Thứ Bảy, 02/11/2019 09:07

Biểu tượng các Danh nhân văn hoá trong tác phẩm của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh rất chú ý quan tâm đến những khía cạnh tích cực trong trước tác Khổng Mạnh.

. Nguyễn Hà Thanh

Hồ Chí Minh rất chú ý quan tâm đến những khía cạnh tích cực trong trước tác Khổng Mạnh.

Trên tạp chí La Revue Communiste số 15, tháng 5/1921, trong bài viết Phong trào cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu “thuyết đại đồng” của Khổng Tử: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều. Bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn, v.v..

Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởng của thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ. Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già, không có điều gì đề án của ông không đề cập đến. Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết.

Trả lời một câu hỏi của vua, ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (1).

Trong cuốn sách Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc do một nhóm sinh viên Trung Quốc biên soạn, Nguyễn Ái Quốc chủ biên, viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu (bằng tiếng Nga) tại Liên Xô năm 1925, đã có nhận định về tầm ảnh hưởng to lớn của Khổng Tử tại Trung Quốc: “Toàn bộ đời sống trí tuệ của người Trung Quốc đều thấm đượm tinh thần triết học và giáo lý của Khổng Tử” (2) . Cũng ở sách này Mạnh Tử được đánh giá “là một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông bởi vì ông là tác giả đầu tiên của câu nói: "Dân là tất thảy, vua không là gì cả” (3).

Chính vì thế mà “Ngày 15-2, Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử và những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ Khổng Tử sẽ được sử dụng làm các trường học công” (4), Nguyễn Ái Quốc có bài viết Khổng Tử đánh giá đúng những cống hiến của nhà hiền triết vĩ đại này. Cuối bài viết tác giả phê phán việc làm sai trái ấy và khẳng định Khổng Tử vẫn cần thiết cho những người cách mạng An Nam: “Với việc xoá bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” (5).

Quan điểm này nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Người đã coi Không Tử như một biểu tượng của “tinh thần triết lí và giáo dục”, của tấm gương cần học hỏi và noi theo. Hơn nữa một biểu tượng của tinh thần cách mạng: coi dân là trên hết!

Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát thành khái niệm về phương diện đạo đức của ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới và coi đó là sự gặp gỡ kì diệu của các triết lý vì con người:

“Chúa Giêxu dạy: Đạo đức là bác ái.

Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.

Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” (6).

Hồ Chí Minh đánh giá cao, đề cao đạo Khổng Mạnh, cho nên dễ hiểu trong công tác đối ngoại, Người cũng thường lấy triết lý này làm điểm tựa để phát biểu ý kiến của mình. Trong chuyến sang thăm Pháp, ngày 2-7-1946, G.Biđôn, lúc bấy giờ là Thủ tướng Chính phủ Pháp đã mở tiệc chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp từ trong buổi chiêu đãi này, Bác Hồ có nhắc đến đạo Khổng: “Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân". Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp” (7).

"Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” là câu nói nổi tiếng của Khổng Tử, trở thành hạt nhân triết lý của đạo Nho, có nghĩa là: Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Đây chính là mối quan hệ tôn trọng cá nhân giữa người với người, giữa quốc gia này với quốc gia khác. Do vậy nó đã mang tầm phổ quát cho toàn nhân loại không riêng gì của phương Đông. Hồ Chí Minh đã nhắc khéo nước Pháp: nước Pháp đã từng bị Đức xâm lược nên nước Pháp rất hiểu nỗi khổ đau mất nước. Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Chả lẽ nước Pháp lại đi xâm lược Việt Nam?

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ tư Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, phóng viên báo Praxa Thipatay (Thái Lan) phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề hoà bình trong khu vực. Người nói: “Việt Nam phải kháng chiến tranh lại thống nhất và độc lập thật sự đã, sau mới có thể bàn đến việc khác. Đức Khổng Tử có dạy rằng: Quốc trị, thiên hạ mới bình”(8).

Hai bậc tiền bối luôn được Hồ Chí Minh coi đó là những người thầy là Khổng Tử và Lênin. Lời dạy của Người là bài học kế thừa có chọn lọc tinh hoa quá khứ:

“Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình. Lênin khuyên chúng ta: "Học, học nữa, học mãi". Mỗi người đều phải ghi nhớ và thực hành điều đó, những người huấn luyện lại càng phải ghi nhớ hơn ai hết. Người huấn luyện nào tự cho là mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất. Khẩu hiệu "Học không biết chán, dạy không biết mỏi" treo trong phòng họp chính là của Khổng Tử. Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” (9).

Trong cuốn sách Cần kiệm liêm chính, viết xong tháng 6-1949, Hồ Chí Minh dùng lại ý này và chỉ rõ đây là câu của Khổng Tử:

“Cụ Khổng Tử nói: "Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ" (10).

Cũng trong sách này, mục Liêm, Hồ Chí Minh mượn lời Khổng Mạnh:

“Cụ Khổng Tử nói: "Người mà không Liêm, không bằng súc vật".

Cụ Mạnh Tử nói: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy". Để thực hiện chữ Liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên” (11).

