Làng cá Trương Định

Thứ hai - 01/05/2017 13:30
.NGUYỄN BẢO SINH

Phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có một làng cá từ lâu đời. Làng cá gồm năm thành phần chính: chủ hồ ao, thợ lưới, cánh tát ao, người buôn cá và thợ đào đất đắp bờ. Thợ đào đất gọi là đấu đất, nghề thổ mộc này rất vất vả cần phải có sức khỏe như lực sĩ, người làm nghề này đến già dễ bị ho ra máu. Nhưng đôi lúc có những cô gái mảnh mai, xinh đẹp đấu đất không thua gì loại lực điền cả. Những cô gái này là nguồn động viên vô tận cho cánh thợ đất.

Thường đấu đất khoán theo hai cách: khoán khối chìm dưới lòng ao, khoán khối nổi trên bờ ao. Khoán khối chìm rất khó quản lí vì thợ hay vứt đất lung tung. Khoán khối nổi thợ cũng đầy mưu mẹo tìm cách xếp đất lổng chổng để ăn gian khối lượng. Khi đo khối lượng đất để trả công là lúc gay go nhất. Chủ ao chỉ có một hai người không đủ mồm cãi lại với mấy chục thợ đất.

Thợ đấu đất mệt nhất là người thủ mai, bốc lỗ rồi đến người ném đất cuối cùng: “Thứ nhất thủ mai thứ hai bốc lỗ”. Cánh thợ đấu đất nổi tiếng nhất toàn quốc ở tỉnh Hà Nam vì vùng này đồng chiêm trũng nên thợ mò và vác đất cực giỏi. Ngày xưa cắt đất toàn bằng mai sau này cải tiến dùng kéo cắt năng suất tăng gấp ba. Kéo cắt đất gồm hai càng bằng sắt trên có tay cầm dưới hai càng sắt nối nhau bằng một dây phanh. Thợ đấu ấn mạnh kéo xuống đất rồi quay một vòng nhấc lên là đã có một khoanh đất to như lợn con. 

 
vnqd02d

Thợ kéo lưới thường dân Vân Đình gần chùa Hương, Hà Đông. Đám này trọ ở nhà cụ Hiến nguyên là thợ xẻ gỗ, người cụ chắc như gỗ lim, da nâu bóng, tóc bạc phơ trông như một hiệp sĩ Võ Đang. Nhà cụ Hiến ở cuối ngõ 176 Trương Định.

Nhà cụ Hiến ở giữa khu vườn rộng hơn ba nghìn mét, đường vào nhà lát gạch như đường làng, cây cổ thụ xanh tốt um tùm, men theo những hồ ao thẳng đứng vì đây là nơi lấy đất làm gạch chứ không phải ao hồ thiên nhiên. Trẻ con hàng năm đều có đứa chết đuối. Mọi người đồn nhau dưới ao có nhiều con ma lam. Ma lam là ma bị chết đuối. Nếu ma lam muốn siêu thoát thành người thì phải dụ dỗ một người chết đuối thay mình làm ma. Trẻ con không dám bơi ở ao hồ có người chết đuối vì sợ ma rút chân dìm xuống nước. Đứa trẻ nào ở xa đến bơi dọa ma lam đều bủn rủn chân tay chạy tót lên bờ.

Cụ Hiến tên thật là gì không ai biết. Ngày xưa kiêng tên gọi cúng cơm mà chỉ lấy tên người con cả đặt cho mình để tỏ lòng kính trọng. Cụ Hiến có ba con trai. Con cả tên Hiến, con thứ hai tên Đế họ Hoàng nên gọi là Hoàng Đế, con út tên Cương đi tu ở chùa Hương nên gọi là Sư Cương. Hai con đầu đã quy tiên. Sư Cương đã đắc đạo hay chưa không ai biết.

Hoàng Đế lấy vợ rất sớm. Đôi vợ chồng tảo hôn thường chơi đùa cõng nhau quanh vườn, chơi bi, chơi đáo đánh nhau chí chóe, khóc lóc ầm ĩ. Sau khi trưởng thành có hai mặt con một trai một gái thì li hôn.

