. NGUYỄN XUÂN THỦY
Từng được khắc họa trong truyện kí Tình báo không phải nghề của tôi của nhà văn Khuất Quang Thụy, mới đây, trong cuốn sách Người thầy của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, hình ảnh ông Ba Quốc - Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức tiếp tục được tái hiện đậm nét với nhiều tình tiết cảm động. Khép lại những trang sách, tôi cứ nghĩ vẩn vơ mãi về người Anh hùng và cả những con người thầm lặng phía sau một cuộc đời được coi như huyền thoại sống. Và tôi đã tìm gặp họ…
Đặng Trần Đức là con phố nhỏ mới được đặt tên cuối năm 2023 ở phường Vĩnh Hưng, Hà Nội. Con ngõ 177/6 đối diện Trạm y tế phường dẫn vào một ngôi nhà nhỏ nằm kín đáo và khiêm nhường. Đó là nhà của bà Đặng Chính Giang. Dân cư nơi đây đều biết bà là con gái của người được đặt tên phố, bởi nơi này chính là quê hương của người Anh hùng, Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức. Gọi là quê nhưng ông đi biệt xứ, chỉ khi được vinh danh, được tuyên dương, khi Tổng cục Tình báo tìm về thông báo thì chính quyền địa phương mới biết.

Đại gia đình Thiếu tướng Đặng Trần Đức trong dịp ông tròn 80 tuổi
Câu chuyện ấy bắt đầu vào đầu năm 1954, ông Đặng Trần Đức lúc ấy là người của ta dưới tên gọi Nguyễn Văn Tá đang hoạt động trong hệ thống Sở Mật thám của Chính quyền Pháp. Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh, khôi phục hòa bình ở Đông Dương với tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, theo đó, tại Việt Nam Pháp sẽ tạm rút về bên kia vĩ tuyến 17, dự kiến việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước sẽ diễn ra sau hai năm. Thực hiện hiệp định này, cả phía ta và phía Pháp đều có những bước tính toán, chuẩn bị về mọi mặt. Tổ chức bố trí để ông Đặng Trần Đức theo Chính quyền Pháp vào Nam tiếp tục hoạt động nắm tình hình từ phía địch.
Theo lời bà Phạm Thị Thanh, vợ ông, kể lại, một hôm, Phó Giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo đến gặp bà. Người thủ trưởng của ông Đức nói với bà Thanh:
- Theo chỉ thị của Đảng mà trực tiếp là lãnh đạo cao cấp, ngành tình báo phải làm đám cưới giả cho anh Đặng Trần Đức để hợp thức hóa thân phận trước khi nhận nhiệm vụ vào Nam. Tổ chức yêu cầu phải xin ý kiến chị, nếu chị đồng ý thì mới làm đám cưới đó.
Ông Đức cũng được tổ chức đề nghị về trao đổi với bà. Biết việc này là rất quan trọng với quốc gia nhưng cũng là chuyện hệ trọng với mình và các con, bà Thanh xin phép sau ba ngày sẽ trả lời. Bà suy nghĩ mông lung lắm, nếu để chồng đi mà không có danh nghĩa công khai, không có thân thế tốt thì rất khó để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng giao phó, chưa kể còn nguy hiểm đến bản thân, nhưng nếu để ông cưới người phụ nữ khác thì...
Cuối cùng câu trả lời của bà Thanh với tổ chức và chồng mình là: “Việc gì có lợi cho Đảng, cho Tổ quốc thì anh cứ làm. Mong anh sớm hoàn thành được nhiệm vụ Đảng và tổ quốc giao”.
Mọi việc được tiến hành theo kế hoạch. Ông Đức vào Nam hoạt động, còn với mẹ con bà Thanh, từ đó là những tháng ngày cơ cực.
*
* *
Ẩn sau vẻ an nhàn, nhanh nhẹn của người phụ nữ ở tuổi bảy lăm, ít ai nghĩ bà Đặng Chính Giang lại có một cuộc đời chật vật suốt những năm tháng tuổi trẻ cho đến mãi sau này. Trong căn nhà nhỏ nằm nơi góc ngõ, câu chuyện giữa tôi và bà dẫn về thời tuổi thơ nhiều tổn thương của cô bé Hà Nội những năm 50 của thế kỉ trước. Khi bố “vào Nam theo địch” ba mẹ con bà đang yên ấm ở Hà Nội với chỗ làm và nhà ở tại Nhà máy in Tiến Bộ bỗng được điều lên tút hút Nông trường chè Vân Lĩnh thuộc Thanh Ba, Phú Thọ. Đó là một động tác cần thiết để tạo vỏ bọc hợp lí cho ông Đặng Trần Đức hoạt động, thế nhưng việc này đã dẫn đến trăm ngàn khốn khó cho bà Phạm Thị Thanh và hai người con thơ dại.
Cô bé Giang khi đó mới mười tuổi, từ chỗ sống ở Thủ đô bỗng chuyển lên miền đồng rừng, đi học phải lội qua 3 con suối, vào mùa lũ nước to các bạn sang trước cầm cây nứa tung một đầu sang để cô bám vào lội qua dưới sự trợ giúp của các bạn ở bờ bên kia. Từ Vân Lĩnh ra Thanh Vân đi học Giang phải vượt qua quãng đường 10 cây số. Mẹ cô ban đầu được phân công bán căng tin, sau thì xuống nấu cơm. Ngoài công việc chính gia đình nhận thêm quả chè từ nông trường về bóc lấy hạt làm giống. Sáng đi học, buổi chiều Giang ngồi bóc quả chè lấy hạt giúp mẹ. Cô học tốt môn văn, từng được thầy giáo tên Hoằng bồi dưỡng để đi thi học sinh giỏi.

