Thứ Bảy, 23/02/2013 00:04

Kỷ niệm 165 năm ngày công bố bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (24/2/1848- 24/2/2013)

Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, K. Marx và F.Engel đã đề cập đến một cách toàn diện và sâu sắc những vấn đề cốt lõi của văn học, đồng thời phê phán một cách hết sức khoa học và nghiêm khắc những biến thái của các tư tưởng xã hội chủ nghĩa phi vô sản trong văn học

CÁC TRÀO LƯU VĂN HỌC TRONG TUYÊN NGÔN ĐẢNG CỘNG SẢN (1)

Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, K. Marx và F.Engel đã đề cập đến một cách toàn diện và sâu sắc những vấn đề cốt lõi của văn học, đồng thời phê phán một cách hết sức khoa học và nghiêm khắc những biến thái của các tư tưởng xã hội chủ nghĩa phi vô sản trong văn học. Sau hơn 160 năm, thế giới có biết bao biến động và đổi thay, nhưng những tư tưởng của hai vị tiền bối vẫn giữ nguyên giá trị và là kim chỉ nam cho tất cả chúng ta trong lĩnh vực này.

I. Những cơ sở lý luận

Sinh thời, K. Marx và F. Engel là những người thấu hiểu hơn ai hết vai trò và tầm ảnh hưởng vô cùng rộng lớn của văn học. Trong nhiều tác phẩm của mình các nhà kinh điển đã coi việc nghiên cứu các tác phẩm văn học nổi tiếng, các trường phái, trào lưu, các nền văn học trên thế giới như một nhiệm vụ thường xuyên và nghiêm túc nhằm nhận thức rõ hơn vai trò và tác dụng to lớn của hình thái ý thức xã hội đặc thù này, một mặt để khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp của con người ẩn chứa trong mỗi tác phẩm văn học, nhằm huy động nó vào công cuộc đấu tranh giải phóng loài người khỏi các chế độ áp bức bóc lột; đồng thời hai ông cũng đấu tranh không khoan nhượng chống lại những người núp bóng văn học, sử dụng nó như một thứ thuốc ngủ làm làm lu mờ ý chí quật cường của quần chúng nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh đó.

Có thể nói “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” là một mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu văn học. K. Marx và F.Engel đã dành trọn cả phần III tác phẩm của mình để bàn về Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Theo hai ông, văn học có thể làm thay đổi nhận thức tư tưởng và hành động của một bộ phận công chúng trong quá trình tham gia các hoạt động cải tạo xã hội.

Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ lịch sử, sứ mệnh và vai trò của văn học lại không hoàn toàn giống nhau. Một mặt, xét cho cùng văn học bị quy định bởi những điều kiện kinh tế- xã hội sản sinh ra nó. Mặt khác, dù ở các khía cạnh khác nhau, văn học luôn bị các tư tưởng thống trị của thời đại chi phối, đồng thời nó có tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác thuộc thượng tầng kiến trúc như: Triết học, chính trị, đạo đức, tôn giáo, khoa học,… Do đó, việc nghiên cứu văn học trước hết cần phải xuất phát từ cơ sở kinh tế- xã hội, cái đã sản sinh ra và quyết định nó.

Coi văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc để xem xét, lí giải nó trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, lần đầu tiên trong lịch sử, K. Marx và F. Engel đã đem đến cho nhân loại cách kiến giải duy nhất đúng đắn những vấn đề thuộc bản chất của văn học. Xét đến cùng, cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời và phát triển của văn học. Cơ sở kinh tế là nền tảng của xã hội, và do đó nó cũng quyết định cả nội dung và tính chất của xã hội, quyết định nội dung và tính chất của kiến trúc thượng tầng do nó tạo nên, trong đó có văn học. Có nghĩa là, cơ sở kinh tế quyết định nội dung và tính chất của nền văn học.

