Thứ Sáu, 12/12/2014 10:16

Khi nhà văn dấn thân

Trước và sau kỳ chống Mỹ cứu nước, những tác phẩm viết về đề tài này ngày một nhiều hơn, được công chúng đón nhận nồng nhiệt và đều nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học- Nghệ thuật (ĐỖ NGỌC YÊN)

Những con đường, dòng sông, con đèo và những cây cầu cũng như lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến luôn gắn với những người lính trong những năm tháng đánh giặc, giữ nước trước đây. Ngày nay trong quá trình xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, góp phần đưa đất nước ta nhanh chóng thoát khỏi tình trạng đói nghèo và lạc hậu, người lính cũng như lực lượng thanh niên xung phong vẫn luôn có mặt trên những công trình ấy. Tìm hiểu và viết về họ luôn là đề tài hấp dẫn và lý thú khiến nhà văn khó bề cưỡng lại.

Văn chương luôn gắn liền với những con đường

Đại văn hào Lỗ Tấn đã từng viết trong truyện ngắn Cố hương: “Kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Khởi thủy quả đúng là như vậy. Nhưng con người không chỉ biết đi mãi để thành đường, mà còn chủ động mở mang, khai phá những con đường mới như đường mòn Trường Sơn huyền thoại, đường Hồ Chí Minh trên biển gắn liền với những con tàu không số trong chiến tranh chống Mỹ, rồi đến những con đường mới hiện đại nhất nhì nước ta như đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh- Trung Lương, đại lộ Đông Tây,...

Những năm đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Hữu Loan, khi còn là một chiến sĩ trong đoàn quân Nam Tiến đã viết bài thơ Đèo Cả khá hay, từ năm 1946, với một hào khí quật cường của những người lính năm xưa phải chịu bao khó khăn, gian khổ quyết giữ vững từng con đèo, ngọn dốc trên đường hành quân đánh giặc: Bên vách núi/ Giặc từ Vũng Rô bắn tới/ Giặc từ trong tràn ra/ Nhưng Đèo Cả/ Vẫn/ Giữ/ Vững/ Chân đèo Nam/ Máu giặc/ Mấy lần/ Nắng khô/ Sau mỗi lần thắng.

Trong và ngay sau chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nhà thơ Tố Hữu có những vần thơ với âm hưởng hào hùng, bừng bừng khí thế của những người dân công hỏa tuyến không quản suối sâu, đèo cao vẫn ngày đêm thồ lương thực, vũ khí cho bộ đội ta trên chiến trường làm nên một chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu: Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát/ Dù bom đạn xương tan, thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh.../ Hỡi các chị, các anh trên chiến trường ngã xuống/ Máu của anh chị, của chúng ta không uổng!/ Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên).

Trước và sau kỳ chống Mỹ cứu nước, những tác phẩm viết về đề tài này ngày một nhiều hơn, được công chúng đón nhận nồng nhiệt và đều nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học- Nghệ thuật, chẳng hạn như: Dấu chân người lính, Cửa sông, của Nguyễn Minh Châu; Từ bến sông Thương của nữ sĩ Anh Thơ; Đường dài và những đốm lửa của Phạm Tiến Duật; Đường tới thành phố, Trường ca biển của Hữu Thỉnh, Con đường xuyên rừng của Lê Văn Thảo; Một loài chim trên sóng của Đỗ Chu; Những người đi tới biển của Thanh Thảo,...

Đặc biệt trong trường ca Đường tới thành phố viết năm 1979, nhà thơ Hữu Thỉnh đã tái hiện lại hình ảnh những người lính trên đường hành quân diệt giặc qua những cây cầu, những con đường, những phương tiện vận tải thô sơ băng qua trăm dốc, ngàn đèo cùng người lính ngày đêm miệt mài bám trụ, làm nên một mùa Xuân đại thắng- Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Chúng tôi vẫn hát sông Lô, sông Thao, Điện Biên, Tây Bắc/ Thương các anh dốc đá tai mèo/ Đến lượt chúng tôi dốc đá tai mèo/ Mưa trơn quá chân tuồi ra khỏi dép/ Dốc Pha Đin là cái dốc cuối cùng/ Các anh qua để tiến về Hà Nội/ Khẩu súng trường tinh vi và ngắn lại/ Đường chúng tôi ra trận lại dài thêm/ Có chiếc đài bốn pin, có đôi giày cao cổ/.../ Xe cút kít quay từng vòng kiên nhẫn/ Cho con đường đến gặp các dòng sông/ Đèo thấp dần trước quang sọt thô sơ/ Sông hẹp bớt, cầu treo trong lũng thấp...

Điều ấy cho thấy một thực tế là từ rất lâu, văn chương- nghệ thuật luôn gắn bó và sát cánh cùng người lính trên các nẻo đường hành quân đánh giặc, nên khi viết về những điều ấy là hoàn toàn tự nguyện. Thời nào cũng vậy, những dòng sông, con đường, ngọn đèo và những cây cầu luôn gắn liền với vận mệnh của Tổ quốc, dân tộc, những bản anh hùng ca trên trận chiến chống quân thù, anh thồ, em vác hay những mảnh đời éo le, những số phận kém may mắn của đủ mọi tầng lớp xã hội, mọi ngành nghề, lứa tuổi, dân tộc bỗng dưng ùa vào tác phẩm văn học một cách tự nhiên từ các ngã đường hành quân ra tiền tuyến hay trên các công trình dựng xây đất nước hôm nay.

