.NGUYỄN THANH TÚ
Con đường đi cứu nước của Bác Hồ kéo dài 30 năm (1911-1941), qua 40 nước, làm 12 nghề khác nhau, dùng 29 thứ tiếng, sử dụng thành thạo 12 ngôn ngữ, trong đó có các ngôn ngữ chính như Pháp, Hán, Anh, Nga, Đức… Thế mà khi trở thành vị Chủ tịch Nước Bác Hồ vẫn là “người Việt Nam nhất” trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ. Đấy cũng chỉ là một trong những minh chứng cho nhà yêu nước Hồ Chí Minh đồng thời cũng là một nhà tư tưởng tất cả vì mục đích “độc lập cho Tổ quốc”, “tự do cho đồng bào”, “hạnh phúc cho nhân dân”. Đối với những nhà tư tưởng lớn, mỗi con chữ đều thể hiện rất rõ tư tưởng của họ, mà Hồ Chí Minh là một trường hợp sinh động.

1.Có thể hình dung cây đại thụ văn hóa Hồ Chí Minh cường tráng lực lưỡng là do cắm rễ rất sâu vào mạch nguồn văn hóa truyền thống. Điều này thể hiện rõ nhất trong việc Người giữ gìn, tiếp thu, kế thừa tinh hoa ngôn ngữ văn hóa. Người yêu quê hương thì biểu hiện trước hết là không bao giờ quên tiếng của quê mình. Bác Hồ là người như vậy. Một ca sĩ xứ Nghệ hát câu “Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục…”, Người chữa ngay: “- Ở Nghệ An, người ta gọi là “nác” chứ không phải là “nước”. Một nghệ sĩ hát “Lưng dài có võng vòng tôm” Người cũng sửa ngay: “Lưng dài có võng đòn cong”. Nghệ sỹ hát tiếp bài khác: “À ờ ơ ...ru em em ngủ cho muồi...”, Bác cười và nói phải hát là: “Ru tam tam théc cho muồi...”. Vì tiếng miền Trung, “tam” có nghĩa là “em”; “théc” có nghĩa là “ngủ”. Nghệ sỹ hát tiếp: “Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu...”. Bác lại sửa: “- Để mạ chứ không phải để mẹ”. Nghệ sỹ sửa và hát: “Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười: “- Mua cau Cam Phổ chớ không phải chợ Sải” (1). Từ góc nhìn Folklore học chúng ta thấy cách Bác dùng ngôn ngữ là bài học tuân theo nguyên tắc căn bản của folklore: nó như thế nào thì giữ nguyên dạng như thế.
Bôn ba cả tuổi trẻ, đi hầu khắp năm châu bốn biển vì dân vì nước mà không hề quên một điệu hát lời ru, đó là một trí nhớ siêu việt, nhưng cái chính là một tấm lòng sâu nặng với quê hương nguồn cội. Thật cảm động và sâu xa ý nghĩa biết bao, trước lúc đi xa Bác muốn nghe một khúc dân ca xứ Nghệ, một câu hò Huế, để nhớ về nơi mình sinh ra, nơi tuổi thơ của mình đã sống, nơi người mẹ thân yêu của mình qua đời. Bài học từ Bác là bài học của một tình yêu, bài học hiểu sâu, nắm vững ngôn ngữ, văn hoá dân tộc mình, quê hương mình. Còn là bài học về giữ gìn, bảo tồn lời ăn, tiếng nói, rộng hơn là văn hoá dân tộc. Cái nguồn mạch giàu có, sống động, tươi mới của ngôn ngữ văn hóa dân tộc đã góp phần chủ yếu để tạo nên một phong cách ngôn ngữ độc đáo Hồ Chí Minh.
Tình cảm quê hương kết tinh vào ca dao. Bác Hồ rất thuộc ca dao xứ Nghệ. Sau mấy chục năm xa cách, ngày 27-10-1946 được gặp chị gái mình là bà Nguyễn Thị Thanh, Người nghẹn ngào: “Chị ơi, quê hương nghĩa nặng ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình…” (2). Ngày 3-11-1946 gặp lại anh trai mình là ông Nguyễn Sinh Khiêm, Người cảm động đọc bài ca dao: “Chốc đã mấy chục năm trời/ Còn non, còn nước, còn người hôm nay”. Ông Khiêm ứng đọc: “Thỏa lòng mong ước bấy nay/ Nước non rợp bóng cờ bay đón Người”. Ông Cả Khiêm mở chiếc va-ly đan bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam Xã Đoài, Bác Hồ đỡ lấy cam, rơm rớm nước mắt và đọc bài ca dao xứ Nghệ: “Quê ta ngọt mía Nam Đàn/ Bùi khoại chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài/ Ai về ai nhớ chăng ai/ Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh” (3). Thì ra, đối với những con người yêu nước tình cảm riêng tư của họ luôn hòa vào tình cảm chung: tình yêu đất nước và biểu hiện tình cảm ấy thông qua ngôn ngữ văn hóa của quê hương đất nước mình. Từ khi giữ cương vị Chủ tịch Nước thì câu ca dao Bác Hồ hay dùng nhất (thể hiện trong Toàn tập) là câu: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà nếu là người Việt thì ai cũng thuộc, cũng hiểu ý nghĩa. Bác mượn câu ca ấy nhắc nhở mọi người thương yêu đùm bọc lẫn nhau, để phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh mà Bác có biến đổi một vài chữ.
Người cũng thường hay mượn ca dao để giáo dục cán bộ cũng là một cách tăng cường thêm chất thơ cho cuộc đời. Tháng 8-1964 tiễn hơn năm mươi cán bộ quân đội chi viện miền Nam, Người đọc: “Em khôn cũng ở trong bồ/ Anh dại cũng ở kinh đô mới vào” như để nhắc mọi người về vinh dự và vai trò, trách nhiệm nặng nề của người cán bộ miền Bắc (4). Ngày 14-5-1965 Bác về thăm hợp tác xã Xuân Phương khi đồng bào đang gặt lúa chiêm, nhìn thấy con cua Bác giục một bà nông dân bắt và ứng khẩu: “Bắt về con ốc con cua/ Bát canh ngon miệng đỡ mua tốn tiền” (5). Thì ra Bác cũng như người nông dân chân chất, bình dị với ngôn ngữ mộc mạc vần vè, dí dỏm.