Bà Đặng Chính Giang, con gái thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức
Cả tuổi thơ lủi thủi thiếu vắng cha, hai chị em Giang rất hiểu chuyện và rất yêu thương nhau. Một lần nhìn thấy em Thành chạy theo một chiếc xe đạp của một người cha đang chở theo con của họ, giơ tay níu theo gác đèo hàng Giang đã gọi em lại, vừa đánh vừa khóc vì thương em, thương mình khi những đứa bé khác có bố chăm sóc, còn chị em cô bơ vơ, chưa một lần được bố âu yếm hay chở xe đạp như những cô cậu bé cùng trang lứa.
Những ngày ở Nông trường Vân Lĩnh, bà Thanh mỗi tháng được 35 đồng tiền lương. Mấy mẹ con lại gồng gánh thêm bà ngoại, vì không có khẩu nên cũng không có tem phiếu hay chế độ gì. Mẹ bà Thanh già cả, không còn minh mẫn, không phân biệt được dầu hỏa hay nước mắm, các con thì bé, cuộc sống vì thế trăm cơ ngàn cực. Nhất là thời gian ông Đặng Trần Đức bị đứt liên lạc với đơn vị, số tiền trợ cấp ít ỏi của mẹ con bà Thanh bị cắt, cả nhà được tiêu chuẩn 10kg gạo một tháng, còn lại phải trồng thêm khoai sắn ăn kèm, các bữa cơm đều độn tới 70% sắn. Thời gian Mĩ đánh phá Hà Nội, bố ông Đức lên nông trường sơ tán nên bà Thanh thêm gánh nặng phải chăm cả bố chồng và mẹ ruột. Mỗi bữa bà luộc một nồi sắn để ăn trước, sau đó mới đến nồi cơm độn ưu tiên cho người già và trẻ nhỏ. Bát cơm chan đầy nước mắt nhưng chị em Giang còn nhỏ, hồn nhiên chưa nhận thức được.
Khó khăn là thế nhưng nỗi buồn lớn hơn là trong mắt mọi người, mẹ con bà Thanh là gia đình “có vấn đề”.
Theo dòng thời gian, từ khi ông Đặng Trần Đức vào Nam hoạt động, bà Phạm Thị Thanh vượt lên nghịch cảnh, một mình nuôi mẹ, nuôi dạy con cái, sống trong cảnh cô đơn và áp lực tâm lí, thế nhưng bà luôn giữ tâm thế bình thản. Năm 1968 mẹ mất, bà Thanh tiếp tục sống lặng lẽ tại Nông trường Vân Lĩnh, hết nấu cơm bà lại được giao trông trẻ, sau này thì nhà trẻ cũng giải tán, bà lại làm các công việc lặt vặt khác, xoay như đèn cù.
*
* *
Trong kí ức của bà Giang là hình ảnh người mẹ với tấm lưng còng suốt những năm cuối đời không bao giờ đứng thẳng lên được, như thể những đòn giáng của cuộc đời đã giáng xuống thân thể bà, khiến dáng đứng mãi biến hình như một dấu hỏi.
Năm 1968, bà Giang đi học trung cấp vật tư, sau đó được phân về làm việc tại Tổng kho B, đóng tại Đông Anh, Hà Nội. Năm 1973, khi lấy chồng, sinh con và được phân nhà, bà đã đón mẹ từ Vân Lĩnh về Hà Nội. Khi ông Thành, em trai bà Giang về làm việc tại Nhà máy Z125 ở Phủ Lỗ, Sóc Sơn thì ông đưa mẹ về ở cùng để tiện chăm sóc. Một ngày, khu vực Phủ Lỗ bị giông lốc, ông Thành vừa đi làm thì căn phòng ở đầu hồi nhà ở sụp đổ, bức tường sập đè lên chiếc giường có hai bà cháu. Mẹ bà Giang lấy thân mình che cho cháu, tường đổ lên người, bà bị rạn xương và bị liệt. Đó là năm 1984. Sau thời gian điều trị, hai chị em, bà Đặng Chính Giang và ông Đặng Trần Thành đã bàn nhau để mẹ về ở nhà bà Giang tại khu tập thể Cống Vị, Ba Đình để cùng nhau chăm sóc. Nhiều năm sau khi ra viện, mẹ bà cũng không thể tự vệ sinh cá nhân, phải nhờ vào các con, các cháu phụ giúp. Dần dần, với sự chăm sóc của hai chị em bà và các cháu và hơn cả là ý chí nghị lực kiên cường của bản thân bà Thanh, bà đã tự mình ngồi được lên, vịn vào tường, men theo hai cây luồng con cháu buộc cố định để tự tập đứng, tập đi… Sau này bà Thanh có thể đi lại quanh nhà, có thể tự vệ sinh cá nhân, nhưng sức khỏe mãi mãi đi xuống, không thể nào như trước.
