Trong bài phỏng vấn Anne Carson đăng tải trên tờ The New Yorker vào năm 2024 do Kate Dwyer thực hiện, cả hai đã cùng thảo luận về văn chương, nghệ thuật viết và quá trình sáng tạo của chủ nhân giải Nobel Văn chương 2026.
*
- Một trong những chủ điểm mà bà quan tâm là ngôn ngữ, bản thân bà cũng là một dịch giả. Điều ấy luôn đi kèm với khía cạnh mất mát, không được trọn vẹn… Bà có thể chia sẻ suy nghĩ của mình về điều này không?
+ Thẳng thắn mà nói, tôi không tin rằng ai đó có thể hiểu được một cách hoàn toàn người khác thực sự muốn nói điều gì. Với tôi, ngôn ngữ rất, rất cá nhân, rất đỗi riêng tư. Kì lạ thật! Vì vậy nó cũng sở hữu tính “dịch là diệt” như khi chuyển ngữ. Nghe thì có vẻ là ẩn dụ vô cùng uyển chuyển, thế nhưng nó còn vô vọng hơn thế nhiều lần. Với tôi, nỗ lực để nói chuyện như một con người thật sự chính là cố gắng vượt qua sự vô vọng đó.
- Vậy với tư cách một dịch giả, điều gì xảy ra khi bà cố gắng chuyển ngữ dù biết trước là vô vọng?
+ Tôi thường nghĩ về dịch thuật như một con mương - một con mương ngăn cách giữa hai con đường hoặc hai quốc gia. Điều luôn khiến tôi hứng thú là trạng thái tâm lí mà dịch giả có thể có được khi họ sở hữu cùng lúc đến hai ngôn ngữ bên trong não mình nhưng khó mà tìm thấy được phương án hoàn hảo khi chúng trôi nổi liên tục ở đó. Một số tác giả - như Emily Dickinson chẳng hạn - sử dụng con mương nói trên ngay trong ngôn ngữ của mình. Theo đó bà không dịch thuật từ ngôn ngữ khác mà là đang dịch chính bản thân mình. Nó là kiểu bà ấy thường viết những dòng và từ nhất định, rồi gạch bỏ và viết từ khác thay vào, hoặc viết từ thứ ba ở ngay bên cạnh, hoặc lật ngược tờ giấy lại và tạo ra phiên bản khác... Tất cả những điều nói trên cùng nhau tồn tại như một bài thơ. Đó thực sự là một trạng thái tâm lí kì lạ, từ việc trôi nổi đến thực sự tồn tại, cấu thành thơ ca một cách trọn vẹn - trong sự lộn xộn, chưa được giải quyết.

Với Anne Carson, dịch thuật mang đến những trải nghiệm vô cùng kì lạ.
Trong dịch thuật, điều này nảy sinh theo một cách khác, bởi ta có sẵn một văn bản đôi khi có nhiều cách hiểu, thậm chí có lúc diễn giải mà các học giả đưa ra trong suốt nhiều năm nhằm làm sáng tỏ cuối cùng lại thiếu chính xác. Vì vậy, ta lại thấy những khả thể lơ lửng trong tâm trí về cùng một điều nhưng theo những hướng khác nhau. Và tất cả cùng tồn tại, tạo nên thơ ca. Tôi chưa bao giờ biết phải làm gì với điều đó. Thật tuyệt vời khi có một bài thơ tiếng Hi Lạp với nhiều cách hiểu bằng tiếng Anh bên dưới.
Trên thực tế, tôi không thể truyền tải hết vẻ đẹp đó chỉ trên một trang sách, hay trong một thứ có vẻ chật chội được gọi là “bản dịch của x”. Không có cách nào cho việc đó cả. Ta có thể làm điều đó trên máy tính nhưng về cơ bản, không ai dành ra thời gian để đọc tất cả những chú giải đó. Là một học giả, khi nhìn vào trang sách với ngôn ngữ và các biến thể, tất cả đều sẽ hiện lên trong tâm trí ta. Đó là một trải nghiệm phi thường. Tôi nghĩ rằng, ở những khía cạnh tinh tế hơn, điều đó khó mà diễn đạt sao cho dễ hiểu!?
- Vậy còn việc tạo ra thứ gì đó từ con số không thì sao?
+ Tôi nghĩ về nó như điều gì đó xuất hiện trong tâm trí, sau đó sẽ được tiếp tục xử lí nếu đủ thú vị. Nó giống như theo đuổi điều gì đó, chẳng hạn như một con cáo băng qua sân sau nhà mình và ta quyết định theo dõi xem mình có thể đến được nơi nó sống hay không chẳng hạn. Đó là một kiểu lần theo dấu vết.
- Vậy “con cáo” ấy có duy trì một ý nghĩa hay cảm xúc cố định nào không, hay chúng thay đổi mỗi ngày?
+ Tôi không thể biết “con cáo” đó đến từ đâu. Đôi khi tôi đang viết lời giới thiệu cho đĩa LP The Visitors của Ragnar Kjartansson thì lại có cảm hứng vẽ, thế là “con cáo” chuyển sang bức tranh, và vì nó là một “con cáo” tuyệt vời nên tôi nghĩ, “Mình phải đưa nó vào chỗ nào đó,” vậy là tôi đưa nó vào phần giới thiệu bài The Visitors. Bạn thấy đấy, đó chỉ là một con cáo tình cờ xuất hiện và dường như phải được xử lí.
- Làm thế nào để bà chạm đến trạng thái sáng tạo cao nhất của mình?
