cận kề cái chết. Mong là người ta không dìm tên tôi xuống bùn nhiều quá vì tôi sẽ chẳng thể đáp lại”. Không phải là Tomiko và Akifusa thì giống như vậy. Họ không phải người dưng - mà quả thật, giữa họ có thể còn có một sự trao đổi tình cảm bí ẩn hay trái thói, hơn cả điều mà hầu hết những người cha và con gái trải qua.

Tôi chợt có ý nghĩ kì lạ là Tomiko có thể sẽ viết về cha cô như thể cô đã trở thành ông ấy.

Dù trở thành một thứ rỗng tuếch hay một tác phẩm nghệ thuật lay động lòng người thì nó đều có thể sẽ an ủi được phần nào hai cha con họ. Akifusa có thể sẽ được cứu rỗi khỏi cảnh im lặng tuyệt đối của mình, khỏi cơn đói ngôn từ. Đói ngôn từ quả thật là một thứ không chịu đựng được.

“Cha cô sẽ hiểu những gì cô viết, và ông sẽ có thể đánh giá được - cô không phải đọc từ một trang giấy trắng, và nếu cô thực sự viết về cha mình, nếu cô cho ông nghe cô đọc…”

“Anh có nghĩ nó sẽ là tác phẩm của cha tôi không? Dù chỉ là chút ít...”

“Chắc chắn là phần nào, ít nhất là thế. Có gì hơn thì trời phật mới quyết định được, và cũng phụ thuộc xem hai người thân thiết với nhau như thế nào nữa. Tôi không cách nào biết được”.

Nhưng đúng là một cuốn sách được viết như vậy thì sẽ sống động hơn là một cuốn hồi kí viết sau khi Akifusa chết. Nếu thành sự thì cuộc sống mà lão đang sống cũng có thể nên thơ một cách quý báu.

“Kể cả cha cô có tiếp tục im lặng thì ông vẫn có thể giúp cô, ông vẫn có thể sửa lỗi cho cô”.

“Nếu rốt cuộc nó chỉ là tác phẩm của riêng tôi thôi thì sẽ chẳng có ý nghĩa gì hết. Tôi sẽ phải bàn bạc thật cẩn thận với cha tôi”. Giọng Tomiko trở nên sống động.

Dường như tôi lại lắm lời lần nữa. Việc làm này chẳng phải như ép người lính trọng thương phải quay lại mặt trận hay sao? Như xâm phạm vào một thánh địa của thinh lặng? Không phải là lão Akifusa không thể viết - lão vẫn viết được chữ hay kí tự nếu muốn. Có khi lão đã chọn im lặng, chọn không nói lời nào vì một nỗi buồn, một sự nuối tiếc sâu sắc nào đó. Chẳng phải kinh nghiệm bản thân đã dạy tôi rằng không có lời nào nói được nhiều bằng thinh lặng hay sao?

Nhưng nếu lão Akifusa vẫn tiếp tục im lặng - nếu lời của lão phải từ Tomiko mà cất lên - thì chẳng phải đó cũng là một trong những sức mạnh của sự im lặng hay sao? Nếu một người không tự cất lời thì những người khác sẽ nói thay cho anh ta. Mọi thứ đều cất tiếng.

“Xin phép anh, cha tôi nói nên mời anh ngay một chút sake, ít nhất cũng phải vậy”. Tomiko đứng dậy.

Bất giác tôi nhìn sang lão Akifusa, nhưng không có dấu hiệu gì là lão vừa nói.

Giờ chỉ còn lại hai người chúng tôi sau khi Tomiko rời đi, nên Akifusa quay mặt về phía tôi. Trông lão buồn buồn - có khi lão muốn nói gì chăng? Hay là lão khó chịu vì bị đặt vào tình thế phải nói gì đó? Tôi không còn cách nào ngoài phải tự mình lên tiếng.

“Chú nghĩ gì về chuyện Tomiko vừa nói?”

“...”
Tôi nói với sự im lặng.

“Cháu chắc chắn là chú có thể viết ra một tác phẩm hấp dẫn, rất khác so với Những điều mẹ đọc được. Cháu bắt đầu thấy thế khi nói chuyện với Tomiko”.
“...”