Ngày xưa tôi thường lang thang trên gò đống, bãi tha ma, bờ ao chuôm quanh nhà cụ Hiến. Có thời hội khảo cổ đã đào được cổ mộ ở đây tuổi gần nghìn năm, nhưng dân làng cá không hề để ý. Khu này tôi thường đi bắt ếch nhái, cào cào, châu chấu đem về nướng ăn một cách hết sức thú vị. Năm Ất Dậu 1945,  khu này là huyệt chôn chung hàng nghìn dân chết đói. Mỗi sáng xe bò lại kéo đi gom xác chết toàn thành phố đổ về đây. Xe chở đầy xác chết được đắp lên trên một manh chiếu rách. Chân tay người chết thò ra ngoài thõng thẹo, đung đưa theo nhịp xe bò lọc cọc, gập ghềnh.

Đêm đêm những đống mả chôn chung phụt lên những ánh lửa lân tinh xanh lét gọi là ma trơi. Ma trơi thấy người đuổi theo luôn nhưng bao giờ cũng giữ một khoảng cách. Người chạy ma đuổi. Người đuổi ma chạy. Người đứng ma đứng. Người bị ma trơi thường hốt hoảng chạy ngã xuống ao chết đuối hoặc tự ngất, nếu không cấp cứu kịp thời có thể sáng ra thấy nằm chết cứng trên nghĩa địa.

Khu này chim lợn kêu eng éc suốt đêm. Khi trăng tỏ, nhìn lên bầu trời thấy từng đôi chim lợn bay cách nhau khoảng 50 m vừa bay vừa kêu não nùng, có lẽ là tiếng kêu gọi bầy, hay đi tìm xác chết của đôi chim ma.

Mỗi buổi trưa cánh thợ phơi đầy lưới trong sân, mùi tanh ngòm, ruồi nhặng bay vo ve. Thợ lưới ngoài tiền công, còn được chủ hồ thưởng một vài cân cá về nhà nhắm rượu. Tất cả thợ lưới đều nghiện rượu nặng. Nhiều khi say rượu, người cùng làng cùng họ, chú cháu đánh nhau lung tung, công an phải bắt lên đồn nhốt lại, tỉnh rượu tự giải quyết với nhau.

  Để có rượu uống, thỉnh thoảng thợ lưới ăn cắp cá của chủ hồ, thủ đoạn rất tinh vi: khi thu lưới gánh về, thợ lưới cuốn một số cá vào đống lưới, chủ ao không thể phát hiện, nếu có bắt được cũng chỉ coi như vô tình. Thủ đoạn bại lộ vì cánh lưới chia làm hai phe tố cáo lẫn nhau. Phe ông Trống và phe ông Sáu. Phe ông Trống đông nhất. Ông Trống mặt dài, người cao, cổ cao nên dễ dàng lội qua những hố nước tương đối sâu mà không ngập đầu. Ngày xưa thường thả phân người tươi cho cá ăn. Phân nổi lều bều trên ao. Nếu người cao sẽ không phải ngụp lặn dưới những bãi phân. Nhiều khi kéo lưới, cá và phân lẫn vào nhau. Ông thợ lưới nhặt từng nắm phân bỏ ra ngoài như nắm bùn rác. Có ai bảo phân bẩn, cánh lưới trả lời hồn nhiên như cô tiên:
- Cứt mà thối à!

Ông Sáu phe đối lập với ông Trống thì người vuông chắc như cục gạch.

Mẻ kéo lưới đầu quyết định 80% số cá thu hoạch được. Mọi người trên bờ hồi hộp chờ kết quả của mẻ lưới đầu như chờ kết quả xổ số. Nếu thấy thợ lưới gò lưng kéo chắc sẽ được nhiều cá nhưng cũng có khi mừng hụt vì lưới mắc phải cây tre chìm nên cá chạy hết. Trước khi kéo cá, thợ lưới phải đi dọn sạch ao xem có cây cối gì chìm dưới ao không nhưng cũng có khi bỏ sót. Cá kéo lên bờ là lúc ồn ào nhất. Cánh buôn phân loại cá rồi bỏ vào các rổ khác nhau, mặc cả thành giá cho vào mẹt hối hả chở đi các chợ bán. Cá không chở bằng rổ vì chúng đè lên nhau dễ ươn, mất giá. Ngày xưa chở cá đi các chợ bằng xe đạp hoặc gánh nên phải đi nhanh. Khi tàn chợ, chủ hồ nhẩm tính xem thắng nhiều hay thắng ít rồi ra sức kì cọ sân sướng nhà cửa vẫn không hết mùi tanh lòm. Chủ ao bớt lại một số cá ngon đem đi biếu còn mình chỉ ăn mấy con cá tép, tôm riu, cá mè. 