II. Các trào lưu văn học xã hội chủ nghĩa phi vô sản

K. Marx và F. Engel - tác giả của "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản"

Ở những nước phương Tây vào giữa thế thế kỷ XIX, khi mà chủ nghĩa tư bản đã cơ bản chiến thắng chế độ phong kiến với sự ra đời và phát triển như vũ bão của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, tạo ra một khối lượng của cải vật chất vô cùng dồi dào cho xã hội, vậy mà các nhà văn thuộc chủ nghĩa xã hội phong kiến vẫn cố tình chứng minh rằng phương thức bóc lột phong kiến không giống phương thức bóc lột tư bản. Nền kinh tế tự cung tự cấp, tự túc và công trường thủ công theo kiểu phường hội phong kiến là cơ sở để tạo ra những tác phẩm văn học kêu gọi người ta hãy trung thành với những lý tưởng xã hội mà họ đang sống bằng những lời lẽ đầy hoa mỹ và trống rỗng nhằm bao che cho thói đạo đức giả; đồng thời dường như họ muốn duy trì một trật tự xã hội mà trên thực tế nó đã bị loại bỏ khỏi vũ đài lịch sử.

Tuy nhiên, như K. Marx và F. Engel đã từng chỉ ra, trong thời kỳ thống trị của chủ nghĩa tư bản phương Tây, ở những nước như Pháp, nơi nông dân chiếm quá nửa dân số thì tự nhiên đã xuất hiện những nhà văn đứng về giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, nhưng đã dùng cái thước đo tiểu tư sản và tiểu nông trong việc phê phán chế độ tư bản, và đã xuất phát từ những quan điểm tiểu tư sản mà bênh vực sự nghiệp của công nhân (2).

Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản đã xem xét một cách sâu sắc những mâu thuẫn của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất ấy, một mặt, nó đã thúc đẩy sức sản xuất xã hội phát triển, tạo ra một nguồn lực của cải vật chất khổng lồ cho xã hội, nhưng mặt khác, nó cũng đẩy nhanh sự bần cùng hóa đối với những người lao động làm thuê cho các ông chủ tư bản. Đấy là những bức tranh sinh động góp phần vạch trần những lời ca tụng giả dối của những nhà kinh tế học tư sản đương thời. Mặc dù, xét về một số khía cạnh nào đó, Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản trong văn học có những tiến bộ nhất định so với Chủ nghĩa xã hội phong kiến trước đó.

Chủ nghĩa xã hội (tiểu tư sản-Đ.N.Y) ấy phân tích một cách rất sâu sắc những mâu thuẫn gắn liền với những quan hệ sản xuất hiện đại. Nó vạch trần những lời ca tụng giả dối của những nhà kinh tế học. Nó chứng minh một cách không thể bác bỏ được những tác dụng phá hoại của nền sản xuất máy móc và của sự phân công lao động, sự tập trung tư bản và ruộng đất, sự sản xuất thừa, các cuộc khủng hoảng, sự sa sút không tránh được của những người tiểu tư sản và nông dân, sự cùng khổ của giai cấp vô sản, tình trạng vô chính phủ trong sản xuất, tình trạng bất công khá rõ rệt trong sự phân phối của cải, chiến tranh công nghiệp có tính chất huỷ diệt giữa các dân tộc, sự tan rã của đạo đức cũ, của những quan hệ gia đình cũ, của những tính chất dân tộc cũ (3).

Nhưng, xét về bản chất, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản muốn khôi phục lại những tư liệu sản xuất và phương thức trao đổi cũ, tức là nó muốn khôi phục lại cả những quan hệ sở hữu phong kiến. Như vậy, theo K. Marx và F. Engl, về thực chất chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản vừa là phản động vừa là không tưởng, vì nó cổ xúy và kêu gọi người ta hãy yên trí với những gì mà người ta đã và đang có, chứ không phải là những gì mà người ta cần phải có và khuyên người ta hãy cứ mơ tưởng đến một tương lai tươi sáng hơn. Ở Việt Nam các nhà văn thuộc nhóm Tự lực văn đoàn của Khái Hưng, Nhất Linh là đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này.

Cũng vậy, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ắt sẽ đẻ ra những tác phẩm văn học cổ xúy cho những quan hệ trả tiền ngay, không tình nghĩa. Ở đó, giai cấp tư sản không coi trọng các giá trị tinh thần, nhân văn, đạo đức,… mà chỉ có lợi nhuận là trên hết và nếu vì lợi nhuận, họ sẵn sàng phản bội và có thể đem bán đến điều răn thứ 99 của Chúa, chỉ trừ một điều duy nhất là lợi nhuận, như K. Marx và F.Engel đã từng chỉ ra trong các tác phẩm của mình. Chúng ta hoàn toàn dễ dàng nhận thấy điều đó trong các tác phẩm văn học ở các nước phương Tây vào giữa thế kỷ XIX như: Vỡ mộng, Miếng da lừa của Balzac (Pháp) Đỏ và Đen của Standhal (Pháp), Đi Tê con của người đời của Dicken (Anh) Tội ác và trừng phạt, Anh em nhà Kazamazov, Thằng ngốc,…của Dostoievsky (Nga),…