+ Đôi khi những gì tôi viết chỉ đơn giản là về ánh sáng. Và dường như có một loại giao ước nào đó đã được thiết lập giữa tôi và đối tượng này, để nói – trong cuốn sổ này, thứ chẳng ai đọc – ánh sáng hôm nay trông như thế nào, và tìm ra từ để miêu tả nó sao cho chính xác. Tôi không biết giao ước đó là gì. Nhưng dường như nó chi phối tất cả tác phẩm của tôi. Và rồi sau khi nắng tắt, tôi có thể nói về mẹ, bữa ăn hoặc là lí thuyết dịch Proust… Nhưng điều quan trọng là chúng đã đi qua rồi. Ánh sáng mới là cốt tủy. Tôi vẫn không hiểu tại sao lại như vậy, hoặc “hợp đồng” đó vốn đến từ đâu.

Không chỉ viết lách, hội họa cũng là hoạt động mang đến cảm hứng cho Anne Carson. Trong ảnh là tác phẩm Nox của bà.
- Có kĩ năng nào ngoài viết lách hỗ trợ quá trình sáng tạo của bà không?
+ Vẽ và hội họa. Tôi sẽ thêm vào cả bơi lội nữa. Dọn dẹp nhà cửa cũng vậy, tôi rất giỏi việc đó đấy.
- Bơi lội ư?
+ Nó giúp tôi không ủ rũ cũng như cáu kỉnh. Thỉnh thoảng tôi suy nghĩ trong hồ bơi nhưng thường thì những ý tưởng đó sẽ không dùng được. Chúng cũng giống như những thứ ta có trong mơ – nơi ta nhận được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi từng có về thực tại và rồi tỉnh dậy trong trạng thái mơ màng. Sau đó không lâu ta viết nó xuống để rồi hôm sau lại nhận ra nó hóa ra vô nghĩa như "Hãy đi mua chuối" hoặc tương tự thế. Thêm nữa, tôi thích nước. Có một số người cần ở gần nước.
- Trong các chương trình dạy viết sáng tạo người ta hay nói về nhân vật, ngôi kể hay những kĩ thuật kể chuyện. Bà có quan tâm về những thứ như vậy không?
+ Không bao giờ. Tôi không nghĩ về điều đó. Tôi nghĩ mọi người nên bỏ những suy nghĩ vẩn vơ đó đi. Hãy cứ suy tư về điều gì đó và theo đuổi cho đến khi nó nên hình nên dạng.
- Gần đây việc tư duy phản biện đang bị xem nhẹ về mặt văn hóa. Là một nhà tư tưởng và là giảng viên, bà có nhận thấy điều đó không?
+ Đó là một phần lí do khiến tôi bắt đầu suy nghĩ về khoảng tạm nghỉ. Vài năm gần đây khi còn đứng lớp, tôi dạy tiếng Hi Lạp cổ và viết sáng tạo. Phương pháp giảng dạy mà tôi lựa chọn là để các học viên đọc lướt qua văn bản, tìm những từ không biết và tra từ điển. Sau đó mới đến bước tìm hiểu ngữ nghĩa và ghi lại chúng. Với tôi việc tra từ điển là một quá trình tốn kém thời gian, đôi khi giống như sự mơ màng hay suy nghĩ bị đình trệ dẫu cho khi ấy ta không nghĩ suy về điều gì cả. Thế nhưng đó là một kiểu thời gian khác, một loại tâm lí khác… Nó rất giá trị và tôi gọi đó là khoảng tạm nghỉ.
Ngày nay, mọi người thường nhìn văn bản trên máy tính, và khi bắt gặp một từ không biết, chỉ cần nhấn nút và ngay lập tức ngữ nghĩa sẽ được xổ ra. Máy tính sẽ chọn nghĩa phù hợp nhất ứng với đoạn văn. Như vậy ta sẽ không biết lịch sử của từ cũng như không có cơ hội hiểu các nghĩa khác. Trên thực tế, khoảng thời gian bị mất đi đó tạo nên sự khác biệt hoàn toàn trong cách ta nhìn nhận ngôn ngữ. Nó giúp não bộ được nghỉ ngơi trên con đường tư duy bởi ta chưa thực sự nghĩ. Nó nằm trên con đường dẫn đến sự hiểu biết, vì vậy nó được giữ lại trong một trạng thái tin tưởng nhất định. Tôi tiếc vì trải nghiệm đó đang mất dần đi…
- Bà có nghĩ một người đọc nhiều sẽ trải nghiệm thời gian khác với một người cả ngày nhìn vào màn hình không?
+ Nhận định nói trên dường như hơi vội. Tôi không chắc nữa. Điều tôi chắc chắn là ta luôn luôn tìm cách ngừng lại thời gian. Điều đó chỉ xảy ra trong những khoảnh khắc tập trung tuyệt đối, đó là lí do tại sao ta theo đuổi chúng. Tôi cho rằng điều đó có thể xảy ra khi xem phim Netflix, hoặc đang say sưa sáng tác bài thơ hay nhất của mình. Cả hai đều có thể tạo ra một điểm tập trung mà ta có thể đắm chìm. Mối quan tâm duy nhất của tôi khi đối phó với thời gian đó là tìm cách để nó ngừng lại. Bởi vì khi điều đó không xảy ra, ta sẽ cảm thấy thật sự nhàm chán. Khi ấy ta cứ nhìn nó lặng lẽ trôi qua, và chẳng có gì đủ thú vị để lấp đầy khoảng trống đó. Tôi chẳng tìm thấy điểm trung gian nào giữa sự nhàm chán và thứ gì đó khác… sự bất tử chăng? Thoát khỏi thời gian, đắm chìm trong trạng thái khác, thật sự rất thú vị. Thú vị đến nỗi quên cả lo lắng về chính thời gian.
- Bà có thường xuyên ở trong trạng thái đó hàng giờ liền không?
+ Có lẽ vài phút, nếu tôi may mắn!
NGÔ THUẬN PHÁT theo The New Yorker