Đặc biệt nhất người phường Trương Định có nghề đi đánh vó te. Vó te là một miếng màn mỗi chiều khoảng độ 40 cm, dùng hai thanh tre mỏng căng lên thành vó. Đánh vó te chỉ bắt được tôm, tép nên chủ hồ ao cho phép những người nghèo khổ đi kiếm miếng ăn đỡ đói.

Đánh lưới chỉ là cách thu hoạch tỉa. Cách thu hoạch chính: tát ao. Ngày xưa tát ao có ba cách: gầu sòng, gầu dai, guồng. Gầu sòng chỉ tát vũng nước không sâu lắm. Gầu gồm một cái sòng nan tre buộc trên ba cây tre gác chéo vào nhau. Gầu này chỉ cần một người tát và chỉ bắt được tôm tép, to nhất là chú cá quả bằng chuôi liềm.

Gầu dai dùng để tát ao nhỏ nhưng sâu. Gầu dai có hai người đứng đối diện nhau cầm hai sợi dây thừng vung gầu lên cao rồi vục xuống nước, hất lên đổ sang bờ bên cạnh. Gầu dai tát khó hơn gầu sòng vì phải phối hợp uyển chuyển giữa hai người. Tát nước gầu dai thường một đôi nam nữ. Họ tát nước như đôi uyên ương múa lượn giao tình giữa cánh đồng xanh mướt, thoảng mùi hương đồng cỏ nội, rộn ràng tiếng cười khúc khích của những cô gái chưa chồng.
Tát ao đầm hồ lớn phải dùng đến guồng. Guồng tát nước bằng gỗ, nguyên lí vận chuyển như bánh xe nước của người thiểu số nhưng phải dùng sức người. Guồng tát nước gồm một cái hòm dẹt độ 20 cm, cao 40 cm, dài 2 m. Trong hòm có những lá gỗ hình chữ nhật đặt vừa trong đó. Khi những chiếc lá gỗ được đạp như người đạp xe đạp, nước sẽ vận  từ ao lên rồi đổ qua bờ. Nếu khi bánh xe bị tuột hoặc đứt như xích xe đạp thì thợ tát phải đu người trên đòn tre, hai chân co lên để bàn đạp bằng khúc gỗ tròn khỏi đập vào ống chân tím bầm, đau lịm. Trên đòn tre có lợp mái bằng cót hay rạ che nắng mưa. Tát ao phải có bốn người chia làm hai kíp tát suốt ngày đêm, thêm một người chuyên phục vụ cơm nước. Phải tát suốt ngày đêm vì nếu nghỉ các mạch nước rò rỉ vào coi như toi cơm. Thợ tát phải luôn tìm chỗ mạch nước rò rỉ để bịt lại, nếu không bịt lại được đành bỏ của chạy lấy người. Nếu vô phúc trong lúc tát ao bị mưa to nước ao đầy như cũ sẽ phải làm lại từ đầu. Thời ấy không có dự báo thời tiết, mặc dầu dự báo thời tiết cũng sai lung tung. Người thợ tát phải tự: “trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm.” Thí dụ như thấy hoa tóc tiên nở rộ thì biết sắp có mưa to.

Thợ thường chọn tát ao vào cuối thu, trước khi tát làm lễ ngay cạnh cỗ xe tát nước để cầu trời phật phù hộ độ trì như khởi công xây móng nhà. Tát ao chỉ thuê khoán chứ không ai thuê công nhật.