K. Marx và F.Engel đã chỉ trích một cách gay gắt và không khoan nhượng Chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản. Hai ông cho rằng những nhà xã hội chủ nghĩa tư sản muốn duy trì những điều kiện sinh hoạt của xã hội công nghiệp hiện đại, mà không cần những cuộc đấu tranh làm tan rã nó. Họ muốn có giai cấp tư sản mà không có giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản quan niệm cái thế giới mà nó đang thống trị là tốt đẹp hơn cả. Khi chủ nghĩa xã hội tư sản bắt giai cấp vô sản phải thừa nhận những quan niệm của họ, thực ra là giai cấp tư sản muốn giai cấp vô sản cùng duy trì các trật tự của xã hội hiện tồn và bỏ hết quan niệm đối kháng của họ đối với xã hội ấy. Về bản chất các nhà xã hội chủ nghiã tư sản khuyên người ta thủ tiêu đấu tranh chống lại sự bóc lột của giai cấp tư sản và hãy cam phận bằng lòng với những gì mà mình đang có.

Như vậy, chính trong lòng xã hội tư sản cũng đã nảy sinh một trào lưu chủ nghĩa xã hội không tưởng trong văn học mà đại biểu là Ô-oen, Xanh-xi-mông, Phua-ri-ê. Những tác phẩm của họ đi kèm theo những phong trào đầu tiên của giai cấp vô sản, khi mà bản thân giai cấp vô sản chưa có đủ những tiền đề vật chất cần thiết đảm bảo cho sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng lấy tài ba cá nhân để thay thế cho hoạt động xã hội, lấy những điều kiện do họ tưởng tượng ra để thay thế cho những điều kiện lịch sử của sự giải phóng; đem một tổ chức xã hội hoàn toàn do bản thân họ tưởng tượng ra, thay thế cho sự tổ chức một cách khoa học những người vô sản thành giai cấp. Đối với họ, tương lai của thế giới sẽ được giải quyết bằng cách tuyên truyền và thực hành những kế hoạch tổ chức xã hội, theo cách mà những nhà không tưởng huyễn hoặc ra.

III. Một số vấn đề thực tiễn của văn học Việt Nam.

Văn học Việt Nam hiện thực xã hội chủ nghĩa được sinh ra và lớn lên từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và bước lên vũ đài chính trị, gánh vác trọng trách lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi ra đời, Đảng ta luôn coi văn học là một mặt trận, nhà văn là người chiến sĩ trên mặt trận ấy. Điều này thể hiện khá rõ trong Đề cương văn hóa (1948). Những vấn đề chính trị lớn của đất nước, dân tộc luôn trở thành nội dung trực tiếp của tác phẩm văn học và người nghệ sĩ có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyên truyền những quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong các tác phẩm của mình. Cách mạng tháng Tám thành công và đặc biệt là từ khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng và thực sự là món ăn không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động.

Hơn thế dòng văn học này còn góp phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa đất nước ta bước vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc và hội nhập quốc tế. Đội ngũ các nhà văn như: Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Kim Lân, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Hoài, Võ Huy Tâm, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Nguyễn Minh Châu, Chính Hữu, Vũ Cao, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Hồ Phương, Hữu Thỉnh, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật,... đã thực sự tạo nên một dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam hùng hậu.