Sau nhiều khó khăn vất vả trong cuộc sống, sức khoẻ của bà Giang cũng sa sút nghiêm trọng. Bà đổ bệnh, ốm lên ốm xuống, xin nghỉ dưỡng bệnh 3 tháng thuốc thang mà tình trạng không thuyên giảm, cơ thể chỉ còn 37kg, bà đành xin nghỉ mất sức. Lúc này, vợ chồng người em, cậu Thành, được phân một căn hộ tầng 4 ở khu tập thể Thành Công, mẹ bà Giang sống cùng vợ chồng con trai tại đó. Vợ chồng bà Giang trước đó cũng chuyển từ Cống Vị về Thành Công do chồng bà, ông Sơn được cấp một căn hộ tập thể tại đây. Vậy là sau bao nhiêu năm, gia đình hai chị em và mẹ lại được ở gần nhau, đoàn tụ và tiện chăm sóc mẹ.
Trong câu chuyện tôi nhận thấy, qua tất thảy những khó khăn cơ cực, bà Đặng Chính Giang vẫn giữ tâm thế bình thản. Những gì mẹ bà dạy đã thẩm thấu vào nét ăn nét ở của con cái. Theo lời kể của bà Giang, mẹ bà là người phụ nữ được gia đình ngoại cho đi học hành tử tế; khi Cách mạng tháng Tám thành công bà tham gia xóa nạn mù chữ trong phong trào bình dân học vụ; là người ham đọc sách, và hiểu biết nhiều về các tích sử Trung Quốc, bà cũng thuộc Truyện Kiều, thơ ca, vè dân gian, truyện cổ tích Việt Nam, văn học kinh điển… Bà Thanh còn làm thơ và lẩy Kiều rất hay... Phải có một tầm hiểu biết và suy nghĩ hơn người, có một lí tưởng cao đẹp bà mới quyết định đồng ý để chồng cưới người phụ nữ khác và đi xa không hẹn ngày về. Chắc hẳn đó là một quyết định chẳng dễ dàng. Với tấm lòng vị tha rộng mở, giữa dòng đời xô đẩy, sống giữa những người lao động bà Thanh vẫn hòa nhập vui vẻ, giữa những thị phi vẫn vững lòng, bỏ mặc lời ra tiếng vào. Không những hiểu biết và ham học hỏi, bà Phạm Thị Thanh còn là người giỏi nấu ăn do được bố mẹ rèn giũa từ nhỏ. Năm 15 tuổi, bà đã có thể một mình nấu 6 mâm cỗ cho cả nhà cụ ngoại tiếp khách theo đúng phong cách ẩm thực của người Hà Nội. Sau này, khi tham gia Cách mạng, bà nằm trong tổ tam tam cùng chị tổ bếp phục vụ dân quân tự vệ thủ đô chiến đấu trong những ngày toàn quốc kháng chiến, rồi sau đó làm nấu ăn tại Nhà in Tiến Bộ. Tài nội trợ của bà Thanh đã ít nhiều truyền sang con gái, con dâu trong nhà. Sau này, khi về mất sức, cả gia đình bà Giang chỉ trông vào đồng lương bộ đội của ông Sơn chồng bà nên gặp muôn vàn khó khăn, bà Giang phải chạy vạy làm thêm nuôi con. Lúc đó năm 1986, kinh tế bao cấp được xóa bỏ, nên ban đầu bà bán rau củ nhỏ lẻ ở đầu chợ Thành Công, sau thấy nhiều người ở khu tập thể muốn ăn sáng đi làm bà đồ chõ xôi mang ra bán, có sáng đồ 5 cân gạo xôi mà chỉ bán non buổi là hết. Rồi thì bà xoay ra bán ốc luộc, sau này là gánh bún ốc nóng hổi, nổi tiếng và đắt hàng ở chợ Thành Công những năm 90. Khi sức khỏe yếu hơn, bà Giang ở nhà nhận trông trẻ, nhóm trẻ bà trông cũng là một trong những nhóm trẻ tư nhân đầu tiên của Hà Nội những năm đó.
Ông Trần Sơn, chồng bà Giang, là một người có niềm tin sâu sắc về những điều tử tế mà ông cảm nhận được từ gia đình bà Thanh. Ngay từ ngày đầu ông luôn có một niềm tin sắt đá: Một gia đình như vậy thì không thể là gia đình theo địch được. Niềm tin ấy đã dắt lối để ông làm những gì linh giác mách bảo. Và cuối cùng ông đã đúng. Ông bà có 3 người con, hai gái, một trai. Cuộc sống ở Vân Lĩnh kéo dài từ năm 1959 đến năm 1973 với những vất vả cực nhọc thuở thiếu thời như hun đúc thêm ý chí nơi bà Giang. Vì hoàn cảnh phải thiếu hụt chuyện học hành, bà đã tự hứa với bản thân rằng sau này có chồng có con, dù có phải ăn sắn, ngủ đất bà cũng nuôi cho các con học hành tử tế. Và bà đã làm được điều đó. Ba người con của ông bà đều được học hành tử tế, hiện đều là cán bộ công tác tại các cơ quan của nhà nước.