Hồ Chí Minh rất hay lấy mạch nguồn thần thoại Lạc Việt như Lạc Long Quân, Sơn Tinh, Phù Đổng Thiên vương…để kêu gọi người dân Việt tự hào về nòi giống, đoàn kết thương yêu nhau để đứng dậy đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Các danh từ, cụm danh từ Hồng Lạc, Lạc Hồng, Con Hồng cháu Lạc, Con Rồng cháu Tiên, Rồng Tiên…chỉ dòng giống vinh quang của người Việt xuất hiện nhiều lần vừa gợi lên ở người dân niềm tự hào về nòi giống, lòng biết ơn tiên tổ vừa đánh thức ở họ một ý thức đoàn kết. Cũng không ngẫu nhiên khi được Người nhắc lại nhiều lần ở thời điểm lịch sử những năm đất nước khó khăn nhất (trước 1945 và thời kỳ đầu đánh Pháp). Lời của tác phẩm Lịch sử nước ta vượt lên trên lời của một cá nhân để vươn tới tầm là lời của lịch sử: “Mai sau sự nghiệp hoàn thành/ Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng”. Bài Mười chính sách của Việt Minh có nội dung tuyên truyền những công việc cách mạng, mở đầu là hình tượng Rồng Tiên: “Làm cho con cháu Rồng,Tiên/ Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta”. Khép lại cũng là hình tượng ấy: “Rồi ra sự nghiệp hoàn thành/ Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng”. Trong số các bậc anh hùng có trong lịch sử, Hồ Chí Minh hay nói đến các vị: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Quang Trung. Đây là những tấm gương oanh liệt được sử sách ghi nhận là những con người quên mình vì nghĩa lớn, những ý chí cứu nước, những tài năng quân sự kiệt xuất…Trong kháng chiến chống Pháp, những trận đánh, những chiến dịch lớn, theo đề nghị của Người đã lấy tên các vị anh hùng từng thắng giặc vẻ vang: Trận Lý Thường Kiệt, Chiến dịch Trần HưngĐạo, Chiến dịch Quang Trung… Đặc biệt hình tượng Hai Bà Trưng được Hồ Chí Minh nói tới nhiều nhất. Có thể đây là tấm gương yêu nước sớm nhất, tiêu biểu nhất cho ý chí quật cường của cả dân tộc, và đây cũng là trang sử bi thương nhưng hào hùng, mà ai, nếu là người Việt Nam đều biết.
Biểu trưng gốc rễ xuất hiện với tần số rất cao trong tác phẩm của Người, như: “Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”. Truyền thống nhân nghĩa của người Việt đã quy định một nét tâm lý kính trọng tiền nhân, biết ơn nguồn cội...Bác Hồ kế thừa đạo lý này và dĩ nhiên tạo ra một màu sắc ý nghĩa mới cho phù hợp với thời đại mới trong việc giáo dục đạo đức cách mạng. Tháng 6-1968 làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt việc tốt”, Bác nhắc nhở cán bộ: “Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!” (6). Một chân lý về quan hệ giữa cá nhân và quần chúng, giữa bộ phận và toàn thể được diễn đạt rất dễ hiểu bằng những hình ảnh giản dị. Toát lên một chân lý giáo dục: dù có thể trở thành tài năng thì cũng phải nhớ tài năng ấy do “cái nền”, “cái gốc” là nhân dân, là văn hóa truyền thống. Biết bao ân tình, biết bao ơn nghĩa chất chứa trong những câu nói ấy! Nhắc nhở chúng ta về phép biện chứng: phải đi tìm cái gốc, bản chất của sự việc; về bài học uống nước nhớ nguồn.
Chữ “xuân” là một biểu trưng của người Việt, vượt ra khỏi nghĩa chỉ thời gian để nói về niềm vui, ước mong, hạnh phúc, niềm tin, tuổi trẻ. Thơ văn Bác Hồ nhiều “xuân”, để chỉ thời gian: Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công; chỉ sức sống, sự sống, sức trẻ, tuổi trẻ: Sáu mươi tuổi còn xuân chán; là niềm vui, niềm tin, lạc quan: Một năm là cả bốn mùa xuân; chỉ cuộc sống đang đà sinh sôi phát triển: Làm cho đất nước càng ngày càng xuân; chỉ sự giáo dục phát triển nhân cách tốt đẹp: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”.
Bác Hồ rất hay dùng ngụ ngôn. Với đặc trưng là lời nói, mẩu chuyện trong đó gửi gắm một ý tứ xa xôi, bóng gió có tính giáo dục bài học nhân sinh gì đó được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong dân gian nên được các nhà chính trị, tư tưởng lấy đó để diễn đạt các suy nghĩ, quan niệm của họ. Thực tế các nhà ngụ ngôn nổi tiếng thế giới như Êdốp, Pheđơrơ, La Phôngten, Trang Tử, Liệt Tử… cũng đều là các nhà tư tưởng. Với tư cách là một nhà chính trị Bác Hồ cũng mượn ngụ ngôn để sử dụng vào mục đích chính trị, có thể gọi đó là ngụ ngôn chính trị.
Ví dụ Truyện ngụ ngôn được Người viết tại Quảng Châu năm 1925, có thể tóm tắt truyện thế này, con rồng tự hào là thủy tổ của người An Nam có nhiều bậc anh hùng cứu nước. Con tôm “phản biện” lại, nói tôm sướng hơn người An Nam vì thân nó cong là do ý trời còn người An Nam lưng còng là chịu sưu cao thuế nặng. Con cừu đồng tình nói, người An Nam giống loài thỏ, cừu bị cắt lông một năm một lần nhưng người An Nam bị Pháp bóc lột tứ thời. Rắn nói người Pháp “khẩu Phật tâm xà” mà người An Nam lại rước họ vào nước mình. Voi buồn cho người An Nam “rước voi về giày mả tổ”. Lươn chê người An Nam dễ để cho đồng tiền cám dỗ. Chuột mỉa mai người An Nam không nghĩ gì đến đất nước. Gà trống khinh người An Nam vì tiền mà bội bạc. Cá chép sung sướng bởi mình sẽ có ngày hóa rồng mà buồn thay cho dân An Nam suốt đời nô lệ mà không dám vùng lên… Kết lại câu chuyện là lời bình luận của người kể: “Ôi, những người An Nam, các anh phải luôn nhớ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh”.
Dễ thấy một sự học tập hình thức truyện Lục súc tranh công trong ngụ ngôn dân gian để châm biếm sự ươn hèn, yếu đuối, bạc nhược cam chịu nô lệ nhục nhã của “dân An Nam”. Câu chuyện không chỉ đáng đọc ở cái thời đất nước ta đắm chìm trong nô lệ mà cũng rất đáng đọc ở cái thời nay, đọc để tự ý thức về tinh thần vươn lên, về cởi bỏ những tâm lý xấu, tính cách xấu… Hôm nay người ta nói nhiều đến phản biện, phản biện xã hội, coi phản biện như là một hình thức tư duy mới mẻ, tiến bộ. Thực ra phản biện, phản biện xã hội luôn là một thuộc tính tư duy của con người, càng có tinh thần khoa học, dân chủ, càng có khát vọng đổi thay xã hội, làm mới, làm tốt cho con người thì càng giàu ý thức phản biện. Không phải ai cũng có ý thức phản biện và năng lực phản biện, phải là người có trách nhiệm sâu sắc với xã hội, có tình yêu con người, có năng lực phát hiện vấn đề… mới có thể phản biện được. Trên tinh thần ấy thì Bác Hồ là một người luôn có tinh thần phản biện mà hôm nay chúng ta rất nên học tập về mọi phương diện, ý thức, cách thức, đề tài, nội dung. Một loạt truyện ngụ ngôn được Người viết trong năm 1942: Ca sợi chỉ, Hòn đá, Con cáo và tổ ong, Nhóm lửa, Chơi giăng… Vì là hướng tới mọi đối tượng, đặc biệt là tầng lớp nông dân ít học nên những truyện này rất giản dị, dễ hiểu, thường có cấu trúc hai phần, phần đầu là kể chuyện, phần hai là lời bình luận để kêu gọi đoàn kết. Đây là những tác phẩm ngụ ngôn thực sự nghệ thuật, một thứ nghệ thuật tuyên truyền rất giản dị mà hiệu quả.