Làng cá thường thuê thợ tát ao Giáp Nhị, Yên Duyên, Yên Sở… Người tát ao uy tín nhất là cụ Hai Liên người Yên Sở. Cụ người nhỏ bé râu ba chòm đi lại nhanh thoăn thoắt như Tôn Ngộ Không. Yên Sở làm ao còn có cụ Bếp, cụ từng đi làm đầu bếp cho Tây nên thành danh. Niềm tự hào duy nhất suốt đời cụ Bếp là được quan Tây tát cho một cái ở Paris. Người làm nghề trông dọn ao thuê còn có ông Nhu làm thuê người Đại Từ. Gọi là ông Nhu đi làm thuê để khỏi nhầm với ông Nhu là cục trưởng nông nghiệp. Ông Nhu đi làm thuê hình dáng oai phong hơn ông Nhu cục trưởng. Ông Nhu cục trưởng lại giống như kẻ làm thuê. Ông Nhu làm thuê có cậu con trai to khỏe tên là Toan bị điên. Một lần lên cơn, Toan dùng đòn gánh đánh vợ bị thương. Cả nhà vợ đuổi đánh Toan, đến khúc ngoặt trong làng, Toan trốn vào chuồng xí, nhà vợ lại vác gậy đuổi sang ngõ khác. Sau khi thoát nạn, Toan đi suốt làng trên xóm dưới rêu rao là cả nhà vợ bị điên vì Toan nấp vào chuồng xí xóm Đông, nhà vợ lại tìm đánh Toan ở ngõ Đoài. Vậy ai điên ai tỉnh? 

Những người tát ao bằng guồng chỉ có nam giới tuổi trung niên nên không lãng mạn bằng trai gái tát nước bằng gầu dai, gầu sòng giữa đồng lúa xanh mướt, cánh cò bay lả bay la.
Guồng tát nước được đặt trên bờ ao dưới tán bụi tre hoặc cây vối cây xoan nơi vắng vẻ chẳng có chút gì là tình tứ lãng mạn cả nên cũng chẳng có hò hát ca dao, long lanh liếc mắt đưa tình. Chỉ thỉnh thoảng thấy vài tiếng cười ằng ặc khi các vị tởn lên kể câu chuyện tiếu lâm bốc mùi mắm tôm, tiếp theo là một câu quát:
- Cười gì, đứt cả xích guồng nước, bàn đạp đập vào chân bố mày đau chết mẹ.

Những đêm thanh vắng mấy ông thợ tát chống mất ngủ bằng cách uống nước chè đặc và hút thuốc lào sòng sọc. Cánh thợ tát thường cả đêm chỉ rên rỉ một câu thơ đầu Ngô mình Sở:
Em ra ngồi gốc cây đu đủ
Em ngủ một mình.


Tiếng guồng tát nước đều đều, ọc ạch suốt đêm ngày một giai điệu buồn buồn như ru ngủ.
Khi ao cạn khoảng một nửa, các góc gách bờ ao bắt đầu lộ ra những tiểu sành, đầu lâu xương cốt, những quan tài vô thừa nhận xưa chôn ở giữa vườn bị nước xói lở thành nửa trong đất, nửa ngoài ao. Người tát ao lúc đó rất thành kính bốc xương cốt vào tiểu sành, đặt lại nghiêm chỉnh, rồi mua đồ cúng lễ, thắp hương đốt vàng mã cầu cúng hồn linh thiêng phù hộ. Nếu thấy trong hốc áo quan có vũng nước váng màu hồng nhạt họ sẽ thò tay vào bắt ra từng đàn cá trê béo nhẫy, vàng ươm. 

Ao sắp cạn là lúc hồi hộp nhất. Cá bơi sục đục ngầu khắp hồ. Những con cá to nổi vây quẫy đoành đoành. Người thợ tát phải khơi một dòng nước chảy vào guồng tát, cá thường bơi theo dòng nước xuôi vào guồng tát làm tắc máy. Thợ phải dùng cái đăng chặn cá từ đầu dòng. Lúc này người hôi cá đứng trên bờ đông như hội, đa số là đàn bà trẻ con mắt đăm đắm nhìn đàn cá dưới ao một cách thèm thuồng, hi vọng.