Thời gian cuối đời, mẹ bà Giang sống với con trai Đặng Trần Thành tại căn nhà được phân ở Lê Trọng Tấn. Sau khi mẹ bị tai biến, bà Giang nghỉ trông trẻ, ngày ngày đạp xe từ Thành Công qua Lê Trọng Tấn cùng em dâu và em trai thay nhau chăm mẹ. Được hơn một năm thì mẹ bà mất. Đó là năm 2000, năm kỉ niệm 55 năm Quốc khánh và 25 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Cả cuộc đời bà Phạm Thị Thanh chủ yếu ở hậu phương dõi theo những bước chân muôn phương của người đàn ông chọn làm chồng. Đằng đẵng 21 năm biệt li, khi đất nước hòa bình thì số phận đã an bài, ông Ba Quốc - Đặng Trần Đức với người vợ sau cũng có tới 4 mặt con tại Sài Gòn trong những năm tháng hoạt động. Trước khi vào Nam ông đã về xin phép vợ, nói thật với bà nhiệm vụ tổ chức giao phải yêu cầu tạo vỏ bọc, xin phép cưới bà Ngô Thị Xuân, sau hai năm đợi tổng tuyển cử sẽ trở về. Bà Thanh đồng ý nhưng cười bảo, “biết hai năm hay bao nhiêu năm”. Câu cảm thán ấy chẳng ai ngờ như một dự báo về cuộc chia cắt suốt 21 năm ròng rã. Sau quyết định ấy, cuộc hôn nhân của ông bà mãi mãi đã khác trước.
Nhưng ngay cả sau 21 năm chờ đợi thì vẫn chưa phải là đoàn tụ. Khi mọi chuyện đã được bạch hóa, đất nước đã hòa bình thì ông Đặng Trần Đức vẫn biền biệt trên những nẻo đường. Nhiệm vụ mới trên mặt trận mới vẫn cần đến vai trò của những nhà tình báo ở Campuchia và biên giới Tây Nam, những ai đã đọc cuốn sách Người thầy sẽ hiểu rất rõ điều này. Sau những xa cách, thiệt thòi, sự đền đáp cho mẹ con bà chỉ là về mặt tinh thần. Xin cận cảnh một chi tiết, đó là khi người cấp dưới Nguyễn Chí Vịnh từ Campuchia về nước, ông Ba gửi quà về cho gia đình với ba chữ ghi bên ngoài gói giấy bọc kĩ: “Gửi Bà Nó”. Toàn bộ “bí mật” bên trong chỉ là gói mì chính hai lạng rưỡi.
Nhưng cách chia món quà nhỏ mà ý nghĩa ấy tại nhà bà Thanh trước mặt Nguyễn Chí Vịnh còn khiến người cấp dưới của ông Ba bất ngờ hơn. Nhận quà của chồng, bà Thanh bảo anh Sơn, người con rể, chia nhỏ gói mì chính làm bốn phần cho bốn người khác nhau. Những người được chia đều là người thân và ân nhân có nhiều ơn huệ với gia đình. Người sĩ quan trẻ về từ Campuchia khi đó không thể hiểu được sự “kì cục” nơi người thầy. “Tôi biết trong phận sự của mình ông Ba quản cả tấn mì chính và bao nhiêu thứ vật chất quý giá khác, có bao nhiêu cách để giúp cho bà ấy nhưng ông chỉ gửi đúng một túi mì chính bằng tiền lương mà ông nhờ tôi đi mua”, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã than thở đầy day dứt như thế trong cuốn sách Người thầy khi kể lại kỉ niệm này. Gói mì chính nhỏ với ông Vịnh vì thế đã nặng hơn bao giờ hết.
Đất nước hòa bình, ông Ba Quốc không còn phải hoạt động trong lòng địch thì mẹ con bà Thanh vẫn tiếp tục cảnh sống thiếu vắng và san sẻ yêu thương. Hoạt động ở Campuchia, phần lớn vì nhiệm vụ bám địa bàn, khách quan thì “hậu phương Tp. Hồ Chí Minh” gần hơn “hậu phương Hà Nội” nên những lần ra Bắc của ông Ba có thể đếm trên đầu ngón tay. Dù vậy bà Thanh không mảy may ghen tị gì với gia đình thứ hai của ông Ba. Một người con của ông Ba Quốc với bà Xuân, khi ông bị lộ năm 1974 do người liên lạc bị bắt, ông phải vào căn cứ để tổ chức đưa ra Bắc, Đặng Trần Vũ đã bị Chính quyền Sài Gòn bắt bớ, giam cầm, đánh đập đến thành tật. Bà Xuân cũng bị bắt giam và tra hỏi suốt 6 tháng trời ở Nha Cảnh sát Sài Gòn. Cuộc sống của ông Ba Quốc - Đặng Trần Đức với gia đình thứ hai cũng bao áp lực. Cả hai gia đình đều chịu những hi sinh, thử thách về thể xác và tinh thần để ông có thể hoàn thành trọng trách. Họ đều thấu hiểu điều đó để xích lại gần nhau. Các con của bà Thanh vẫn gọi bà Xuân là mợ, và các con của bà Xuân cũng gọi bà Thanh là mẹ cả. Năm 1981, bà Xuân ra Bắc đến thăm gia đình bà Thanh. Cuộc gặp gỡ diễn ra hài hòa, hai người phụ nữ rủ rỉ trò chuyện, bà Xuân còn hỏi bà Thanh về những món ăn mà bà thường nấu cho ông Đặng Trần Đức ăn để vào TP. Hồ Chí Minh bà nấu theo. Bà Thanh cũng quý các con của chồng với người vợ sau, đặc biệt là anh Đặng Trần Vũ, bởi anh vì cha mà bị địch bắt, tra tấn đến thành tật, sau này tai nghe kém và chân đi tập tễnh, bà thường biên thư động viên anh Vũ. Dù ở hai đầu Nam Bắc nhưng tình cảm của họ vẫn là một nhà, không có sự phân biệt. Cho đến thế hệ các con, các cháu cũng vậy, vẫn thấu triệt tinh thần “Nam - Bắc một nhà”.