Bác Hồ rất hay tập “Kiều”, chỉ thay đổi một vài chữ cũng thể hiện rất rõ tư tưởng của Người. Kiều cùng Từ Hải “Nửa năm hương lửa đang nồng” thì Từ Hải phải lên đường, Thuý Kiều ở lại ngóng về Từ: “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/Đã mòn con mắt, phương trời đăm đăm!”. Hoàn cảnh này, tâm trạng này được Bác Hồ tập trong hoàn cảnh tiễn Tổng thống Xucácnô tại sân bay Gia Lâm: “Thời gian Tổng thống lưu lại ở Việt Nam chúng tôi lần này quá ngắn ngủi! Nhưng vì Tổng thống đi vắng đã hơn hai tháng, nhân dân Inđônêxia nhớ nhung và chờ đợi lãnh tụ kính mến của họ, một ngày dài như ba thu. Thật là: “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/ Trông mòn con mắt, phương trời đăm đăm!” (7). Bác chỉ thay một chữ Đã trong “Kiều” bằng từ Trông để diễn tả tấm lòng mong mỏi, trông ngóng từng giờ của nhân dân Inđônêxia nhớ nhung và chờ đợi lãnh tụ kính mến của họ. Thật là một sự ca ngợi kín đáo mà tinh tế!
Trong màn đoàn viên, Kim Trọng nghe Thuý Kiều đánh đàn: Chàng rằng: - Phổ ấy tay nào/ Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy/ Tẻ vui bởi tại lòng này/ Hay là khổ tận đến ngày cam lai. Tiếng đàn Kiều khác xa vì cuộc đời Kiều khác trước, lời nhận xét của Kim Trọng về tiếng đàn được nâng lên thành một nhận định phổ quát về cuộc đời, đầy niềm tin, ấm áp, ân tình. Bác Hồ lại mượn ngay chính lời chàng Kim để tập trong một bài thơ chan chứa tình đời, trĩu nặng nghĩa ân: Cảm ơn bà biếu gói cam/ Nhận thì không đúng, từ làm sao đây/ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/ Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai. Bài thơ Bác làm khi Cách mạng tháng Tám vừa thành công, nước cộng hoà non trẻ của chúng ta vừa ra đời, hẳn nhiên còn phải vượt qua biết bao ghềnh thác. Thế mà bài thơ đã mang một không khí lạc quan, dĩ nhiên cả đất nước này còn “khổ tận” nhiều nhưng “đến ngày cam lai” là tất yếu. Tình người, niềm tin vào hạnh phúc trong bài thơ của Bác còn toát ra từ lối tập Kiều ý vị, ai cũng biết câu Kiều ấy là ở màn đoàn viên sum họp, Bác chỉ thay hai chữ Hay là của Kim Trọng bằng hai chữ Phải chăng còn nhiều dự cảm. Đúng thế, vì khi ấy cả đất nước ta đang ngổn ngang trăm mối mải lo đối phó với thù trong giặc ngoài! Bác Hồ rất thích tập hoặc lẩy câu Kiều: “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” ở màn “đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy”. Cũng là niềm hy vọng, mong muốn con người luôn được đoàn tụ hạnh phúc, sum vầy.
2. Tư tưởng yêu thương con người, gần dân, thương dân, vì dân cũng được thể hiện rất rõ qua từng con chữ. Ngôn ngữ Bác Hồ giản dị, rõ ràng mà lại giàu hình ảnh, đậm đà giá trị biểu cảm là nhờ bắt sâu từ tục ngữ, thành ngữ, ca dao, lời ăn tiếng nói của nhân dân nên. Đó là một thứ ngôn ngữ sống động mang hơi thở của đời sống nhân dân lao động nên xa lạ với ngôn ngữ quan phương hành chính mệnh lệnh.
Tính khẩu ngữ đã góp phần tạo ra một đặc điểm ngôn ngữ Hồ Chí Minh có xu hướng toàn dân, phổ cập, thông thường, dễ hiểu, dễ nhớ. Lời văn tác giả nhiều khi là sự phát triển từ một thành ngữ, có trường hợp cả lời văn gần như là sự tập hợp của các thành ngữ: “Chúc các đồng chí đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió”. Câu văn cứ như toát ra từ đời sống thực nhờ sử dụng hình ảnh và cách nói vần vè của nông dân: “Từ bây giờ cho đến khi thóc vào bồ, ngô vào cót, luôn luôn phải lãnh đạo chặt chẽ”. Những thành ngữ quen thuộc nhưng được vào ngữ cảnh mới nên sinh động hẳn lên. Một lần về cơ sở, Người nói: “cán bộ về xã mà không khéo giữ gìn thì thành cán bộ “thịt gà lá chanh…”. Chỉ kiểu cán bộ quen thói hành chính giấy tờ, Bác nói họ lúc nào cũng “đầy túi quần thông cáo đầy túi áo chỉ thị” mà không được việc. Hầu như ở trường hợp nào Người cũng có một thành ngữ, tục ngữ tương ứng hoặc có trong dân gian hoặc tự sáng tạo ra. Một lần Bác đến thăm khu văn công, hàng trăm diễn viên quây quần bên Bác, có diễn viên nam len vào ngồi cạnh và đưa tay vuốt chòm râu…Bác không gạt tay anh mà nói vui: “- Khéo chớ dứt râu Bác! Một sợi râu là một xâu bánh...” (8). Có khi chỉ là mượn một hình ảnh ai cũng biết có trong tự nhiên mà bật ra ý nghĩa, thú vị mà sâu sắc. Lần ấy dự cuộc họp bàn chia ruộng đất cho nông dân cán bộ bàn cãi rất căng, Người nói: “Nắng dịu trời mới đẹp!” (9), thì ai cũng hiểu việc gì cũng phải giữ thái độ ôn hòa, nhẹ nhàng, mềm mỏng, hơn nữa là việc hết sức nhạy cảm là lấy đất của địa chủ chia cho dân nghèo. Thành ngữ là sản phẩm của cách nói ví von phổ biến được tích luỹ lâu đời nên đã góp phần tạo ra một đặc điểm ở tiếng Việt là rất giàu hình ảnh. Là một hiện tượng văn học đặc biệt trong việc kế thừa, phát triển vốn văn hoá đặc sắc của dân tộc nên việc Hồ Chí Minh hay dùng thành ngữ, tục ngữ như là tất nhiên vậy. Thống kê trong Hồ Chí Minh toàn tập… cho thấy Người dùng 52 tục ngữ khác nhau, 285 lượt thành ngữ (203 thành ngữ khác nhau). Con số chỉ nói lên một phần nhưng điều đặc biệt là phẩm chất của các dẫn ngữ này rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, giàu sắc thái được sử dụng hết sức linh hoạt.
Trong vốn từ vựng của Người hầu như có mặt của tất cả các giọng nói của mọi tầng lớp, giai cấp người trong xã hội. Điều ấy đã thể hiện tinh thần dân chủ, tính đa dạng, phong phú, sinh động của ngôn ngữ văn hoá Hồ Chí Minh. Người là một điển hình trong việc gìn giữ ngôn ngữ văn hoá địa phương, coi đó là cái gốc, là mạch nguồn, là những nét đặc sắc góp vào sự đa dạng của văn hoá dân tộc. Thông thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài, Người cũng nói giỏi và am hiểu phong tục của nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam. Về thăm các địa phương có người dân tộc Người cũng thường nói và viết tiếng dân tộc của bà con để hoà đồng như là một thành viên trong gia đình vậy.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới đồng bào công giáo. Có thể lý giải điều này là xuất phát từ quan niệm đoàn kết và tình thương nhân dân của Bác và tình hình công giáo nước ta trong những năm kháng chiến là đồng bào dễ bị kẻ thù lợi dụng nên Bác Hồ càng phải giúp họ hiểu về đường lối kháng chiến, về chính sách đoàn kết, về tinh thần nhân ái của người Việt. Lời thư Người gửi cho đồng bào thường có đặc điểm chung là câu thường dài, âm hưởng đều đặn, giọng điệu thường ngân nga, nếu cho phép có một so sánh thì giống như giọng một vị đức cha giảng kinh thánh vậy. Mới hay sự vĩ đại, trí tuệ, tâm hồn của Hồ Chí Minh thể hiện ngay ở cách viết câu văn!