Gắn bó mật thiết với đời sống xã hội, nhờ sức mạnh của lý tưởng giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, sự hấp dẫn của hình ảnh về một xã hội tương lai tươi sáng hơn, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tích cực tham gia vào hoạt động chính trị và đã tạo ra được những tác phẩm tốt, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Giai đoạn này, cảm hứng chủ đạo, tư tưởng chủ đề và đề tài nổi bật nhất của văn học là các tác phẩm viết về công- nông- binh, lấy công nông binh làm đối tượng miêu tả và tuyên truyền, coi công nông binh là người đọc quan trọng nhất, người thẩm định giá trị của mọi sáng tạo văn học. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác phẩm như: Việt BắcGió Lộng của Tố Hữu, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Vụ lúa chiêmCái sân gạch của Đào Vũ, Tầm nhìn xaHãy đi xa hơn nữa của Nguyễn Khải,…Đó là những tác phẩm phản ánh khá thành công những thành tích, những chiến công, những hành động tốt đẹp của cuộc sống mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là một yêu cầu quan trọng của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam giai đoạn này trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Marx- Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có thể nói cái tốt, người tốt trong xã hội Việt Nam giai đoạn này chiếm ưu thế, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu và trong lao động sản xuất là nét chủ đạo của hiện thực, nhà văn cần phải phản ánh cái hiện thực đó vào trong tác phẩm của mình. Điều đó có nghĩa đòi hỏi nhà văn phải nâng cao tính Đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc. Trong sáng tác của mình nhà văn phải công khai đứng trên quan điểm lập trường của giai cấp vô sản và quần chúng lao động, bảo vệ những tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Như vậy có thể nói, tính Đảng trong văn học bao gồm cả tính nhân văn, nhưng đã được phát triển, nâng lên thành tính nhân đạo cộng sản. Nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo là hoàn toàn khác về chất so với các nền văn học xã hội chủ nghĩa phi vô ở các nước phương Tây. Nền văn học đó đã đứng lên phản ánh và bảo vệ quyền lợi của đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) đã mở ra một cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ. Văn học nghệ thuật được xem như là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa,…là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội(4).

Từ sau khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để hội nhập quốc tế và khu vực (1986), văn học cũng có những đổi thay đáng kể về đề tài, tư tưởng chủ đề, nội dung, tính chất và hệ thống hình tượng cũng như phương cách và ngôn ngữ biểu đạt. Một loạt các tác phẩm như: Cái đêm hôm ấy đêm gì (ký của Phùng Gia Lộc), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang lập), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),... đã làm cho diện mạo mới của văn học giai đoạn này đa thanh và cũng đa sắc hơn. Nếu ở các giai đoạn trước nhân vật chính của các tác phẩm văn học phần lớn là những người chuyên làm việc tốt, điều thiện, thì đến giai đoạn này, trong nhiều tác phẩm các nhân vật chính không chỉ có như vậy nữa. Trước hết phải nhận thấy rằng sự phê phán những cái dở, cái xấu, những biểu hiện xuống cấp về đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức đã được khơi dậy bằng chính chủ trương chống tiêu cực hết sức đúng đắn do Đảng ta phát động.

Chủ trương này của Đảng hợp với tâm trạng của đại bộ phận quần chúng lao động và nguyện vọng của nhà văn. Trước đó, trong một thời gian dài, do hoàn cảnh chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các hiện tượng tiêu cực trong đời sống, trong bộ máy nhà nước tạm thời được gác lại để tập trung sức người, sức của cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đấy là một thực tế khách quan và cũng là điều dễ hiểu.

Bước vào công cuộc xây dựng, đổi mới nền kinh tế, văn học tất yếu trở thành người phát ngôn cho xã hội, nói lên tiếng nói của quần chúng và là chiếc cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một kênh phản biện xã hội cần thiết. Vả lại, việc tố cáo cái ác và sự bất công, những thao thức về tội lỗi và đau khổ của con người vốn rất gần với thiên chức của văn học và cũng là nguyện vọng chung của đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động.

Bên cạnh đó một xu hướng khác của văn học Việt Nam trong vài thập niên gần đây là sự trở lại với đời thường, với thân phận của những con người nhỏ bé. Trong các tác phẩm Cỏ lau, Phiên Chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, trong truyện ngắn của Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân,… cuộc sống và con người hôm nay đã được miêu tả gần với đời sống thực hơn, không phải chỉ có chiến công và hạnh phúc mà còn có cả những rủi ro, nhiều khi thất bại, đau khổ. Giờ đây nỗi đau, cái buồn đã được thừa nhận một cách bình đẳng với cái anh hùng, cái cao thượng và trở thành những phạm trù của văn học và mỹ học Việt Nam đương đại.