*
* *
Ở phía đơn vị thì câu chuyện về túi mì chính hai lạng rưỡi đã như một điển hình về sự khắc kỉ của ông Ba, còn ở góc độ gia đình, các con của ông cũng rất thấu hiểu điều này. Cuộc đời bà Giang đã chứng kiến và thấm thía sự nghiêm cẩn của cha. Thanh Trì (phường Thanh Trì trước đây thuộc quận Hoàng Mai, nay thuộc phường Vĩnh Hưng) là quê hương, cũng là nơi Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời những ngày cướp chính quyền năm 1945, khi nước nhà tuyên bố độc lập. Tôi những tưởng căn nhà gia đình bà Giang đang ở là đất hương hỏa tổ tiên hay chí ít cũng là đất được chính quyền địa phương cấp, nhưng không phải thế. Việc về định cư tại quê nhà với gia đình bà Giang hoàn toàn là một sự ngẫu nhiên.
Khi căn nhà tập thể ở Thành Công trở nên chật chội, sức khỏe bà Giang yếu không thể leo cầu thang được, gia đình tính chuyện “hạ sơn”. Đi tìm xem hàng chục căn nhà nhưng không căn nào ưng ý, căn rộng rãi, tiện lợi thì nhiều tiền, căn nhỏ thì méo mó xẹo xọ, nằm ở địa thế hóc hiểm, cuối cùng bạn của con gái bà, giới thiệu cho gia đình một mảnh đất ở Thanh Trì. Bà Giang vẫn nhớ buổi được con gái và bạn dẫn đi xem đất. Năm ấy lũ lớn, nước ngập kín phải đi đường vòng nên bà không nhận ra đó chính là đường dẫn về quê gốc. Khi xem đất xong quyết định đặt cọc mua rồi, trên đường về, đi ra phía đê sông Hồng bà mới giật mình nhận ra đó chính là quê của bố mình.
Thế nhưng bà Giang không ngờ việc gia đình bà chuyển về quê sinh sống lại khiến cho ông Ba Quốc - Đặng Trần Đức hiểu lầm. Suốt mấy năm, mỗi khi bố ra Bắc bà mời về nhà chơi nhưng ông không ghé, mãi về sau bà mới biết, thì ra ông nghĩ bà cậy uy cha về xin đất địa phương nên dù làm được nhà ông cũng không đến. Khi được giải thích và chứng minh rằng đó là đất gia đình mình bán nhà cũ và thêm thắt để mua và tự xây ông mới đến thăm nhà con gái. Bài học ông thường dạy các con là không bao giờ được nhận những gì không phải của mình.
Một ví dụ khác về sự khắc kỉ của vị tướng tình báo, đó là việc ông kiên quyết trả lại căn nhà cũ. Khi Bộ Quốc phòng cấp đất cho gia đình ở Lê Trọng Tấn, phía sân bay Bạch Mai, ông Đặng Trần Thành làm nhà xong đón mẹ về ở, chú Vịnh (Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh sau này) bảo căn hộ cũ để con trai quản lí nhưng ông Ba Quốc nhất định yêu cầu cấp dưới trả lại căn hộ ấy cho nhà nước vì đã có nhà mới. Những năm xa cách, sự hiện diện của ông với ông Thành, bà Giang mang ý nghĩa tinh thần là chính, những món quà ông gửi về chủ yếu để chị em bà cảm nhận mình có cha hơn là giá trị vật chất. Sau này, khi Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh viết và xuất bản cuốn sách Người thầy, đọc những câu chuyện trong đó bà Giang càng hiểu hơn về quá trình hoạt động và cách ứng xử của bố trong đơn vị, với anh em. Bà càng thấy thương và hiểu bố nhiều hơn.
*
* *
Tại phường Vĩnh Hưng hiện nay có môt căn nhà lưu niệm Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức. Tổng cục Tình báo cùng những người đồng đội thế hệ sau của ông đã phối hợp với địa phương để lập nên địa chỉ ý nghĩa này. Căn nhà như một bảo tàng nhỏ, trưng bày những kỉ vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Ba Quốc - Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức. Ở đó trưng bày những tấm ảnh trong hồ sơ của địch từ thời ông mang tên Nguyễn Văn Tá làm công an viên trong Chính quyền Pháp tại Hà Nội năm 1949; ở đó có bức ảnh ông tham gia cướp chính quyền sau đó về làm Chủ tịch lâm thời tại chính xã nhà nơi đặt nhà lưu niệm, cũng là nơi con gái cả Đặng Chính Giang sinh sống hiện nay; ở đó có những tài liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động của ông, có cả hồ sơ của địch bắt và tra tấn bà Ngô Thị Xuân và con trai Đặng Trần Vũ tại Sở Đặc ủy Trung ương tình báo Ngụy quyền Sài Gòn…
Về phần ông Ba, chắc hẳn có người sẽ đặt câu hỏi, vì sao ông có thể để vợ con phải chịu đựng sự thống khổ suốt mấy chục năm trời như vậy? Với đất nước ông đã hoàn thành sứ mệnh cao cả nhưng còn với gia đình? Nếu như ai đã tìm hiểu về cuộc đời ông hẳn sẽ có câu trả lời thỏa đáng, còn ở bài viết nhỏ này tôi chỉ nêu lên vài nét nhỏ như những lát cắt để người đọc không hiểu sai về ông.