Đối với đồng bào phật tử, Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm và quan tâm theo một cách riêng, cách của nhà Phật. Những lá thư Người gửi cho đồng bào luôn là sự phối hợp hai phong cách, ngôn từ của Phật giáo và ngôn ngữ toàn dân. Có những từ khó hiểu đối với ngôn ngữ toàn dân nhưng lại thân thuộc với ngôn ngữ Phật giáo vẫn được tác giả sử dụng. Bài học của mọi bài học trong việc thu phục nhân tâm của Bác Hồ là tình yêu thương và sự chân thành. Hãy yêu thương đến hết mình, hãy chân thành tận đáy lòng thì tình người sẽ đến với tình người, niềm tin sẽ đến với niềm tin.
Tình yêu con người sâu nặng là cơ sở cho những quan niệm thực sự nhân văn, đậm một tình người. Một lần Bác thân ái phê bình nhà thơ Việt Phương “không có trận đánh đẫm máu nào “đẹp” cả, cho dầu thắng lớn. Với tư tưởng gần dân, là “đầy tớ” của dân nên đối với các cụ tuổi cao Bác Hồ xưng cháu. Lá thư của Người gửi cụ Phùng Lục ở huyện Ứng Hoà, Hà Đông (cũ) không phải thư của vị Chủ tịch Nước mà là tình cảm của một người cháu yêu viết cho người ông đáng kính của mình: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ và trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc...” (10).
Trong những ngày chuẩn bị khởi nghĩa một tác giả làm thơ, có câu: “Lửa thiêu củi mục ù ù cháy” với ý ví lửa như đoàn thể Việt Minh, nhân dân đang u mê như củi mục nhưng gặp lửa vẫn cứ cháy...”. Nghe xong Bác cười: “- Hay đấy, nhưng không được ví dân như củi mục. Nhân dân ta có nhiều người tài giỏi gấp trăm nghìn lần chúng ta, nên sửa lại...” (11). Chỉ một câu nói ngắn mà chứa bao ý nghĩa: yêu thương, quý trọng nhân dân; năng lực phát hiện vấn đề nhanh nhạy, sắc sảo.
Cách dùng từ của Hồ Chí Minh luôn tuân theo nguyên tắc: chính xác, giản dị, giàu ý nghĩa, có từ trong dân, nói để dân hiểu, dân mến, dân tin. Hai chữ “đày tớ” được Người dùng 57 lần (thống kê trong Hồ Chí Minh toàn tập) chỉ người phục vụ vô điều kiện, tuyệt đối trung thành. Từ này thì ai cũng hiểu vì đã trở nên quen thuộc nên được tác giả sử dụng để nói về bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của người cách mạng với nhân dân. Thậm chí có lúc Người nhắc đi nhắc lại hai chữ này để nhấn mạnh: “Chính phủ Cộng hoà Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi (12).
Những năm đầu viết báo tiếng Pháp những danh từ chỉ người Việt vẫn được tác giả viết bằng chữ Việt. Trên báo Le Paria số 4, ngày 1-7-1922, trong nguyên bản tiếng Pháp bài báo Thù ghét chủng tộc tác giả dùng hai chữ “con gái” bằng tiếng Việt. Trên báo L’Humanité ngày 17-8-1922, trong nguyên bản bài Dưới sự bảo hộ của… các chữ “nhà quê”, “Quan lớn”, “lính lệ” viết bằng tiếng Việt. Trong truyện Vi hành chữ “dân” viết bằng tiếng Việt. Có thể là để lôi kéo sự chú ý của dư luận thế giới, hoặc gửi vào đó tình cảm của mình với thân phận dân xứ thuộc địa… Đặc biệt hai chữ “nhà quê” được tác giả đều viết bằng tiếng Việt trong tất cả các văn bản tiếng Pháp. Không phải là trong tiếng Pháp không có từ tương ứng mà tác giả có dụng ý hẳn hoi. Có thể là từ ấy quen với người Pháp ở An Nam, ví dụ hai chữ “con gái” thường xuất hiện trong các bài báo tiếng Pháp là do người Pháp nuôi những thiếu nữ người Việt vừa để hầu hạ vừa làm trò chơi, họ gọi những người này bằng âm tiếng Việt. Hai chữ “nhà quê” thì mang sắc thái biểu cảm rõ ràng, trong văn cảnh cụ thể thì có thể đó là sắc thái mỉa mai những tên thực dân khinh thường dân An Nam thuộc địa hoặc có thể là tâm trạng xót xa của người viết trước cảnh đồng bào mình bị bóc lột tàn tệ.
Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu một nguyên lý nổi tiếng: “Nước lấy dân làm gốc” để nhắc nhở cán bộ phải luôn biết dựa vào dân và phục vụ vì dân. Tư tưởng này được kế thừa và phát triển từ Nguyễn Trãi, và Bác Hồ giải thích chữ nhân: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Ngôn từ của Người chuyển tải cả một quan niệm nhân văn sâu sắc: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”. Con chữ Người dùng sâu sắc về ý dài rộng về tình. Trong bài Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin viết cho Tạp chí Các vấn đề phương Đông (Liên Xô), có đoạn: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Cách so sánh giản dị nhưng đã nêu bật được tính ưu việt của chủ nghĩa này trong việc tìm ra phương hướng, phương pháp giải quyết vấn đề ở những tình huống khó khăn nhất. Ở câu văn sau cấu trúc theo lối tăng cấp hình ảnh: cái “cẩm nang” - cái kim chỉ nam - mặt trời soi sáng, “cẩm nang” là chìa khóa giải quyết khó khăn, “kim chỉ nam” là hướng đi, “mặt trời” là ánh sáng, để càng nêu rõ hơn ý nghĩa chỉ đường dẫn lối, sức sống, niềm tin, sức lan toả của chủ nghĩa khoa học, biện chứng này. Các hình ảnh cái “cẩm nang”, cái “kim chỉ nam”, “mặt trời”, “tiếng sấm”, “ngọn đuốc”, “ngọn đèn pha” là những ẩn dụ đắt giá, sinh động nhất, đích đáng nhất về ý nghĩa soi đường chỉ lối của Cách mạng tháng Mười đối với cách mạng Việt Nam. Có thể nói Hồ Chí Minh là sự kết tinh đẹp nhất truyền thống “ăn quả nhớ người trồng cây”, và “thương người như thể thương thân”.
Hình thức câu chữ cũng mang tính tư tưởng, qua ví dụ:
“Quân tốt dân tốt
Muôn sự đều nên.
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Nếu nói hình thức mang tính nội dung, “hình thức mang tính quan niệm” thì xét ở ví dụ này có lẽ là rất tiêu biểu. Chủ đề 4 câu thơ trên nói về cái “lầu thắng lợi” thì cấu trúc của nó cũng mang hình “cái lầu” ấy với “thân lầu” là hai câu thơ bốn chữ, “móng lầu” là cặp câu lục bát vững chãi. Khi viết những câu này có thể tác giả không hề nghĩ đến giá trị của hình thức như ta hiểu, nhưng nghệ thuật là thế, là sự vượt ra ngoài những cố tình gò câu ép chữ để trở về với tự nhiên. Nghệ thuật văn chương Hồ Chí Minh là nghệ thuật của sự tự nhiên như vậy.