Cuộc ra quân hùng hậu

Với 141 nhà văn tham gia 4 trại sáng tác văn học về đề tài giao thông vận tải trong năm 2014 do Ban văn học chuyên đề của Hội Nhà văn VN tổ chức thực sự là một năm ra quân rầm rộ nhất của các nhà văn. Từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, nhất là những nơi đang triển khai các công trình trọng điểm quốc gia, những khu di tích gắn liền với những con đường và bước chân người lính năm xưa trong hai cuộc hành quân chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta cách đây gần nửa thế kỷ như khu di tích lịch sử Truông Bồn (Nghệ An), Ngã Ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), các nhà văn đều đến tìm hiểu, lấy tài liệu phục vụ cho những dự định sáng tác của mình hay để hoàn chỉnh thêm cuốn tiểu thuyết, tập truyện ngắn hay một trường ca hãy còn dang dở. Các nhà văn đã được gặp nhiều nhân chứng sống trước đây là bộ đội, thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, sau đấy chuyển về công tác tại ngành giao thông - vận tải rồi nghỉ hưu tại đây.

Phải nói rằng lực lượng nhà văn tham gia các trại sáng tác lần này thuộc lớp người có tuổi đời từ 60-80 và đại bộ phận đã từng tham gia quân ngũ trong thời kỳ chiến tranh, nhưng vẫn còn khá sung sức, như các nhà văn: Đại tá Phạm Hoa, Đào Thắng, Bùi Thanh Minh và hàng loạt các nhà văn cựu chiến binh như: Tô Đức Chiêu, Dương Duy Ngữ, Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Ngọc Yên, Nguyễn Trác, Trần Trương, Đỗ Hoàng, Quang Hoài, Trịnh Ngọc Dự, Lê Tuấn Lộc,...

Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn, trong số các nhà văn ấy, phần lớn đều đã ít nhiều có đóng góp trên văn đàn Việt nửa thế kỷ nay. Đặc biệt có những người đã đoạt các giải văn chương cao quý như nhà văn Đỗ Chu (Giải thường Hồ Chí Minh), nhà văn Lê Minh Khuê, hai nhà thơ Vũ Quần Phương và Y Phương (Giải thưởng Nhà nước),...

Đối với các nhà văn được tham gia các trại viết là một điều hết sức thú vị. Ở đấy họ có nhiều thời gian và cơ hội để trao đổi về những cái được và chưa được trong hoạt động sáng tác của mình cùng những dự định sắp tới của mỗi người. Có người ngay trong thời gian ở trại sáng tác đã có thể làm dăm ba bài thơ, đọc ngay cho đồng nghiệp nghe. Cũng có người đến thăm và tìm hiểu một địa danh mà mình chưa có điều kiện đặt chân tới hay một sự kiện đã xảy ra cách đây gần nửa thế kỷ, bây giờ mới có điều kiện kiểm chứng lại hoặc là một nhân vật lịch sử có mặt trong tác phẩm của mình dù trước đây đã gặp, nhưng chưa kịp tìm hiểu kỹ, ghi chép đầy đủ, bây giờ được bổ sung cho hoàn thiện hơn,...

Đặc biệt ở hai khu di tích lịch sử Truông Bồn và Ngã Ba Đồng Lộc, sau khi thép nén tâm nhang nguyện cầu cho linh hồn các chị, các anh dưới suối vàng, yên nghỉ ngàn thu, các nhà văn đều đứng lặng người tiếc nuối cho số phận không may của những người con đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của đất nước.

Cảm động và xót xa hơn khi đọc những dòng chữ và nhìn những tấm hình của mười cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc ghi ở phần bia mộ, khi ấy các cô vẫn còn trong độ tuổi mười chín đôi mươi, thèm gội đầu bằng bồ kết, đêm đêm vẫn thích nằm lòng với mẹ. Vậy mà cuộc chiến khốc liệt đã cướp đi các em.

Còn ở di tích lịch sử Truông Bồn là nơi 13 chiến sĩ thuộc Đại đội 317 thuộc Tổng đội Thanh niên xung phong Nghệ An đã hy sinh vào lúc 5 giờ 30 ngày 31/10/1968, nhưng phải sau gần 40 chiến tranh đi qua, sự hy sinh của các anh, các chị mới được biết đến và ghi nhận một cách chính thức vào ngày 23/9/2008 Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân cho tập thể chiến sỹ Thanh niên xung phong Truông Bồn. Điều này đã gợi lại cho các nhà văn sự nuối tiếc muộn mằn, nhưng mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Ngay từ khi tham gia các trại viết, nhiều nhà văn đã mang theo những bản thảo đủ mọi thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, phóng sự, thơ, trường ca, trong đó phải kể đến các tác phẩm như: Dòng sông lửa của Kiều Vượng, Con đường lửa của Nguyễn Khắc Phê, Nhịp cầu không bao giờ sụp đổ của Hữu Phương, Hồi ức về con đường của Từ Nguyên Tĩnh, Những người thợ cầu của Nguyễn Đình Chính,...gửi tới Ban Tổ chức./.

ĐỖ NGỌC YÊN