Tháng 1/1977, khi cầm trong tay bản báo cáo thành tích 24 năm công tác, cũng là 24 năm hoạt động trong lòng địch ông Ba đã run rẩy ghi những dòng chữ ở bên ngoài tập hồ sơ: “Anh ra đi, em bảo: Anh yên tâm công tác, Em chờ Anh. Bố ra đi, các con còn trứng nước. Anh trở về, Em bảo gọi nhau bằng Ông - Bà không người ta cười cho! Bố trở về các con đã khôn lớn, dè dặt nghi ngại trước người Bố chưa quen biết. Hơn 20 năm trôi qua, tài liệu này, quãng đời hoạt động của hơn 20 năm ấy, hi vọng đủ bù lại Em hơn 20 năm mòn mỏi, trả lại các con người cha của thời thơ ấu”. Những lời nói nhẹ nhàng mà như xát muối, gói cả cuốn tiểu thuyết nghìn trang ôm trùm một thời đại của đức tin và sự hi sinh. Hiểu sự thiệt thòi của vợ, trong những khoảng thời gian ít ỏi về thăm nhà ông Đặng Trần Đức đều tự tay chăm sóc người vợ tào khang, chung lí tưởng, đã âm thầm đồng hành cùng ông trong những bước đường sự nghiệp cống hiến cho đất nước.
Kết thúc cuốn sách Tình báo không phải nghề của tôi do nhà văn Khuất Quang Thụy chắp bút, Thiếu tướng Đặng Trần Đức bày tỏ, đối với ông có hai điều quan trọng nhất trong cuộc đời, đó là tình yêu là lí tưởng. Ông đã đi trọn vẹn đời mình vì hai điều quan trọng ấy, góp phần bé nhỏ vào mục tiêu cao cả độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Ông cũng đã may mắn vì có hai người phụ nữ cùng những đứa con thương yêu, thấu hiểu và thầm lặng cùng ông thực hiện thành công mục tiêu cao cả của đời mình.
Một chi tiết cứ ám mãi trong trí nhớ của tôi khi đọc Người thầy, đó là tác giả, người em, người đồng chí vô cùng thấu hiểu tiền bối từ cống hiến, đóng góp trong sự nghiệp đến những ẩn khuất, cắc cớ gia đình, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh kể rằng, bà Thanh không bao giờ khóc. Trong trí nhớ của các con bà, Đặng Chính Giang và Đặng Trần Thành cùng con rể, con dâu cũng vậy, họ cũng chưa bao giờ thấy mẹ mình rơi nước mắt hay tỏ ra mềm yếu. Những nốt trầm trong suốt chiều dài đằng đẵng ấy chỉ là vài khoảnh khắc năm xưa thì người này người kia tình cờ bắt gặp bà buông lơi cối trầu đang giã, mắt nhìn xa xăm ở ngôi nhà trên Nông trường Vân Lĩnh, hoặc thảng khi nửa đêm bà Giang tỉnh giấc thấy mẹ ngồi dậy ở trong màn tự khi nào, thinh lặng và bất động như một pho tượng.
Bà Thanh đã lấy đâu ra sức mạnh để vượt qua những năm tháng dù sống trong hòa bình nhưng lòng đầy giông bão như thế? Ngay cả khi sau tất cả ông đã trở về xóa tan những ánh mắt hoài nghi nhiều người dành cho mẹ con bà suốt hai mươi năm có lẻ thì khi ấy bà Thanh cũng không khóc, giây phút gặp nhau sau bao năm sống trong oan ức bà chỉ bật lên hai tiếng: Anh Đức! Có nhiều cách giải thích cho việc này, nhưng tôi nghĩ, hơn ai hết, bà hiểu những việc mình làm, bà hiểu và tin vào khả năng của ông, tin rằng với sự hi sinh của mình chồng bà sẽ làm được một cái gì đó có ích cho đất nước, bà chờ đợi và tin vào sự trở về của ông như một tất yếu. Và còn bởi một điều căn cốt nhất, quan trọng nhất, bà từng là người đồng đội cùng hoạt động cách mạng với ông ngày đất nước mới giành chính quyền: Bà Phạm Thị Thanh vốn là chiến sĩ Việt Minh cùng người đồng chí Đặng Trần Đức tham gia phá vụ án Ôn Như Hầu sau Cách mạng Tháng Tám tại Hà Nội. Từ tình đồng đội, tình cảm lứa đôi đã nảy nở. Năm 1949 ông bà cưới nhau. Hai đứa con lần lượt ra đời.
Rồi một ngày thử thách của số phận tìm đến với bà.