3. Ngôn từ của Bác dùng luôn mang một ý nghĩa chính trị hoặc văn hóa nào đó. Tháng 3-1947 Bác đặt tên 8 đồng chí làm việc cùng Bác tên mới là Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi, còn đặt cho mình tên mới: Xuân. Năm 1959 đi kiểm tra công tác tại nhà giam Hỏa Lò, Người đề nghị nên đổi chữ “trại giam” thành “khu giác ngộ”. Có đồng chí viết trong một văn kiện về cuộc kháng chiến chống Mỹ: “Địch nhất địch thua, ta nhất định thắng”. Nghe câu này, Bác tức khắc phản ứng: “Phải nói ngược lại : Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. Và Bác giải thích thêm: “Ta phải thắng thì nó mới thua”. Điều này thể hiện cả một quan điểm, một ý chí sắt đá quyết chiến và quyết thắng không gì lay chuyển được”.
Đầu năm 1946 cách mạng nước ta lâm vào tình thế vô cùng hiểm nghèo: giặc Tưởng vào miền Bắc, giặc Anh ở miền Nam, và Pháp đang gây hấn rõ với ý đồ xâm lược trở lại. Với quyết định vô cùng sáng suốt, Người nói: “Không nên cùng một lúc đánh nhau tay 5, tay 6 với lũ cướp nước và bán nước”, và “Đấm bằng cả hai tay một lúc là không mạnh” (13). Vì lòng tự trọng, trước thói hung hăng của kẻ thù, nhiều anh em rất muốn đánh. Hiểu nỗi lo lắng của đồng chí mình, Bác Hồ ân cần giải thích: “- Các chú thấy đấy! Chính quyền cách mạng mới thành lập còn non trẻ. Nhiều mũi nhọn cùng một lúc chĩa vào ta. Ta không thể đủ sức cùng một lúc chống lại tất cả các mũi nhọn đó. Ta cần tách dần các mũi nhọn đó ra, để chỉ còn lại một mũi nhọn, đó là thực dân Pháp thì ta mới tìm cách đối phó được. Một số anh em vẫn nằng nặc đòi đánh, Bác kiên trì giải thích bằng hình ảnh rất sinh động. Người lấy ra một chiếc thước kẻ và một lọ mực. Thước kẻ tượng trưng cho miếng ván, còn lọ mực tượng trưng cho hòn đá. Bác nói: “Đây là hòn đá, đây là miếng ván. Ván dựa vào đá. Muốn ván đổ phải kéo đá đi. Tôi đang làm cái việc bẩy hòn đá đi. Còn các chú cứ gãi mãi vào ván” (14).
Những tầm trí tuệ lớn luôn có cách diễn đạt dễ hiểu những điều phức tạp. Ví dụ sau là một chứng minh: “Tri thức như con dao mổ, trong tay thầy thuốc thì chữa bệnh cho người, trong tay kẻ cướp thì hại người. Nên trí thức phải có chính trị”. Thượng tướng Đàm Quang Trung cứ tâm đắc mãi chỉ một câu nói của Bác Hồ mà có sức mạnh hơn cả ngàn pho sách thuyết lý: “Đoàn kết thì nhất định việc gì cũng làm được. Một người không vây bắt được con hổ nhưng có nhiều người hợp sức thì vây bắt được. Một người không bẩy được hòn đá to, nhiều người bẩy thì hòn đá to cũng phải bật” (15). Ngày 23-12-1954 trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ nói: “Dù sao cũng không được chủ quan khinh địch, cây mục cũng phải xô mới đổ” (16). Chỉ cần một hình tượng cây mục cũng phải xô mới đổ đã nói được bao điều về chiến lược: thế địch thua là rõ ràng; ta vẫn phải tập trung lực lượng ...Đấy là cách nói siêu ngôn ngữ của vĩ nhân!
Qua một phép chơi chữ cũng là dịp để Bác giáo dục cán bộ. Lần đầu Tố Hữu từ Huế ra Bắc gặp Bác, Bác hỏi đi bằng gì, đáp: “Cháu đi ôtô của cơ quan”. Bác nhắc: “Nhớ nhé, ôtô của cơ quan, chứ không phải của các quan đâu đấy!”. Là một nhà thơ lớn mà trước Bác, Tố Hữu cũng giật mình: “Mới nghe lần đầu, đã thấy Cụ thật sắc sảo. Cụ vừa dạy bảo rất nghiêm khắc, vừa “chơi chữ” như đùa vui: “Của cơ quan, chứ không phải của các quan”... Thế là đã được một bài học” (17).
Đối với Bác Hồ thì chỉ dùng một con chữ cũng biểu hiện một thời cơ chính trị, biểu hiện một tư tưởng cách mạng có thể thay đổi cả một cục diện xã hội. Nhà thơ nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi kể “trong không khí bừng sôi thắng lợi của Đại hội (8-1945), tôi hát bài Thanh niên cứu quốc. Tôi say sưa hát với tất cả sự cố gắng nhằm truyền cảm mạnh nhất đến toàn thể các đại biểu. Tôi hát to: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến! Tiến lên, tiến lên, theo cờ Việt Minh!”. Tôi hoàn toàn không biết rằng Hồ Chủ tịch đang chăm chú lắng nghe tiếng hát của tôi. Khi vừa hát xong, tôi bỗng nghe rõ tiếng Hồ Chủ tịch: “Bây giờ mà chú còn hát gươm đâu, gươm đâu thì thật không hợp với tình hình! Chú nên hát gươm đây, gươm đây!” (18).
4. Bác Hồ dùng ngôn ngữ làm cầu nối văn hóa hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Biết nhiều ngoại ngữ đã là điều đáng kính trọng, nhưng cái chính là Bác rất giỏi và tinh tế trong việc dùng ngoại ngữ vào công việc “quốc gia đại sự”. Ngày 25-7-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có Thư gửi nhân dân Pháp sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae, có đoạn: “Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết không làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại; chúng tôi sẽ chiến thắng” (19). Câu châm ngôn Pháp nổi tiếng trên thế giới được sử dụng thật đúng với hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ. Chúng ta đã cố gắng để tránh một cuộc chiến tranh, nhưng bọn thực dân Pháp thì không muốn thế, bởi chúng quyết tâm chiếm lại nước ta. Đây là lá thư gửi nhân dân Pháp, mục đích là để cho nhân dân Pháp hiểu tình hình, hiểu người Việt Nam không muốn đổ máu, nhưng vì lòng tự trọng nên người Việt quyết không chịu hèn mất nước. Như người Pháp đã nói thế (Thà chết không làm nô lệ), “chúng tôi” sẽ làm theo câu nói ấy, hãy ủng hộ “chúng tôi”. Cũng với tinh thần ấy, nhân kỷ niệm ba năm ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh có Điện gửi nhân dân Pháp nhân ngày 19-12-1948: “Dân tộc chúng tôi đã anh dũng chiến đấu. Dân tộc chúng tôi đã chiến đấu “không chút sờn lòng, không điều ân hận”, vì chúng tôi chiến đấu cho tự do, cho độc lập, và đối với nhân dân Pháp chúng tôi không thù hằn gì. Chúng tôi đã tỏ rằng chân lý, công lý, lịch sử và tương lai ở về phe chúng tôi. Chúng tôi sẽ thắng!” (20).