Sắp cạn ao chủ hồ sẽ đánh một mẻ lưới vét thu hoạch khoảng 80% số cá. Ao cạn, chủ hồ huy động toàn lực lượng xuống bắt cá. Bắt cá vầy bùn là một thú vui tuyệt vời hơn hẳn thú tắm bùn hiện đại ngày nay. Thỉnh thoảng một chú cá nhảy lên gần bờ ao giãy đành đạch. Mọi người tranh nhau vồ cướp. Chủ ao chia quân làm hai cánh: một cánh bắt cá, một cánh đuổi người hôi. Họ đuổi người hôi bằng cách té nước bùn để người hôi phải chạy ùa lên bờ, nếu ai chạy chậm sẽ bị bùn bắn đầy quần áo và mặt mũi. Nước ao cạn hết, người bắt cá kéo thuyền cá lên bờ. Người hôi cá ùa xuống ao. Cả ao hỗn loạn hò hét inh trời. Có đứa táo bạo cướp cá của chủ ngay trong lưới.

Hôi cá có hai loại: loại nghiệp dư là lũ trẻ trai gái trong xóm, chúng cởi áo buộc túm lại thành túi đựng cá, có đứa liều hơn tụt quần, thắt lại làm túi, rồi dùng bùn phết vào chim cho đỡ xấu hổ, có đứa dùng cọng cỏ làm dây xâu qua mang cá thành chuỗi. Cảnh hôi cá náo loạn và vui như hội phảng phất nét vui như đi cướp ấn đền Trần ngày nay, nhưng thanh tịnh, chân quê hơn. Người đi hôi sau tóm được cẳng chân người đi hôi trước tưởng là cá bự túm thật chặt rồi hất ngược lên khiến người trước ngã bổ chừng.

Đám hôi chuyên nghiệp ở các nơi đến: đeo sau lưng cái giỏ, quần áo nai nịt gọn ghẽ, và kết quả số cá hôi được bao giờ cũng gấp năm lần số cá dân nghiệp dư kiếm được nhưng không vui bằng.

Cánh nghiệp dư vừa bắt cá vừa đùa nghịch trát bùn vào nhau. Bố mẹ chúng đứng trên bờ cũng không nhận ra con mình là ai nữa. Các vị phụ huynh chỉ đứng trên bờ dứ cái roi xuống ao hò hét con mình về ngay không thì chết đòn. Nhiều trẻ đứng trên bờ thích thú quá ùa xuống ao không hôi cá chỉ vầy bùn. Bùn phủ đầy người, chúng ngắm nhau lạ lẫm vui như ngày hội hóa trang. Cuộc chơi nào rồi cũng kết thúc. Cá ao đã hết, cánh hôi lần lượt lên bờ rồi sang ao bên tắm rửa, giặt rũ quần áo và khoe nhau chiến lợi phẩm. Mặc dù đã cố kì cọ tắm rửa thật sạch sẽ, nhưng thường về nhà thế nào cũng vẫn còn mảng bùn bám sau gáy, sau lưng hoặc cùi tay. Bố mẹ cánh hôi, lôi con sềnh sệch về nhà quát tháo ầm ĩ nhưng cũng vẫn không quên mang cá hôi được ra đánh vẩy, mổ bụng và ánh mắt lấp lánh niềm vui.

Cá thu hoạch đưa lên bờ các thương lái mua bán với chủ hồ. Người buôn cá nổi tiếng nhất vùng này là bà Lai, bà Cả Thu, cô Đỗ, cô Teo… Bà Lai là dân buôn cá thành phố, còn cánh buôn khác thuộc dân quê. Bà Lai người thanh mảnh, mỏng mày hay hạt, da mặt bị lang trắng quá nửa, thuở trẻ chắc xinh lắm. Bà Cả Thu người phục phịch mặt phúc hậu. Cô Đỗ mặt tròn da thiết bì, người đậm, có chồng tên Đông làm chủ tịch xã Giáp Nhị nay đã thành phường. Cô Teo đúng như tên, người teo tóp lại. Người buôn cá xưa đều là những người chất phác thật thà cũng như xã hội thời đó.

Hình bóng các cô bán cá hối hả đạp xe trong sáng sớm tinh mơ trên đường phố vắng tanh không đèn xanh đèn đỏ chẳng bao giờ phai mờ trong lòng người Hà Nội xưa.

N.B.S



 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 3.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

Quảng cáo