“Việc gì có lợi cho Đảng, cho Tổ quốc thì anh cứ làm”. Ngay trong câu trả lời trước đề nghị để chồng cưới người khác đã ánh lên nỗi lòng của người vợ vì nghĩa lớn và nén lại tình riêng. Bà không thể nói câu “đồng ý” một cách trực diện vào vấn đề, vì thế câu trả lời như một ẩn dụ, một cách nói tránh. Quyết định ấy đã mở đầu cho không chỉ một, hai năm mà là suốt hai mốt năm xa cách, giận hờn, giằng xé nội tâm trong vẻ bình thản của người phụ nữ gánh tiếng “có chồng phản quốc”.
Nước nhà thống nhất, sự trở về của ông Đặng Trần Đức chỉ như làn gió đủ thổi đi những điều tiếng cho gia đình. Rồi ông lại đi xa. Sau 21 năm hoạt động trong lòng địch, Đặng Trần Đức chồng bà lại tiếp tục được giao nhiệm vụ vào tiếp quản Sài Gòn, sau đó là gây dựng lưới điệp viên hoạt động tại Campuchia thời kì Chiến tranh biên giới Tây Nam. Đất nước sau giải phóng còn đó bao bộn bề, thử thách. Sự đợi chờ đã có lúc vượt ngưỡng chịu đựng: “Ông ấy là Anh hùng hay là gì tôi cũng không cần, tôi chỉ cần ông ấy ở đây thôi, nhà tôi nghèo lắm nhưng vẫn nuôi được ông ấy…”. Bà đã một lần nức nở không nước mắt khi bộc bạch nỗi lòng với người đồng đội sứ giả giữa chiến tuyến và hậu phương, khi ông Nguyễn Chí Vịnh ra Hà Nội. Đáp lại mong mỏi đó của bà, câu trả lời có ngay trong lá thư ông gửi được người cấp dưới mang đến mà bà vừa bóc: “Anh cũng rất muốn về với gia đình nhưng đất nước đang chiến tranh, bao người hi sinh, anh không thể…”
Bà Đặng Chính Giang nhớ lại, những dịp vui nhất của gia đình đó là khi bố bà được về Hà Nội, thường là đi họp và tranh thủ ghé qua nhà. Bữa cơm sum họp ngoài gia đình còn có những người đồng đội, cấp dưới thân thiết của ông, trong đó có người cấp dưới tận tụy Nguyễn Chí Vịnh. Sau những cuộc gặp vui vẻ là công việc, những người cấp dưới tìm đến ông, ngồi vào một góc nhỏ to rì rầm cả buổi. Biết đặc thù nghề nghiệp của ông nên mọi người trong nhà thường tránh đi, không ai tò mò.
Những năm cuối đời bà Thanh được sống trong vòng tay con cháu. Khi cuộc sống và công việc của các cháu ổn định hơn, gia đình có mấy lần tổ chức đi nghỉ để bà ngoại khuây khoả. Bà Thanh chưa một lần ra biển. Hiểu sự thiệt thòi của vợ con ông Ba Quốc, một lần chú Vịnh đã bố trí để cả đại gia đình ông Ba đi Đồ Sơn trong một dịp ông ra Bắc. Chân yếu, ngồi trên xe lăn không tắm biển được nhưng bà Phạm Thị Thanh lại vô cùng thích biển. Được các cháu đẩy xe ra, bà ngồi bên ông xem các cháu tắm, đôi mắt xa xăm nhìn về nơi chẳng có bến bờ. Bà cứ ngồi mãi như thế, tưởng như quên thời gian. Lần nào ra biển bà cũng ngồi như vậy. Dáng ngồi của bà trước biển đã in vào trí nhớ của con cháu ngay cả khi bà đã đi xa. Dù gắn bó cả đời nhưng cuộc sống vợ chồng của bà với ông Đặng Trần Đức thực tế chỉ diễn ra từ năm 1947 đến năm 1954, trong đó từ năm 1950 ông vào hoạt động trong Chính quyền Pháp tại Hà Nội với màn kịch vợ con bị lạc ra vùng giải phóng thì bà và các con cũng đã chính thức bị ẩn khuất trong làn sương mờ ảo. Lấy cớ ra vùng giải phóng tìm vợ con, những chuyến đi ấy chính là để ông gặp trao tin tức cho tổ chức và tập huấn công tác tình báo. Cũng bởi lí lịch “có vết” Việt Minh mà tổ chức đã sắp xếp để ông cưới bà Ngô Thị Xuân, người cháu của Đàm Y, một nhân vật có thế lực trong Chính quyền Pháp nhưng lại có cảm tình với anh trưởng đồn lạc vợ Nguyễn Văn Tá và đã làm mối cô cháu gái mà ông ta coi như con cho anh, một sự chuẩn bị để họ vào Nam.
Dù hoạt động của ông Ba Quốc - Đặng Trần Đức trong lòng địch suốt 20 năm đã mang lại những tin tức tình báo quý giá cho ta; dù những cống hiến của chồng đã góp một phần vào chiến thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà; dù chồng bà sống ở Sài Gòn nhưng trớ trêu thay, sau niềm vui thống nhất và cho đến mãi những năm cuối đời, bà Phạm Thị Thanh chưa một lần vào Nam, chưa một lần được thấy Sài Gòn hoa lệ. Giải thích điều này, bà Đặng Chính Giang bảo, ngày mới giải phóng, đất nước còn khó khăn, sức khỏe không cho phép mẹ bà ngồi tàu xe dài ngày, trong khi một tấm vé máy bay ngày ấy là chuyện xa xỉ. Còn khi mọi thứ trở nên dễ dàng hơn thì mẹ bà đã đi xa.