“Chú chưa bao giờ viết một tiểu thuyết ngôi tôi hay một cuốn tự truyện - bây giờ chú không viết được nữa, mượn bàn tay người khác để viết một tác phẩm như thế có thể sẽ giúp chú vén màn được một trong những định mệnh của nghệ thuật. Cháu không viết về bản thân, cũng không nghĩ là mình làm được, nhưng nếu cháu im lặng và có thể viết theo cách đó... cháu không biết là cháu sẽ cảm nhận được một niềm vui, như thể cuối cùng đã nhận ra được chân lí - cháu sẽ nghĩ, đây chính là con người của mình sao? - hay sẽ thấy toàn bộ chuyện này là thảm bại và bỏ cuộc. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, cháu chắc chắn đó cũng là điều thú vị”.
“...”

Tomiko quay lại, mang theo sake và đồ nhắm.

“Tôi có thể mời anh một chén được không?”

“Cảm ơn cô. Cháu mong chú tha thứ vì uống trước mặt chú, chú Omiya, nhưng - ồ, cảm ơn cô”.

“Tôi e là người bệnh như cha tôi không nói chuyện hay lắm”.

“Thật ra là tôi đang bàn tiếp chuyện lúc nãy với cha cô”.

“Vậy sao? Thực ra lúc hâm nóng sake tôi đã nghĩ là nếu tôi viết thay cho cha về tất cả những mối quan hệ của ông sau khi mẹ tôi qua đời, thì sẽ khá là hay. Ông kể cho tôi rất chi tiết về mọi mối quan hệ, thậm chí có những thứ ông đã quên rồi nhưng tôi vẫn nhớ... Anh Mita, tôi chắc anh cũng biết là có hai người phụ nữ đã lập tức chạy tới đây khi cha tôi bị đột quỵ”.

“Vâng”.

“Tôi không biết có phải vì cha tôi đã lâm vào tình trạng này lâu quá không, hay là vì tôi ở đây, nhưng họ không còn ghé lại nữa. Dù thế tôi vẫn biết mọi thứ về họ - ông đã kể hết cho tôi”.

“Nhưng cha cô không nhìn mọi thứ theo cách mà cô thấy”. Chuyện này là hiển nhiên, nhưng ngay cả thế Tomiko vẫn có vẻ khó chịu.

“Tôi không tin cha tôi đã nói dối tôi điều gì, và dường như qua thời gian tôi cũng bắt đầu hiểu được cảm xúc của ông…” Cô đứng dậy. “Nhưng anh nên tự hỏi ông. Tôi đi chuẩn bị bữa tối rồi quay lại”.

“Xin cô đừng bận tâm về tôi”.

Tôi đi theo Tomiko để mượn một cái cốc. Khi nói chuyện với một người câm thì tốt nhất là cứ mau chóng uống sake vào đi đã.

“Dường như những mối tình của chú đã trở thành tài sản của Tomiko rồi. Cháu đoán quá khứ là như vậy…”

“...”
Tôi đã ngần ngừ không muốn dùng từ “cái chết” - có lẽ vì thế mà tôi nói “quá khứ”.

Nhưng có chắc khi lão Akifusa còn sống thì quá khứ là tài sản của riêng lão hay không? Hay ta nên nghĩ về nó như một thứ tài sản chung?

“Có lẽ là nếu chúng ta trao được quá khứ của mình cho ai đó thì chúng ta sẽ muốn làm vậy”.
“...”

“Quá khứ không hẳn là thứ thuộc về bất kì ai - có lẽ cháu sẽ nói rằng người ta chỉ sở hữu những ngôn từ được dùng ở hiện tại để nói về quá khứ. Không chỉ là ngôn từ của một người - ngôn từ của ai không quan trọng. Không, chờ đã - dù vậy khoảnh khắc hiện tại vẫn thường là thinh lặng, phải không? Kể cả khi người ta đang nói chuyện như cháu đây, cái khoảnh khắc hiện tại chỉ là một âm thanh - ‘i’ hay ‘a’ hay ‘m’ - thật ra nó vẫn chỉ là sự im lặng vô nghĩa, phải không?”
“...”

“Không. Vô ngôn chắc chắc không phải là vô nghĩa, như chính chú đã… Cháu nghĩ là đến một lúc nào đó trước khi chết, cháu sẽ muốn chui vào trong im lặng, ít nhất là một lúc”.
“...”

“Cháu đã nghĩ về điều này trước khi đến, nhưng - hình như chú ít ra vẫn có thể viết bằng chữ katakana nếu muốn, vậy mà chú vẫn không chịu viết dù chỉ là một chữ. Chú không thấy bất tiện à? Nếu chú muốn làm gì - chẳng hạn như viết ‘n’ cho nước hay ‘t’ cho trà…”
“...”

