(Đọc Vịn đổ lưng đêm của Cao Nguyên Quyền, Nxb Văn học, 2026)
Nhà thơ Cao Nguyên Quyền là một đại tá quân đội. Ông đi qua chiến tranh, đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của đời lính. Xế chiều điểm lại, đồng đội ngày một thưa, người còn, người mất, người trở về với thương tật suốt đời. Những mất mát bởi chiến tranh làm nên trống vắng trong lòng người lính, người thi sĩ. Thế chỗ cho những trống vắng ấy là thơ. Trong thế giới thơ ấy, trò chuyện cùng ông đôi khi là đôi nạng gỗ, là mảnh đạn, những thứ ông xem như một phần thân xác của đồng đội. Bởi vậy, thơ ông được dựng lên từ chính những điều mộc mạc, thật thà và thân thuộc nhất của cuộc đời mình.
Thơ ông không cố cầu kì chữ nghĩa, không câu nệ ấy là văn viết hay văn nói. Ông thừa hiểu cốt lõi của thi ca là truyền đi, truyền được một cách nguyên vẹn, thành thật nhất những rung động non tươi. Đọc Vịn đổ lưng đêm là đọc những câu chuyện rất thường khi của đời sống, là những mất mát trong chiến tranh, không thể tránh khỏi. Cao Nguyên Quyền hiểu điều đó, nỗi buồn của ông thường trực nhưng không quá bi luỵ. Nước mắt ông có thể rơi vì một nỗi gì bất chợt, nhưng không làm ông yếu đuối, không bị vùi chôn. Ông lấy những chớp loá cảm xúc va vấp thường ngày ấy làm chất liệu, kết hợp với ngôn ngữ thường ngày của ông và của bản làng, hồn nhiên thế mà vào thơ, mà thành thơ: Hãy về nào/ mế làm vía khỏe vía khôn/ ngày con đi tuổi trăng tròn/ vôi vạch cột nhà chiều cao đánh dấu.
Nếu phải tìm một mạch cảm xúc xuyên suốt tập thơ, có lẽ đó là tình đồng đội. Tôi dừng lại rất lâu trước bài thơ Đôi nạng gỗ. Đôi nạng ấy nâng những thương binh đi qua đời người, đi hết phận người. Khi người mất, đôi nạng nằm lại, đôi nạng sống thay, sống tiếp... Chiều nay/ đôi nạng gỗ lâu năm theo về đắp mộ/ bọn tao đứng hàng dọc/ sau mày/ một mình mày/ hàng ngang. Bình thản kể, bình thản trao gửi một hình ảnh giản dị về sự mất/còn nhưng người nhận, người nghe khó lòng không quặn thắt. Những người còn sống đứng thành hàng dọc trước mộ. Chỉ đôi nạng nằm ngang trên nấm đất. Không một chữ nào nói đến nước mắt. Nhưng sự có mặt của đôi nạng gỗ khi đến khói hương cho phần mộ đồng đội đã làm ướt mềm cả bài thơ.
Và rồi, vì cái nạng gỗ nằm ngang giữa trùng trùng mất mát, ông nói như nói với nấm mồ, nói với cái nạng gỗ đang nhìn ông: Đồng đội chúng mình nhiều bước chân thật giả/ tròn, khuyết đất bùn trên ngực/ từng chiếc phù hiệu thương binh, cựu binh đã ghim trầy hàng chỉ… Chữ “trầy” ông nói vào thơ như trò chuyện thường ngày mà nghe buốt quá! Nghe như người dưới mộ cũng đang sẻ chia với người đang sống những vất vả, đớn đau mà người sống mỗi ngày tự băng bó vết “trầy”.
Trong bài Giỗ mẹ, ông nhớ chính mình và nhớ bóng dáng mẹ: con lang thang/ B4, B5 bầm máu/ mẹ mọc rễ mường mình. Hai số phận được đặt trong cùng một câu thơ mà mở ra cả không gian rộng dài đất nước, hương khói ngày giỗ mẹ bay lên trời, nước mắt ông đã ngân ngấn bởi khi ấy ông như nghe mẹ gọi “Hãy về nào…” Mế đợi con về, được lặp đi lặp lại như vọng âm từ núi.