Hình ảnh người đàn bà trước biển trong lời kể của bà Giang khiến tôi ám ảnh mãi. Biển ngoài kia mênh mông khôn cùng, cái sự vô cùng ấy đối trọng với cái hữu hạn của đời người, những hi sinh thầm lặng như hạt muối trước bể rộng sông dài. Những cống hiến của bà Thanh dù khó mà đo đếm nhưng hoàn toàn có thể cảm nhận được. Nếu nói bà Thanh là tượng đài sống về đức hi sinh của người phụ nữ cũng chẳng quá lời.
*
* *
Tôi cùng con gái của vị tướng tình báo dạo bước trên con phố mang tên ông như tìm về lịch sử. 80 năm với đất nước này là những đổi thay kì diệu, mở ra một thời kì độc lập, hòa bình, phát triển. Chỉ mấy từ tưởng như đơn giản nhưng nhiều quốc gia hàng trăm năm không có được. 80 năm với gia đình bà Đặng Chính Giang, ông Đặng Trần Thành ôm trọn những biến thiên, nơi mà những giọt nước mắt lặn vào trong thay vì tuôn chảy. Những bước chân của bà Giang như lội ngược dòng kí ức, nhẹ nhõm mà trĩu nặng trong ánh nhìn của tôi cùng những câu chuyện về gia đình của vị tướng tình báo. Điều khiến tôi khâm phục đó là bà Giang, ông Thành luôn chừng mực hết mức khi nói về những cống hiến, hi sinh của cha mẹ, những biến động như dòng sông trôi mãi và cuộc sống luôn tiến về phía trước. Dù sống ở khá xa nhưng mỗi cuối tuần, nếu không bận việc đột xuất, vợ chồng ông Đặng Trần Thành đều có mặt chăm nom, hương khói tại nhà lưu niệm ở gần nhà chị gái.
Có điều gì rất lạ ở gia đình ông Ba Quốc, nơi mà mọi mất mát thiệt thòi đều được coi như “của riêng”, lẩn mãi vào những phần sâu kín. Ngay cả tác giả Người thầy, người có nhiều tương giao, duyên nợ, chẳng khác gì thành viên trong gia đình cũng không thể hiểu hết, không thể cắt nghĩa. Còn tôi thì nghĩ, đó là cốt cách của những người Hà Nội, họ đã đặt đất nước ở trên gia đình, nhận thức rõ ràng “nước mất thì nhà tan”. Cách nghĩ ấy, lòng ái quốc chân thành ấy đã như kim chỉ nam cho mọi hành xử.
Như hàng nghìn con phố khác khắp dải đất hình chữ S trước sự kiện trọng đại của đất nước, phố Đặng Trần Đức cờ hoa rộn rã, mặt người hân hoan trước dịp kỉ niệm 50 năm thống nhất non sông, trước dịp kỉ niệm 80 năm Quốc khánh của năm 2025 này. Những trang sử giải phóng dân tộc, những ca từ của bài ca thống nhất nước nhà đã được dệt nên từ những câu chuyện đơn lẻ như câu chuyện về gia đình Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức. Trong màu cờ đỏ sao vàng là kết tinh của máu và nước mắt, của chiến công và cả những mất mát hi sinh ở nơi hậu phương và nơi tiền tuyến. Sự hi sinh ở chiến trường dễ nhìn thấy, dễ ghi nhận, còn nhiều sự hi sinh ở hậu phương vẫn đang khoác chiếc áo lặng lẽ mang sắc màu của những khuất lấp đời thường. Hai người vợ của ông Đặng Trần Đức tình cờ tên Thanh và Xuân, ghép lại thành Thanh Xuân, đó cũng là thứ họ đã hi sinh, tuổi trẻ của họ đã được đánh đổi một cách xứng đáng cho Tổ quốc.
Chiến thắng nào chẳng phải trải qua những mất mát, hi sinh. Dân tộc Việt Nam đứng lên giành độc lập, “rũ bùn đứng dậy sáng loà” bởi chí khí quật cường và truyền thống đánh giặc giữ nước, sức mạnh ấy được hun đúc từ những cá nhân nhỏ bé. Bà Giang, Ông Thành và những người thân, các con cháu luôn hiểu những hi sinh thầm lặng của gia đình đã góp phần vào sứ mệnh lớn lao: giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Tôi đứng ở đầu con phố mang tên Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Trần Đức, nơi ngã ba giao với phố Thanh Đàm nhìn về nhà lưu niệm nhỏ về ông, người con của đất Thanh Trì, người Chủ tịch lâm thời của xã Thanh Trì khi ta vừa cướp chính quyền, năm 1945, cảm nhận rõ những mạch nguồn xuyên suốt 80 năm lịch sử. Công trình là một địa chỉ đỏ ở không chỉ có ý nghĩa với gia đình, địa phương mà còn như một nhắc nhớ về những hi sinh thầm lặng phía sau một huyền thoại của ngành tình báo quân sự Việt Nam. Ông và những người thân của ông, hay mở rộng ra là thế hệ của ông đã có một niềm tin sống mãnh liệt, cao quý và trong sáng vô ngần.
N.X.T