Có hiểu biết ít nhiều về nước Pháp thì ai cũng biết một câu châm ngôn nổi tiếng của hiệp sỹ Bayard của nước Pháp thời cổ: “không chút sờn lòng, không điều ân hận”. Câu trích có ẩn ý: nếu hiệp sỹ Bayard ngày xưa chiến đấu vì chân lý, công lý, thì chúng tôi nay cũng vậy, chúng tôi phải chiến đấu cho tự do, cho độc lập nên quyết tâm của chúng tôi và hiệp sỹ của nhân dân Pháp là giống nhau. Hãy coi chúng tôi như là những hiệp sỹ Bayard của nước Pháp đang chiến đấu vì lý tưởng, vì “chân lý, công lý”.
Hồ Chí Minh đặc biệt ưa thích ngụ ngôn của La Phông ten, những câu chuyện đậm tính chất giáo dục, triết lý đã trở thành cổ điển cho mọi dân tộc trên thế giới. Bác Hồ đã coi truyện ngụ ngôn như là một thứ vũ khí cách mạng, để phê phán, tố cáo kẻ thù, để cảnh tỉnh, thức tỉnh người nô lệ, kêu gọi dân ta đoàn kết, để giải thích tình hình… Ví như một chi tiết trong Trả lời ông Vaxiđép Rao, thông tín viên hãng Roitơ, Người mượn câu chuyện ngụ ngôn để vạch trần một cách đích đáng luận điệu xảo trá của thực dân Pháp khi chúng gây hấn trở lại hòng cướp nước ta lần nữa: “Nước Việt Nam không có lợi gì gây chiến tranh để làm cho nhân dân thiệt hại và chịu bao nhiêu tang tóc. Ông hãy nhớ lại bài ngụ ngôn của Lã Phụng Tiên Con chó sói và con cừu”.
Truyện Con chó sói và con cừu kể một chú sói làm đục dòng suối, con cừu ra suối uống nước liền bị sói mắng là đã làm bẩn nước, cừu cãi lại, nói chính sói mới là kẻ gây ra. Chó sói liền đòi ăn thịt cừu. Ngụ ý của câu chuyện thật dễ hiểu: liệu cái lý của kẻ mạnh mà độc ác (như sói) bao giờ cũng đúng? Không phải. Kẻ mạnh mà độc ác luôn đi ngược lại chân lý thông thường. Chỉ cần mượn một câu chuyện ngụ ngôn mà nói được bản chất của vấn đề: Pháp như con sói kia, là kẻ đi xâm lược, gây ra chiến tranh mà còn vu cho người Việt “gây ra cuộc xung đột”. Đúng là không thể nói những gì, diễn đạt những gì chính xác hơn, hay hơn cách mượn ngụ ngôn này. Lã Phụng Tiên, tức La Phôngten (La Fontaine) nhà ngụ ngôn nổi tiếng thế giới, người Pháp, tác giả của Con chó sói và con cừu. Cũng thật thâm thúy khi Bác Hồ lấy chính một tác phẩm yêu thích của người Pháp nói chung để hài hước mỉa mai những người Pháp xấu – những kẻ thực dân.
Ngoài một thiên tài về tầm nhìn chiến lược, về nhận định thế cuộc, phải khẳng định Bác Hồ là một nhà văn, nhà ngôn ngữ kiệt xuất trong việc dùng ngôn ngữ, hình tượng văn học để diễn đạt một cách chính xác, tinh tế nhất tình hình chính trị. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 nước Việt Nam mới tổ chức Tổng tuyển cử. Bác Hồ chủ động nhường cho Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam bảy mươi ghế trong Quốc hội. Nhưng đối với bọn phản động này thì nhân dân lại rất khinh bỉ nên có người băn khoăn, thắc mắc, Bác Hồ giải thích: “Muốn giồng khoai giồng lúa, người ta phải dùng phân. Muốn đi đến dân chủ mà tất cả chúng ta đều muốn, đôi khi chúng ta phải làm những việc chúng ta không vui lòng làm” (21). Lời Bác thật hết sức giản dị qua một ngụ ngôn gần gũi, quen thuộc với đại đa số nhân dân ta đã làm mọi người yên lòng. Diễn tả cả một tình thế chiến lược cách mạng, chỉ có tầm thiên tài mới có lối diễn đạt ngắn gọn, cụ thể mà sinh động: “Con rắn thực dân đã bị ta đánh gẫy lưng, song nó chưa bị đánh dập đầu. Còn đầu thì nó còn có thể cắn. Vì vậy, ta cần phải cẩn thận hơn, đề phòng hơn, chuẩn bị hơn nữa, để đánh cho giập đầu nó. Khi đó ta mới hoàn toàn thắng lợi!” (22).
Cách dùng ngôn từ vừa biểu hiện một trí tuệ kiệt xuất vừa biểu hiện vị thế của cả một quốc gia. Ngày 28-5-2948, một nhà báo Pháp hỏi “Xin Chủ tịch cho biết dựa trên nguyên tắc nào mà phong tướng cho các vị chỉ huy?”. Người trả lời: “Chúng tôi đánh du kích chống thực dân Pháp nên cũng phong hàm một cách du kích. Ví dụ; cán bộ quân đội nào đánh thắng một quan ba Pháp thì phong làm quan ba. Theo nguyên tắc này…thì đồng chí Võ Nguyễn Giáp của chúng tôi đáng lẽ phải được phong mấy lần Đại tướng và Đô đốc…” (23). Câu hỏi khó, ngầm ý chê bai, và câu trả lời thì tuyệt vời, rất lịch sự nhã nhặn nhưng thể hiện cả một tầm vóc của quân ta vượt hẳn lên tầm đối thủ là quân đội của thực dân Pháp đang ở thế yếu, thế thua kém. Ngày 14-9-1946 Đô đốc Đácgiăngliơ tiếp Bác trên chiến hạm Pháp. Chúng xếp Bác ngồi giữa đô đốc thuỷ quân Thái Bình Dương và thống soái lục quân Viễn Đông. Đácgiăngliơ nói xỏ xiên: Monsieur le Président, vous voilà bien encadré par L’Armée et la Marine (Chủ tịch đang bị đóng khung giữa lục quân và hải quân). Bác trả lời: - Mais, vous savez, Monsieur L’Amiral, c’est le tableau qui fait la valeur du cadre! (Nhưng mà đô đốc biết đấy, chính bức hoạ mới đem lại giá trị cho chiếc khung) (24). Lời nói của Đácgiăngliơ là một ngụ ngôn, ý nói Chủ tịch (có thể hiểu rộng ra là Việt Minh) bị bao vây bởi lục quân và hải quân Pháp. Bác Hồ liền dùng ngay một ngụ ngôn khác để đập lại ngụ ngôn có ý xỏ xiên này, ý nói: chính chúng tôi “mới đem lại giá trị” cho lục quân và hải quân (Pháp).
Năm 1949, trả lời câu hỏi của nhà báo Mỹ: “Chủ tịch thân Mỹ hay chống Mỹ?”. Người đáp ngay: “Tôi chỉ thân Việt” (25). Đây là câu hỏi khó. Nếu trả lời là “thân Mỹ” thì vừa không đúng với thực tế, vừa “mất lòng” các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, đồng thời gây hiểu lầm về mục đích cách mạng trong nội bộ nhân dân ta, “thân” thì rõ ràng không nhưng cần phải tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ (năm 1945 có một số sỹ quan Mỹ đã giúp ta). Nếu trả lời “chống Mỹ” thì cũng không đúng vì lúc này ta đang chống Pháp, rất cần có chính sách phân hóa kẻ thù. Đây là ví dụ tiêu biểu cho cách ứng đối của các nhà lãnh đạo nước ta với báo chí nước ngoài. Tương tự với dẫn chứng trên, đồng chí Phạm Văn Đồng kể có nhà báo ngoại quốc có lần hỏi Hồ Chủ tịch thuộc đảng phái nào. Người đáp luôn: “Đảng của tôi là Đảng Việt Nam” (26).
Bác là một nhà dịch thuật, và đích thực là một dịch giả tài năng. Tháng 2-1948 Bác dịch Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch ký tên Trần Dân Tiên sang tiếng Pháp với mục đích giới thiệu sách ra thế giới. Bác đã dịch nhiều sách báo tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Anh...sang tiếng Việt. Trần Khuyến, nhà dịch thuật nhớ lại: “Tôi nhớ hôm đó Bác nói một câu rất dí dỏm, ví các cô gái Ucraina đẹp như những “cô tiên”. Tôi bí không biết dịch chữ “cô tiên” ra tiếng Nga là gì liền quay sang hỏi Bác. Bác mách bảo tôi: “Cháu cứ dịch “cô gái ở trên trời” cũng được”. Nhà thơ Thế Lữ kể hôm ấy có buổi biểu diễn phục vụ khách quốc tế có cả Bác dự. Buổi biểu diễn bắt đầu. Anh Chu Minh ra giới thiệu vở bằng tiếng nước ngoài. Đến chỗ nói về nhân vật xẩm chợ anh lúng túng không tìm ra tiếng. Anh đang lắp mãi tiếng “một người... một người...” thì có tiếng Bác nhắc từ hàng ghế khán giả. Không ai ngờ Bác đoán được điều anh Chu Minh định nói và dịch ra tiếng nước ngoài (27). Đây là bài học muốn giỏi ngoại ngữ thì trước hết phải giỏi tiếng mẹ đẻ, vì đơn giản ngôn ngữ là mã văn hóa, dịch thuật không chỉ là chuyển ngữ thông thường mà là dịch chuyển mã văn hóa, từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác.
Đối với Bác Hồ thì dịch thuật không chỉ là dịch chuyển mã văn hóa mà cao hơn là sứ giả trung thành nhất, chân thành nhất của tâm hồn đến với tâm hồn. Có lần, một vị Tổng thống của nước bạn đến thăm. Dù Bộ Ngoại giao đã bố trí người dịch giỏi, nhưng Bác không câu nệ thủ tục ngoại giao nên đã tự mình dịch sang tiếng Việt. Người ta thấy ngay vẻ ngạc nhiên, kính cẩn của vị khách đối với “người phiên dịch” vĩ đại này. Ngày lên đường, trong diễn văn từ biệt, vị khách hơn Bác đến sáu tuổi đã kính trọng gọi Bác là “người anh cả”. Có lần đoàn chuyên gia nước ngoài đến chúc Tết, Bác cũng tự dịch hoặc Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói đến đâu, Bác dịch đến đấy bằng các tiếng Nga, Hán, Anh, Pháp…Không khí thêm chan hòa, thắm tình hữu nghị. Sau buổi tiếp, Bác bảo, dịch không phải dễ đâu, tiếng nói là phải chính xác. Bác kể có đồng chí phiên dịch đã dịch câu: “Chúc Hồ Chủ tịch mạnh khỏe sống lâu” thành “Chúc Hồ Chủ tịch bách niên giai lão!”, vốn dùng để chúc cô dâu chú rể trong đám cưới.
5. Là người làm chủ nhiều thể loại ngôn ngữ (tiểu thuyết, truyện ngắn, chính luận, phóng sự, kịch, thơ, ký…) phong phú về bút pháp, đa dạng về phong cách, cũng chính Bác Hồ là người tiên phong trong việc cải tiến, sáng tạo ra thể loại mới, từ ngữ mới. Dấu ấn đậm nét trong cách dùng từ của Bác Hồ trên văn bản là cải cách chữ viết, cụ thể là cải tiến phụ âm đầu. Qua sự khảo sát các bản bút tích dễ nhận ra Bác luôn có ý thức thay con chữ c, ph bằng k, f, thay d, gi bằng z...Theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn thì “đó là những sự cải tiến hết sức cơ bản và mạnh dạn, dựa trên một sự cảm nhận hết sức tinh tế về nguyên lý của chữ viết”. Ở phương diện từ vựng thì Người luôn sáng tạo ra các từ mới. Ví dụ, ở tiếng Việt thì từ “tư túng” được Bác sáng tạo mới, không hề có trong từ điển cả tiếng Hán và tiếng Việt. Ở tiếng Pháp có từ chinoiserie có nghĩa là trò Tàu chỉ những trò kỳ quặc, lạ lùng, phỏng từ chữ chinoiserie này Nguyễn Ái Quốc đặt ra một từ mới: Indochinoiserie có nghĩa là “tấn trò hề Đông Dương” nói về những gì là kỳ quặc, lạ lùng ở xứ Đông Dương.
Bác Hồ không chịu dùng chữ theo khuôn mẫu, ngôn ngữ cố định mà luôn có ý thức đổi mới nó, cấp cho nó sắc thái mới. Ví dụ thành ngữ có câu thay da đổi thịt nhưng Bác lại dùng thay da đổi óc. Cùng một ý ấy, nội dung ấy nhưng được thay đổi hình thức. Khi dùng thành ngữ: “Sản xuất không tiết kiệm thì khác nào như gió vào nhà trống”, khi lại dùng hình ảnh quen thuộc: “Sản xuất không tiết kiệm thì cũng như rót nước vào cái ống không đáy” (28). Đầu năm 1958 trong chuyến đi thăm Ấn Độ và Miến Điện, với bút danh L.T Người tường thuật lại cuộc hành trình dưới hình thức những lá thư mà người nhận là “em Hương”. Những lá thư này tập hợp thành tác phẩm dài có tên Tình nghĩa anh em Việt-Ấn-Miến dài 57 tran. Có thể coi đây là sự sáng tạo ra một hình thức thể loại văn học mới: pha trộn hai thể loại thư - nhật ký, ghi lại những điều mắt thấy tai nghe để gửi cho người thân, đã tạo ra hai đặc trưng nổi bật của tác phẩm là chân thực và tình cảm, thuyết phục người đọc ở cảnh, chinh phục người đọc ở tình. Không chỉ thế, trong quan niệm và trong đời thường, người nghệ sỹ Hồ Chí Minh thích những gì thân thuộc nhưng phải mới mẻ. Trong một cuộc vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài. Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì mới hiểu, mới hay chứ”. Một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi. Bác bảo: “Chú hát bài khác đi, bài này cũ lắm rồi”.
Bác Hồ là một nhà phê bình văn học, có những nhận xét tinh tế, sắc sảo. Qua nhận xét về Truyện Kiều phần nào cho thấy quan niệm của Bác về một tác phẩm hay: “- Thể thơ Việt Nam, được dân ta ưa thích, phải kể có lục bát. Chú hãy xem, không người nào không nhớ một câu Kiều. Chú có rõ Kiều hay như thế nào không?...Chính vì, không ai đọc là không thấy tình cảm của mình ít nhiều trong đó, do đó, truyện Kiều hấp dẫn người đọc” . Đây là một chi tiết đắt, rất tiếc, trong các giáo trình đại học, các sách lý luận khi chứng minh cho một tác phẩm hay vừa phải mang tầm phổ quát nhân sinh, vừa phải đi sâu vào tâm hồn mỗi con người, chưa thấy đâu viện dẫn câu nói này. Ở cương vị Chủ tịch Nước phải lo biết bao việc lớn thế mà vẫn để thời giờ để đọc thơ, mà lại đọc kỹ, đọc sâu thì trên trái đất này ít người như Hồ Chí Minh! Rất nhiều người thuộc lời phê bình thơ Huy Cận dưới hình thức bài thơ của Bác Hồ. Chính Huy Cận kể: “Năm 1963 tôi tặng tập thơ Bài thơ cuộc đời. Bác gửi lời bình: “Cảm ơn chú biếu Bác quyển thơ/ Bác xem quyển thơ suốt mấy giờ/ Muốn Bác phê bình, khó nói nhỉ!/ Bài hay chen lẫn với bài vừa” (29). Một lối phê bình vui, hóm hỉnh, thân ái và cũng rất “nghề nghiệp”. Chúng tôi tìm thấy những ẩn ý: vì nhiều việc nên chỉ có “mấy giờ” để đọc hết “quyển thơ”, do vậy, nên rất khó để “phê bình” mà chỉ có thể là nêu cảm nhận chung: Bài hay chen lẫn với bài vừa. Hay Bác còn ý nhắc với giới phê bình hôm nay: muốn phê bình phải đọc thật kỹ, đừng đọc qua loa đại khái rồi “phán”. Thậm chí có người không đọc tác phẩm cũng... phê bình...
Bác Hồ là người tiên phong trong việc sử dụng từ thuần Việt, giản dị, dễ hiểu. Bác nói: “Phụ huynh là cha anh. Ngày xưa phong kiến trọng nam khinh nữ, nên chỉ nói đến cha anh, xem nhẹ vai trò của mẹ...Ta có từ cha mẹ thì cứ gì phải dùng từ phụ huynh”. Một lần Bác đến thăm cơ sở nọ, lãnh đạo cơ quan giới thiệu Bác sẽ “huấn thị” cho chúng ta. Bác bảo ngay: “Tôi nói chuyện chứ có “huấn thị” gì đâu!”. Rõ ràng cách dùng chữ cũng mang quan niệm xã hội sâu sắc. Bác phê bình đạo diễn điện ảnh Phạm Văn Khoa cũng là phê bình tâm lý nô lệ nói chung trong việc sính dùng từ ngoại: “- Này, chú Khoa, chú không nói được 15 mét à, mà phải dùng quinze pieds. Ta có tiếng ta mà không dùng cứ dùng tiếng Pháp mãi, thế là “nô lệ” đấy!”. Nhưng cũng chính Người lại dùng chữ nước ngoài rất đắc địa, tức là dùng đúng thời điểm, giàu ý nghĩa nhất. Vào một buổi tối năm 1953 tại Việt Bắc, Bác mời Hội đồng Chính phủ họp để trao Huân chương cho Bác sỹ Tôn Thất Tùng, Người nói: “Chú Tùng là một Xidovan mà nay được Chính phủ ta tặng Huân chương. Chú phải cố gắng hơn nữa!”. Từ Cidovant (tiếng Pháp) - danh từ mà Cách mạng Pháp 1789 dành cho các nhà quý tộc. Chỉ một từ này mà có nhiều ẩn ý: Một là rất kính trọng tài năng, nhân cách của “Chú Tùng”; hai là “Chú Tùng” đã từng là “một nhà quý tộc” Pháp, có công với nước Pháp, nay được Chính phủ ta tặng Huân chương, có nghĩa là Chính phủ rất biết trọng dụng nhân tài, dù người tài đó đã từng phục vụ nước Pháp, mà nay quân Pháp lại đang đánh ta. Và còn toát lên một ý khuyến khích, Bác sỹ Tôn Thất Tùng thật đúng như “một Xidovan”, một Xidovan của cách mạng Việt Nam.
Tập thơ Nhật ký trong tù, theo Giáo sư Phan Văn Các, tuy viết bằng chữ Hán nhưng các con chữ đều nằm trong bảng chữ Hán tối thiểu, thông dụng. Bác dùng 1332 chữ Hán trong tổng số ngót 5 vạn chữ Hán hiện có. Điều ấy chứng tỏ Bác dùng chữ nước ngoài là bắt buộc, có dùng cũng dùng những gì phổ biến, gần gũi.
Từ góc nhìn ngôn ngữ cũng cho thấy Bác là nhà văn hóa lớn, không chỉ của Việt Nam mà còn là của cả thế giới. Hồ Chí Minh không chỉ là “tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam” mà còn là tượng trưng cho tinh hoa của nhân loại tiến bộ. Chính vì thế Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người chúng ta phải cố gắng làm giàu cho văn hoá dân tộc cũng là đồng thời làm giàu thêm cho văn hoá nhân loại.
N.T.T
--------
(1) Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh - Nxb Hội Nhà văn, 2010, tr 360,361.
(2). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử- Nxb Chính trị Quốc gia, 2006, Tập 3, tr 356.
(3). Hồng Khanh - Chuyện thường ngày của Bác Hồ. Nxb Thanh Niên, 2005. tr 31.
(4). Hồng Khanh - Chuyện thường ngày của Bác Hồ. Nxb Thanh Niên, 2005.Tr 126.
(5). PGS.TS Đinh Xuân Dũng - Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Nxb Giáo dục, 2008, tr 329.
(6). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia 2004. Tập 12, tr.549.
(7). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia 2000.Tập 9, tr 479.
(8). Nhiều tác giả- Bác Hồ với nghệ thuật sân khấu. Viện Sân khấu, 1990.tr 15.
(9). Ngọc Châu – Bài học Bác dạy .Nxb Công an nhân dân, 2005. tr 168.
(10). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia 1996. Tập 5, tr 427.
(11). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990. tr 224.
(12). Hồ Chí Minh toàn tập. Sđd. Tập 5, tr 60.
(13). Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao. Nxb Chính trị Quốc gia, 2010. tr 104.
(14). Chuyện thường ngày của Bác Hồ. Nxb Thanh Niên, 2005. tr 47.
(15). Bác của chúng ta. Nxb Quân đội Nhân dân, 1985. tr 118.
(16). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Sđd. 2006, Tập 5, tr 551.
(17). Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 1, tr 13.
(18). Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010, Tập 1, tr 41.
(19). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia 1996. Tập 5, tr 129.
(20). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia 1996, Tập 5, tr 535.
(21). Trần Dân Tiên - Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nhà xuất bản Văn học, 1970, tr 121).
(22). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia 1996. Tập 5, tr 618.
(23). Nhiều tác giả - Hồ Chí Minh nhà văn hoá của tương lai. Nxb Thanh Niên, 2009. tr 126.
(24). Bác Hồ với tiếng nước ngoài. NXb Tổng hợp Sông Bé, 1990, tr 26.
(25). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 4, tr 389.
(26). PGS.TS Đinh Xuân Dũng - Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Nxb Giáo dục, 2008, tr 42.
(27). Thế Lữ kể - Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 1, tr 92.
(28). Nhiều tác giả - Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh. Nxb Nghệ Tĩnh, 1990, tr 345.
(29). Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ, văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, tập 4. Nxb Hội Nhà văn, 2012, tr 13.