Cùng với sự phong phú của hình tượng và chủ đề, giọng điệu của tác phẩm văn học thời kỳ này cũng đã được đổi mới. Cấu trúc hình tượng và sự thay đổi về cách kể chuyện đã chi phối các yếu tố khác của tác phẩm, tạo nên những xúc cảm thẩm mỹ khác trước. Sự đổi mới trong đời sống văn học những năm gần đây chỉ có thể có được trên cơ sở của một quan niệm mới về văn học, xem nó là một hoạt động sáng tạo, một kiểu ứng xử văn hóa, một kiểu quan hệ của con người với con người và con người với thế giới tự nhiên.

Đánh giá và ghi nhận những thành tựu của văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong hơn 60 năm qua (1957- 2007), tại buổi Lễ đón nhận Huân chương Sao Vàng của Hội Nhà văn Việt Nam, đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực ban Bí thư khẳng định: Trong 15 năm đấu tranh chống thực dân, phong kiến giành độc lập tự do, 30 năm kháng chiến chống đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, hơn 20 năm đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các thế hệ nhà văn của chúng ta đã luôn sát cánh cùng nhân dân, lăn lộn trong thực tiễn, tắm mình trong các phong trào cách mạng, thực hiện sứ mệnh cao cả là “người thư ký của thời đại”, người phát ngôn cho những tình cảm, khát vọng của nhân dân, viết nên những trang viết đầy tâm huyết, những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, những tác phẩm còn mãi với non sông (5).

Thay mặt Đảng, Nhà nước và đại bộ phận quần chúng nhân dân, đồng chí Trương Tấn Sang bày tỏ nguyện vọng và tin tưởng rằng đội ngũ các thế hệ nhà văn: tiếp tục gắn mình với nhân dân, đất nước, nhịp bước cùng sự thôi thúc của thời đại, đem hết tài năng, trí tuệ, tâm huyết của mình sáng tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, ngang tầm những chiến công hiển hách của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, phản ánh sinh động thực tiễn và những thành tựu rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta trong công cuộc đổi mới; tham gia tích cực vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Chúng ta tin tưởng rằng, các nhà văn nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc sứ mệnh cao cả của mình trước nhân dân, đất nước. Chúc nền văn học của chúng ta, bộ phận cấu thành rất quan trọng của đời sống tinh thần, của nền văn hóa dân tộc, luôn luôn được bồi đắp bằng những thành tựu sáng tạo mới, mãi mãi được nhân dân tin yêu, đón nhận và tự hào (6).

Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy một số tác phẩm văn học chạy theo hướng thương mại. Một số người cầm bút viết văn chủ yếu là để chiều theo những thị hiếu thấp kém về thẩm mỹ, nhưng lại nhân danh sự đổi mới, tìm tòi, nhân danh sự tự do sáng tạo. Thực chất những tác phẩm loại này hoặc là viết theo đơn đặt hàng của các nhà xuất bản, các đầu nậu sách hoặc là sự chắp vá, lai căng những tác phẩm văn học nước ngoài rất xa lạ với thị hiếu thẩm mỹ của đại bộ phận công chúng nước ta. Đương nhiên trào lưu văn học này ít mang lại những giá trị tư tưởng và thẩm mỹ, ít được bộ phận độc giả nghiêm túc chấp nhận.

Cần phải nói một cách chắc chắn rằng, khi văn học xã rời những quan điểm triết học K. Marx- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời cuộc sống hiện thực của đất nước, những tâm tư nguyện vọng của đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động đang hàng ngày, hàng giờ chiến đấu bảo vệ và lao động dựng xây đất nước thì cũng có nghĩa là nó đã tự đánh mất mình và biến thành những công cụ nô lệ cho đồng tiền, hoặc cho những lối sống lai căng, sa đọa, trái với những giá trị truyền thống của văn học nước nhà, đạo lý và thuần phong, mỹ tục của ông cha ta từ bao đời nay. Điều ấy cần phải được nhìn nhận và phê phán một cách nghiêm túc, nhằm xác lập lại bộ mặt đời sống văn học lành mạnh, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiên đại hóa đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh./.

20/2/1013

ĐỖ NGỌC YÊN

..................

Chú thích:

(1) Các Mác và Ăng- ghen, Toàn tập, Tập 4. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1995.

(2) Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Sđd, trang 632-633

(3) Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Sđd, trang 632-633

(4) Nghị quyết số 05-NQ/TW. Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 48. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, trang 479-481

(5, 6) Báo Nhân dân, số ra ngày 12-9-2007