Nếu chiến tranh là tầng kí ức thứ nhất thì bản Mường là tầng kí ức thứ hai làm nên diện mạo riêng của tập thơ. Cao Nguyên Quyền không viết về miền núi như một người sống giữa núi, hiểu núi, mà ông nói lời của núi. Cho nên thơ ông đầy những từ ngữ bản địa. Cái thật thà của chữ đôi khi cũng là một thuộc tính cần cho thơ. Ông để ngôn ngữ bản địa bước vào thơ một cách tự nhiên như chính hơi thở của người vùng cao: ún gửi câu xường thương/ anh trao câu xường nhớ// mường bản đan mờ tỏ/ neo nguồn cội vía quê. Đó không còn đơn thuần là thơ. Đó là kí ức văn hóa... Tôi yêu quý cách viết ấy bởi nó khẳng định Cao Nguyên Quyền là một nhà thơ rất thật, rất trung thực với cảm xúc.
Thơ không nhất thiết chinh phục người đọc bằng tài tình trong cấu trúc ngôn ngữ, mà cần hơn, theo tôi, nó nằm ở một phương diện khác, sự chân thật. Chân thật trong kí ức. Chân thật trong tình cảm. Chân thật trong cách nói. Đó là thứ thơ được viết bằng vốn sống nhiều hơn vốn chữ. Và vì thế, đọc Vịn đổ lưng đêm như ta đang làm một cuộc trò chuyện với một người lính già vẫn ngày giờ lặng lẽ điểm danh đồng đội, điểm danh những bia mộ, hay thầm lặng chuyện trò với đôi nạng gỗ đang nằm đó, giữa thênh thang đất trời. Cũng có nhiều khi, ta cảm giác đọc thơ ông, như là ta đang cúi xuống đọc bóng mình…
HỒ MINH TÂM giới thiệu và chọn
Người làng
Kỉ niệm rơm rớm dưới tán bàng vuông
người làng gặp người làng
chuyện cũ rồi chuyện cũ
cơm áo chân di bậc sóng
đậu neo giữa âm thầm
Ba mươi năm xa xả giọng quê
bật qua cố thổ
đậm hơn khoảnh vườn
giấc mơ nào ở lại
buổi nhàu trang sách đến trường
buổi chân trần rạc bước tắc họ xe trâu
thời phiếu tem
mỏi gạch cầm lượt
Nhớ những ngày chặn giặc nơi biên giới
tấm chăn chiên chia
sương cóng rừng khuya
vèn tay vốc bụm nước hốc đá Vị Xuyên trụ chốt
thằng Chiến, thằng Khương, hóa mây ngàn...
Chiều nay
nghĩa trang Bà Rịa, Long Đất
gặp người làng Cót, làng Lim
năm mươi mốt mùa xuân trước
từng đan bước
cùng đoàn quân “thần tốc” Sài Gòn
các anh nằm lại nghe biển hát
Những người làng gặp nhau
nén nhang âm dương đồng vọng!
Mây trắng có về
Đồi A1
chiến địa trùng trùng chứng tích
bước chân tôi chạm lên mảnh đất cộc cằn
huyền thoại xa xưa
in dấu nhành ban chói nắng
Chiều dần rút cuối dòng mê lặng
Nậm Rốm nhịp nước mũi súng hiện mờ
đồi cao lặng kề bờ bộc phá
ngày nào cho tôi giờ đây
Tượng đài treo làn mây
hầm Đờ-cát rờn lạnh
chiều tháng năm sát cánh cùng đồng đội
vuông đất nào nhuộm máu chú cậu tôi
Điện Biên biếc trời tháng tư
con mơ về chú nghĩ nhiều về cậu
người đi
mây ở
hình hài đất nước ngàn thu…
Bước sóng ngày xa
Thân tặng đồng đội T.X.M và những người lính thông tin,
nhân dịp trở lại Xứ Lạng
Quá nửa đời về lại Xứ Lạng
hương hồi díu bước chân ngày quen lạ
năm mươi năm
cuộn phim tua một thời lửa đạn
cùng đồng đội
nối cánh sóng vươn theo chiến dịch
gói hạt dẻ chia nhau thức phiên trực canh đêm
trong thinh không muôn thanh âm nhiễu tạp
anh vẫn kịp nhận ra
nhịp tịch tà kí tín phương em
Đêm Đồng Đăng
cô giáo Tày nịu nằng cây đàn tính
khúc hát then thức cùng lính biên thùy
nhành sim tím ấp e em trao vội
lời từ biệt chưa kịp lên môi
Lạng Sơn
bước xưa bước lửa
hôm nay
phố chợ đêm chen thổ cẩm sắc màu
đồng đội bên nhau
rượu men lá trẩy sao khuya hởi hả
nào ta cùng cạn chén
cầm lại
thương nhớ tháng ngày xa.