Mục Chính, Hồ Chí Minh lấy gương Tăng Tử, mượn lời Khổng Tử:

“Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? đối với việc có chuyên cần không?

“Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý” (12).

Đối với cán bộ, ở ngoài đời, Hồ Chí Minh là tấm gương về phê bình và tự phê bình. Người còn trích các nguồn được coi là kinh điển của nhân loại về vấn đề này để dạy cán bộ:

“Khổng Tử nói: "Có lỗi, thì chớ sợ sửa đổi".

Tăng Tử (học trò của Khổng Tử) nói: "Mỗi ngày, tôi tự kiểm thảo ba lần".

Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin dạy chúng ta rằng: "Tự phê bình là một thứ vũ khí sắc bén nhất của cách mạng” (13).

Như vậy Bác Hồ còn coi Khổng Tử là một biểu tượng về đạo đức, đạo lý.

Bắt nguồn từ một quan điểm hết sức đúng đắn về học tập, Người nói:

“Dù ai tài giỏi mấy, cũng không thể biết hết cả, làm hết cả.

Xưa nay những bực tài giỏi như cụ Khổng Tử, cụ Lênin cũng không biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Cụ Khổng không biết nấu cơm, cụ Lê không biết may áo. Vì vậy, cần nấu cơm thì cụ Khổng phải học hỏi người làm bếp. Cần may áo thì cụ Lê hải học hỏi người thợ may.

Cụ Khổng và cụ Lê hơn mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Mà vì hai cụ không tự kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.

Lời đầu tiên của cụ Khổng trong sách Luận ngữ, là: "Học mà thường tập, chẳng cũng vui lắm thay".

Lời cụ Lê thường thường nhắc nhủ mọi người, là: "Học, học nữa, học mãi". Và "phải học hỏi quần chúng" (14).

Bác Hồ lấy tấm gương hai bậc đại trí quen thuộc là “Cụ Khổng và cụ Lê” để nhắc nhở mọi người; biển học là vô cùng, phải cầu thị, khiêm tốn học hỏi để tiến bộ thêm, tiến bộ mãi

Hai bậc tiền bối luôn được Hồ Chí Minh coi là những người thầy là Khổng Tử và Lênin. Lời dạy của Người là bài học kế thừa có chọn lọc tinh hoa quá khứ:

“Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình. Lênin khuyên chúng ta: "Học, học nữa, học mãi". Mỗi người đều phải ghi nhớ và thực hành điều đó, những người huấn luyện lại càng phải ghi nhớ hơn ai hết. Người huấn luyện nào tự cho là mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất. Khẩu hiệu "Học không biết chán, dạy không biết mỏi" treo trong phòng họp chính là của Khổng Tử. Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” (15).

Không chỉ nói về một cá nhân Không Tử mà ý nghĩa phổ quát của nó rộng rãi và biện chứng hơn nhiều: người cách mạng phải biết kế thừa từ quá khứ cái hay, cái tốt và gạn bỏ cái xấu, cái dở.

Hồ Chí Minh là một mẫu mực về phong cách làm việc nền nếp, khoa học, cẩn thận, chu đáo. Về phương diện này Người cũng học và nhắc nhở đồng chí mình học đạo Khổng Mạnh: “Cụ Mạnh Tử có nói: "Người thợ muốn làm khéo, thì trước phải sắp sẵn công cụ của mình" (16).

Hồ Chí Minh nâng cao ý nghĩa biểu tượng mà gọi chung Khổng Tử, Mạnh Tử theo cách nói của nhân dân là “Thánh hiền”:

“Thánh hiền có câu: “Một tấc bóng là một thước vàng” (17).

“Thánh hiền có nói:"Thực túc, binh cường" (18).

Người cũng coi Thánh Giêsu là một biểu tượng: “Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu” (Tập 4, tr 50). Người nhận định: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta”. Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn Dật Tiên đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Với tinh thần khiêm tốn và cầu thị, Người nói: “Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” (19).

Ở đây cần thấy rõ hơn tinh thần biện chứng Hồ Chí Minh: Một là, không phủ nhận tôn giáo, mặc dù tôn giáo đó xa với văn hoá Việt như đạo Công giáo và nói rõ sự tiếp thu, kế thừa nét tích cực của tôn giáo đó. Hai là, coi các chủ nghĩa đều bình đẳng, miễn đó là chủ nghĩa “mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Ba là, tiếp thu từ mỗi chủ nghĩa hạt nhân tích cực và “thích hợp với điều kiện nước ta”.

NHT

--------------------------
1. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 1, tr 35.

2. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 2, 372.

3. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 2, tr 373.

4. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 2, tr 452.

5. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 2, tr 454.

6. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 6, tr 225.

7.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 4, tr 267.

8.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 676.

9.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 6, tr 46.

10. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 636.

11. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 641.

12. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 644.

13. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 6, tr 209.

14.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 514

15. Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 6, tr 46.

16.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 633.

17.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 637.

18.  Hồ Chí Minh toàn tập (1996-2000), 12 tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 670.

19. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu tôn giáo (1996) - Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, NXB Khoa học xã hội, tr. 152.