“Có lí do sâu xa nào khiến chú từ chối viết không?”
“...”

“À, cháu hiểu rồi. Nếu những chữ cái đơn như ‘n’ hay ‘t’ đủ để ai đó làm gì, thì những âm như ‘i” hay ‘a’ hay ‘m’ hẳn cũng không vô nghĩa. Nó cũng giống như tiếng bi bô. Đứa trẻ hiểu là mẹ nó yêu nó. Có phải Những điều mẹ đọc được là vậy không? Ngôn từ bắt nguồn từ tiếng bi bô, vì vậy ngôn từ bắt nguồn từ tình yêu. Nếu chú quyết định viết chữ cái ‘c’ mỗi lần chú muốn nói cảm ơn - nếu thi thoảng chú viết chữ ‘c’ đó cho Tomiko - cô ấy sẽ hạnh phúc biết chừng nào”.
“...”

“Chỉ một chữ ‘c’ ấy thôi có lẽ sẽ chứa nhiều yêu thương hơn tất cả những cuốn tiểu thuyết chú đã viết trong bốn mươi năm qua, và có lẽ còn có nhiều sức mạnh hơn thế”.
“...”

“Sao chú không nói gì? Ít nhất chú vẫn có thể nói ‘aaa’ cơ mà - kể cả có dãi dớt. Sao chú không tập viết chữ ‘a’ đi?”
“...”

Tôi thiếu điều gọi vào bếp để bảo Tomiko mang bút chì và giấy vào thì nhận ra mình đang làm gì.
“Cháu làm gì thế này? Cháu e là cháu đã hơi say rồi - mong chú thứ lỗi”.
“...”

“Chú phải vất vả lắm mới đạt được sự im lặng này, vậy mà cháu lại đến phiền chú”.
“...”

Sau khi Tomiko quay lại tôi vẫn cảm thấy như thể mình vừa mới nói nhăng cuội. Những gì tôi làm chỉ là đi vòng quanh cái chu vi im lặng của lão Akifusa.

Tomiko dùng điện thoại của một tiệm cá gần đó để gọi cho cậu tài xế đã đưa tôi đến.

“Cha tôi nói là ông hi vọng anh thi thoảng sẽ trở lại thăm”.

“Vâng, tất nhiên rồi”.

Trả lời cộc lốc như vậy xong tôi lên xe.

“Cả hai cậu đều đến, tôi thấy rồi”.

“Mới đầu giờ tối mà lại có khách nên chắc cô ta không xuất hiện đâu - nhưng cứ phòng khi…”

Chúng tôi ra khỏi hầm về phía Kamakura và đi qua đài hỏa thiêu. Bỗng nhiên, với một tiếng gầm, chiếc xe bắt đầu bay lên.

“Cô ta có đây không?”

“Kia kìa. Đang ngồi cạnh anh đấy”.

“Há?”

Tác dụng của rượu biến mất trong chớp mắt. Tôi liếc sang bên cạnh.

“Đừng có dọa tôi thế. Tôi không có sức nào mà giáp mặt với chuyện này cả”.

“Cô ta kia kìa. Ở ngay kia kìa”.

“Vớ vẩn. Chậm thôi có được không - nguy hiểm lắm!”

“Cô ta ngồi ngay cạnh anh mà. Anh không thấy à?”

“Không, tôi không thấy. Tôi chẳng thấy gì hết”, tôi nói. Nhưng nói vậy tôi bắt đầu rợn người. Tôi cố ra vẻ can đảm. “Nếu cô ta ở đây thật - anh nghĩ sao, tôi có nên nói gì với cô ta không?”

“Đ… đừng có đùa như thế. Nói chuyện với ma sẽ bị nguyền đấy. Anh sẽ bị ma ám đấy. Ý gì mà thấy ớn - đừng. Cứ im lặng cho đến khi đưa cô ta tới Kamakura rồi mọi chuyện sẽ ổn”.
 
NGUYỄN PHƯƠNG LAN dịch từ bản tiếng Anh
-----------
 
1. Tức “chữ cứng”, một kiểu chữ viết bằng các nét thẳng, cong, và gấp khúc đơn giản trong tiếng Nhật.
2. Một kiểu giấy viết thư pháp khổ nhỏ, cỡ khoảng 35x135 cm.
 

 


 
 Từ khóa: Yasunari Kawabata, vô ngôn
Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo