. TRẦN ĐỨC TĨNH
Thằng Luân bảo, sáng thứ bảy em đón anh ở cây xăng Cầu Chui nhé. Đi xe cá nhân cho thoải mái. Tôi gật đầu, nghĩ cũng phải, bao năm rồi anh em chưa ngồi lại với nhau. Chỉ thế thôi cũng đã khiến tôi mất ngủ. Đêm ấy, tôi trằn trọc mãi, cố hình dung lại từng khuôn mặt. Không khí thao trường năm nào bỗng ùa về. Tôi không nhớ nhiều về Luân mấy, nhưng khuôn mặt Dũng “trố” thì lại rất ấn tượng.
Sáng thứ bảy, Hà Nội mưa tầm tã. Chiếc gạt nước quét đều nhịp thời gian gõ lại kí ức. Mới ngồi lên xe, Dũng “trố” đã oang oang cái giọng cũ rích. Bao chuyện dồn nén suốt hơn hai mươi năm tuôn ra. Thực ra giữa tôi và anh em cũng chỉ chênh nhau vài tuổi. Nhưng điểm khác, tôi là sĩ quan chỉ huy vừa tốt nghiệp ra trường, còn họ là chiến sĩ nghĩa vụ. Hồi đó, mấy chuyện tưởng chừng nhỏ nhặt: dậy sáng, gấp chăn, quét sân… tôi cứ gân cổ lên mà quát. Quát làm sao thủ trưởng đại đội, tiểu đoàn nghe thấy, cố gắng tỏ ra thật nghiêm để được đánh giá mình có năng lực. Giờ nghĩ lại, thấy cái “nghiêm” của mình ngày ấy vẫn còn chủ quan và thiếu sót. Đối với tôi làm cán bộ thì hết lớp chiến sĩ này lại đón nhận lớp khác, nhưng lớp huấn luyện này có nhiều điều để nhớ. Thằng Luân kể sau khi hết nghĩa vụ về được gia đình lo cho đi lao động ở nước ngoài rồi tích cóp chút vốn làm ăn buôn bán. Giờ thì Luân có cả cửa hàng lớn chuyên cung cấp vật liệu chống thấm và cộng thêm ba căn nhà ở Hà Nội cho thuê nên mỗi tháng thu nhập cũng đủ chi tiêu không cần phải đắn đo.
Sau nhiều năm xa đơn vị bỗng tôi lại thấy cái hay của ngôn ngữ đại đội. Nói một cách “vuông góc”, ngôn ngữ của lính nghe qua thì thô ráp, nhưng lại có độ “chạm” rất riêng. Nó là ngôn ngữ được gọt giũa không phải bằng bút mực, mà bằng mồ hôi và va chạm của đời sống thao trường. Một câu nói ngắn gọn, tưởng như bâng quơ, lại chứa cả mệnh lệnh, tình cảm của những người từng cùng nhau nếm đủ vất vả, khó khăn. Cái hay ngôn ngữ lính là nói ít hiểu nhiều, chỉ cần một ánh mắt, một tiếng hô đủ để cả đơn vị đồng lòng.
Ngoài trời, từng vệt nước quất ào ào lên kính lái. Dũng “trố” hết hét oang oang lại phá lên cười, còn Luân vừa lái xe vừa thủng thẳng: “Cũng tại ngày xưa anh dạy võ cho thằng T, nó huênh hoang không nể mặt anh em. Một buổi tối hai thằng gặp nhau ngoài thao trường. Tự nhiên thằng T ngứa chân muốn thử, tung cước đá vù vù. Em tránh và tóm được nó, lừ mắt bảo, đồng đội không phải thứ để thử nhé. Thế mà nó sợ”. Tôi nói: “Những chuyện đó thú thực là anh không biết”. “Không phải chuyện gì cán bộ cũng biết hết được đâu. Vào bộ đội em mới hiểu được nhiều điều. Về sau em sang nước ngoài gặp nhiều chuyện kinh khủng lắm. Nhưng nhờ được rèn luyện trong môi trường quân đội nên em hiểu. Đạo lí mới là điều quan trọng nhất…”
Đi được chừng nửa đường, điện thoại Dũng “trố” reo. Giọng bên kia lẫn trong tiếng mưa, ồm ồm mà quen thuộc, Dũng quay camera sang phía tôi: “A lô, anh Tĩnh đấy à? Bọn em Trung, Nhuận, Tuấn, Tuệ đây. Giờ chúng em đang ở Cẩm Giàng, trời mưa quá, trưa nay anh em ta hẹn nhau ở Chũ nhá”.
Tôi nghe xong, chưa kịp trả lời thì Luân lên tiếng: “Ừ, thế cũng được. Anh em mình tầm hơn mười giờ tới nơi”. Tôi nhìn đồng hồ trong lòng dấy lên cảm giác bâng khuâng. Hơn hai mươi năm rồi, anh em mới có dịp tụ lại đông thế.
Xe qua Mỹ An, Luân bất ngờ giảm tốc. “Anh ơi, em vừa nhận được tin nhắn. Bố thằng Hòa mất tròn 100 ngày. Nhà nó ở Bến Huyện, cách đây chừng chục cây số. Hay anh em mình rẽ vào thắp cho bác nén hương”. Nghe đến tên Hòa, cả tôi và Dũng đều sững lại. Thằng Hòa, nói năng nhỏ nhẹ mà cái gì cũng làm đến nơi đến chốn. Ngày ấy, trong đơn vị, Hòa là người ít nói. Tôi khẽ gật đầu. Sau khi rời nhà Hòa, chúng tôi im lặng suốt quãng đường dài. Xe dừng lại trước cổng Trung đoàn 18 đón Tình. Cổng đơn vị vẫn vậy, hàng cây đứng lặng, chỉ khác là con đường trước cổng giờ đã đổ nhựa phẳng lì. Bao nhiêu năm rồi mới trở lại. Tình bước nhanh ra, khuôn mặt sạm nắng, ánh mắt vẫn hiền nhưng chắc như hồi còn chỉ huy trung đội. Cái bắt tay giữa chúng tôi thật chặt. Tôi nhìn Tình, nhận ra năm tháng đã làm phai đi chút thanh xuân, nhưng ở anh vẫn còn nguyên vẻ chân thành, giản dị của người lính. Tình mời chúng tôi vào khu tập thể của đơn vị. Anh nói: “Giờ đơn vị khác lắm anh ạ. Hồi anh còn ở đây, chỗ kia vẫn là bãi cỏ với dãy nhà cấp bốn, giờ xây thành khu tăng gia rồi. Em chuyển sang hậu cần, chuyên lo bếp ăn cho đơn vị”. Tôi vui vẻ hỏi: “Nghe nói chú lên trung tá rồi hả?” Tình chỉ cười hiền.
Gia đình Tình sống ở trên tầng ba của dãy nhà ba tầng. Bên trong, gian phòng rộng chừng hai chục mét vuông, kê vừa đủ hai chiếc bàn học sinh và trải chiếu dưới nền ngồi uống nước. Sau lần chuyển đơn vị tôi cũng có vài lần gặp lại Tình, nhưng lần này mới nghe anh nhắc tới gia đình: “Vợ em giờ làm công nhân ở gần đây. Hai con trai đang học cấp hai”. Tôi nhìn người đồng đội cũ. Bao năm qua, Tình vẫn giữ được phong thái của người lính: kiên định, khiêm nhường và bền bỉ. Nhớ lại ngày ấy, Tình không phải là cán bộ đào tạo ngành trinh sát, nhưng lại là người học nhanh nhất. Những buổi chiều thao trường, anh âm thầm tự tập, rồi một lần liều mạng bay vèo qua hẳn con trâu đang đứng gặm cỏ, một cú nhảy khiến cả đơn vị tròn mắt… Thời gian trôi đi, Tình vẫn vậy, chẳng phô trương. Nhìn anh kể chuyện vợ con, tôi thấy niềm vui giản dị trong ánh mắt.
Trời đã tạnh hẳn, chỉ còn vương chút hơi ẩm trong gió. Trên xe giờ có thêm Tình ngồi ở ghế sau. Con đường quốc lộ 31 như sáng hơn, dù mặt trời vẫn còn núp sau làn mây mỏng. Từ cổng Trung đoàn lên Biển Động chỉ chừng hai mươi cây số, nhưng quãng đường ấy như một khúc phim đẹp chậm rãi lướt qua cửa kính. Hai bên đường, những vườn vải thiều trải dài miên man, cây nào cây nấy đều xanh sẫm, lấp ló tán lá. Cả vùng như ngát lên một mùi hương ngai ngái, pha chút đất ẩm. Mây bắt đầu tan, ánh nắng yếu ớt chiếu xuống, từng giọt nước còn đọng trên lá bỗng lấp lánh như kim sa. Tôi nhìn đồng hồ, chỉ còn hơn chục cây nữa là đến nơi. Càng lên gần Biển Động, đường càng nhỏ lại, hai bên đồi vải trập trùng như những lớp sóng xanh xô nhau đến tận chân trời. Tình ngồi cạnh tôi, khẽ nói: “Mỗi lần đi qua đây, em lại nhớ ngày đơn vị hành quân qua vùng này”. Tôi quay sang nhìn Tình, gật, trong đầu hiện lên hình ảnh đoàn quân đi như một con cuốn chiếu khổng lồ. Đằng xa, tôi đã thấy nhóm Trung, Nhuận, Tuấn, Tuệ đang đứng vẫy tay bên vệ đường. Cuối cùng thì sau bao năm, những người lính năm nào lại về bên nhau, giữa một miền quê đầy hương vải, giữa cái xanh bát ngát của kí ức và tình đồng đội không bao giờ phai.
Đại đội trinh sát năm ấy, ai từng trải qua thời huấn luyện đều biết, hễ tân binh nào nghịch ngợm đều bị cán bộ “gửi” sang trinh sát. Ấy thế mà chính cái tập hợp tưởng chừng lộn xộn đó lại tạo nên một đơn vị đặc biệt nhất trung đoàn. Mỗi người một quê: Lục Ngạn, Kim Thành, Cẩm Giàng…, mỗi vùng một giọng nói, một tính cách, nhưng khi khoác lên mình bộ quân phục, tất cả đều hòa chung trong một nếp sống, một tinh thần. Trinh sát vốn dĩ là công việc đòi hỏi sự táo bạo và nhanh nhạy. Anh em chúng tôi quen với việc hành quân trong đêm, luồn rừng, băng suối, ngủ tạm giữa những bìa đồi hoặc ruộng trống. Bữa ăn đôi khi chỉ là nắm cơm vắt, ít muối vừng, nhưng tiếng cười thì lúc nào cũng rộn rã. Có lẽ vì thế mà tình đồng đội nơi đại đội trinh sát càng bền chặt. Nó không chỉ gắn kết bằng kỉ luật quân ngũ mà còn bằng bao thử thách đã cùng nhau đi qua. Giờ ngồi lại, giữa buổi hội ngộ ở Biển Động, nghe tiếng Nhu cười từ trong quán vọng ra, tôi chợt thấy thời gian chẳng hề trôi đi. Mỗi khuôn mặt, mỗi giọng nói đều gợi lại bóng dáng của từng buổi hành quân năm nào, nơi những “tay nghịch ngợm” năm xưa giờ đã thành những người đàn ông điềm đạm, mà trong mắt vẫn giữ ánh lửa của tuổi hai mươi.
Thằng Nhu ngày ấy hiền đến mức ai nhìn cũng muốn trêu. Khuôn mặt trắng, dáng người vừa phải, nói năng nhẹ như gió thoảng. Trong đại đội, anh em đặt luôn cho nó biệt danh “chị Nhu”, mỗi lần đi hành quân, chỉ cần nghe tiếng ai gọi “chị Nhu ơi”, cả đơn vị lại cười ầm lên. Vậy mà chẳng ai ngờ, sau khi ra quân, “chị” Nhu lại trở thành ông chủ quán có tiếng khắp vùng Biển Động. Quán mang cái tên rất mộng: “Mây Hồng”, nghe như lấy từ một câu hát cũ, vừa dịu dàng vừa phóng khoáng. Khách từ mấy xã quanh đây đi qua đều ghé lại, không chỉ vì món ăn ngon mà còn bởi cái cách Nhu tiếp: chân tình, cởi mở. Nhìn Nhu bây giờ, tóc đã điểm sợi bạc nhưng nụ cười còn tươi như ngày mặc áo lính. Ai nấy đều thấy vui trong lòng bởi giữa chốn quê này, một người bạn cũ vẫn giữ được cái nết hiền lành mà vững vàng đến lạ.
Mỗi khuôn mặt là một lát cắt của kí ức, mỗi cái bắt tay là một câu chuyện phía sau chưa kịp nói hết. Cả sân quán “Mây Hồng” bỗng như nổ tung trong tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới. Thân Văn Khánh giờ làm cán bộ văn hóa xã Biển Động niềm nở ra đón tiếp, vẫn cái dáng như xưa, vừa bước vào đã dang tay ôm chặt tôi như sợ tuột mất. Sầm Văn Ngọc chững chạc, ánh mắt sáng như hồi còn băng đèo đi cắt góc phương vị ngày nào. Hoàng Đình Văn, Hoàng Văn Bạo, rồi Nguyễn Văn Thuân, Nguyễn Văn Duân, Nguyễn Văn Sáng, Hà, Bảy, Nghĩa, Hồng, Luyện, Quyết… ai nấy đều đã khác đi, nhưng chỉ cần nghe tiếng cười, là nhận ra ngay cái chất lính trinh sát ngày xưa. Tiếng gọi nhau bằng những biệt danh tưởng đã chôn sâu trong kỉ niệm thao trường giờ lại khuấy lên đục ngầu: “Ê, Bảy “toác”, dạo này còn lốp bốp không?”, “Thằng Luyện giờ thành ông chủ to rồi à?”. Mỗi câu nói như đánh thức cả một thời tuổi trẻ. Không ai nhắc chuyện khó khăn, không ai kể chuyện mất mát, chỉ toàn niềm vui được gặp lại. Những gương mặt rám nắng năm xưa giờ đã hằn vết thời gian, tôi bỗng thấy lòng mình ấm lên lạ lùng. Bên ngoài, gió đồi lùa qua tán vải, mang theo hương đất nơi những người trai từng cùng nhau sống, diễn tập trinh sát cắt góc phương vị, đắp sa bàn... trưởng thành trong một thời tuổi trẻ không thể nào quên.
Tháng trước, thằng Luyện cưới vợ cho con trai ở tận Kim Thành. Tin vừa lan ra, anh em khắp nơi rủ nhau về chúc mừng. Luyện kể sau khi ra quân, cuộc sống cũng long đong đủ nẻo. Hết làm thợ hồ, phụ việc, rồi tự đứng ra nhận công trình, thuê thợ quanh vùng. Dần dần gây dựng được chút vốn, nuôi con ăn học, dựng căn nhà tươm tất. Lần này, vừa nghe tin anh em hội quân ở Lục Ngạn, Luyện đã khăn gói lên sớm. Nó bảo, sau bao năm, tình nghĩa lính vẫn là thứ keo bền chặt nhất đời người. Nhắc đến Hoàng Văn Bạo là tôi lại nhớ như in cái tính ăn nói bộc trực, nhiều khi chẳng kịp nghĩ. Hồi còn trong đơn vị, có lần nó ngồi trong phòng bô bô “bôi bác” tôi. Hôm ấy tôi vô tình đi ngang nghe thấy và dừng lại. “Ông vừa nói cái gì?”. Mặt Bạo tái mét, lắp bắp: “Không em có nói gì đâu”. Tôi chỉ lừ mắt và cũng không truy cứu. Sau lần đó, Bạo có vẻ ngượng, trở nên chỉn chu hẳn. Giờ gặp lại Bạo, tôi phải nhìn kĩ mới nhận ra. Cái đầu hói trọc, dáng người đậm chắc hơn xưa, nét mặt điềm tĩnh. Bạo bước tới ôm chầm lấy tôi, cười vang: “Bao năm rồi mới lại được gặp anh”. Giọng nói vẫn như ngày nào, nhưng trong ánh mắt là sự chín chắn của người từng trải. Bạo giờ làm ăn ổn định, sống tận trung tâm tỉnh, nghe tin anh em về, bỏ dở cả công việc để về đón, mời anh em về nhà chơi.
Tôi nhìn quanh bàn, ngắm từng khuôn mặt mà lòng rộn lên niềm vui khó tả. Tôi đùa: “Đại đội trinh sát của mình mà lập công ty bây giờ, khéo mạnh hơn cả tập đoàn”. Nhuận ngồi bên cạnh, vẫn cái dáng ngày nào, chỉ khác, bây giờ tác phong đĩnh đạc hơn, ánh mắt tự tin. Hồi trong đơn vị nó vốn “đỏng đảnh”, nhưng ra đời lại năng động và tháo vát. Giờ Nhuận có hẳn đội container gần chục đầu xe vận chuyển hàng hóa đi khắp các tỉnh. Tôi quay sang nó: “Không ngờ cái thằng ngày xưa kêu đau chân mỗi khi hành quân giờ lại chạy cả vùng”. Nó cười khà khà, đáp: “Em vẫn chạy đều, chỉ khác là giờ có máy chạy hộ thôi!”. Còn Trung vốn trầm tính, ít nói, nhưng làm việc gì cũng kĩ. Sau khi xuất ngũ, nó về lái tàu đường sông. Giờ kinh tế cũng khá giả. Nhìn cái dáng chắc nịch của nó, tôi lại nhớ những buổi đắp sa bàn diễn tập, cái thời gian khổ mà gắn bó không thể nào quên. Đặc biệt là Tuấn, lính thông tin của đại đội. Hồi đó nó trắng trẻo, “ăn trinh sát nghỉ mát thông tin” mà, suýt nữa tôi chẳng nhận ra khi nó phát tướng với cái bụng bia hơi phệ, tay cầm điện thoại liên tục bấm bấm. Tuấn giờ làm doanh nghiệp phân phối xi măng khắp vùng, tên tuổi ai cũng biết. “Anh đang tính xây nhà, chắc phải nhờ chú”. Tuấn cười xòa: “Anh cứ xây đi, vật liệu để em lo, miễn phí vận chuyển luôn”. Nhìn anh em ai cũng trưởng thành, tự lập, lòng tôi bỗng dâng lên niềm tự hào lặng lẽ. Những người lính năm nào, từng cùng tôi vượt mưa gió thao trường, nay mỗi người đã tìm được vị trí của mình trong đời, vẫn giữ cái chất nghĩa tình, ngay thẳng và bền bỉ của người lính trinh sát năm xưa.
Có một chuyện tôi vẫn day dứt trong lòng suốt bao năm, chuyện của thằng Trung hồi còn trong đơn vị. Ngày ấy, trong buổi huấn luyện võ chiến đấu, tôi yêu cầu anh em thực hiện bài bay lộn qua vật cản. Ai từng qua thao trường đều hiểu, đấy là bài tập khó, đòi hỏi sự gan dạ và chính xác tuyệt đối. Khi tôi hô hiệu lệnh, Trung lao lên, động tác còn thiếu độ xoay nên tiếp đất không chuẩn, ngã mạnh khiến xương quai xanh gãy. Hôm ấy, cả đơn vị sững lại, tôi cũng đứng chết lặng. Dù ngay sau đó Trung được đưa đi viện kịp thời, nhưng suốt mấy tháng sau vẫn phải điều trị dài ngày. Tôi tự trách mình mãi. Là cán bộ huấn luyện, tôi hiểu rõ nguyên tắc an toàn là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Thế nhưng, trong lòng tôi cũng luôn giữ quan điểm: người lính phải dám xông pha. Trong huấn luyện cũng như trong chiến đấu, nếu ai cũng e dè, sợ hãi thì chẳng bao giờ hoàn thành được nhiệm vụ. Đôi khi, chính sự mạnh dạn, xông pha ấy là để hun đúc bản lĩnh, để mỗi người lính vượt qua giới hạn của mình. Sau này, mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy áy náy. Nhưng chính Trung lại là người khiến tôi nhẹ lòng. Nó cười bảo: “Nhờ có anh thúc ép ngày ấy mà em mạnh mẽ lên hẳn. Ra đời gặp chuyện khó, em chẳng còn sợ gì nữa”. Tôi nghe chợt rung rưng. Huấn luyện không chỉ rèn kĩ năng, mà còn để thử thách ý chí, tạo nên người lính dám đứng vững trước mọi hoàn cảnh. Hình ảnh thằng Trung trong buổi tập năm ấy giờ vẫn in đậm trong tâm trí tôi, như một minh chứng cho tinh thần trinh sát kiên cường.
Trong số anh em đại đội trinh sát năm xưa, Nguyễn Văn Sáng là trường hợp khiến tôi nhớ mãi. Ngày ấy, Sáng là một chiến sĩ đặc biệt, không phải vì thành tích nổi bật mà bởi sự “cùn” và bất mãn của cậu ta trong mọi chuyện. Chỉ cần tôi hoặc cán bộ trung đội siết chặt kỉ luật là Sáng lập tức phản ứng, thậm chí có lần Sáng còn bỏ về nhà giữa đêm vì nhà Sáng ở gần đơn vị. Ban đầu, tôi rất bực. Nhưng rồi khi hiểu hoàn cảnh, tôi thương và chia sẻ hơn với tính cách ấy của Sáng. Bố mất sớm, mẹ bệnh tật quanh năm, hai đứa em nhỏ còn đang tuổi ăn học, một chàng trai mới đôi mươi, vừa bước vào môi trường quân ngũ, lại phải gánh cả gia đình trên vai... Có những đêm, tôi gọi Sáng lên phòng làm việc, không phải để kiểm điểm mà để trò chuyện. Trong ánh đèn vàng nhạt, Sáng ngồi im lặng, đôi mắt vừa cứng cỏi vừa u buồn. Tôi bảo: “Người lính chỉ thực sự mạnh mẽ khi biết vượt qua chính mình. Nếu vì khó mà lùi, thì cả đời chẳng bao giờ ngẩng cao đầu được”. Nhiều năm sau, nghe tin Sáng đã lập nghiệp ở Hà Nội, có cả công ty riêng, tôi vừa ngạc nhiên vừa khâm phục. Khi gặp lại, Sáng bắt tay tôi thật chặt, nói: “Nhờ những ngày ở đơn vị mà em biết sống có kỉ luật, có trách nhiệm. Ngày ấy em phản kháng, nhưng giờ em mới hiểu, nếu không có môi trường đó, em chẳng thể đứng vững hôm nay”. Tôi nhìn Sáng, chỉ thấy một người đàn ông từng trải, ánh mắt vẫn sáng và gan góc như thuở nào, nhưng giờ trong ánh nhìn ấy có thêm cả sự tri ân những tháng năm quân ngũ và niềm tự hào thầm lặng.
Trên đường trở về, trời đã ngả khuya. Sáng ngồi cùng xe tiễn anh em xuống tận Đồi Ngô rồi bắt taxi quay lại. Giữa đường Sáng nói: “Anh em mình ăn bát cháo”. Nghe giọng Sáng, ai cũng ấm lòng. Tất cả anh em không ngờ rằng Sáng lại thay đổi một cách ngoạn mục, một con người tưởng chừng chẳng có gì để vươn lên thế mà hôm nay lại là một ông chủ. Không còn dáng vẻ ngang tàng, bất cần của cậu chiến sĩ năm nào, mà là một người đàn ông điềm đạm, từng trải, ánh mắt chan chứa tình nghĩa. Bao nhiêu năm rồi, những khuôn mặt từng rám nắng thao trường, giờ ai cũng đã có nếp thời gian hằn nơi khóe mắt. Ăn xong, Sáng đứng dậy rót chén trà, giọng nghèn nghẹn: “Cảm ơn anh em. Nhờ những ngày tháng trong đơn vị mà Sáng mới có được ngày hôm nay. Dù mỗi người đi một ngả, nhưng tình đồng đội thì suốt đời không thay đổi”.
Tôi cầm chén trà nóng, nhìn quanh một lượt, những gương mặt thân quen của một thời tuổi trẻ, những con người đã cùng tôi trải qua nắng gió, gian khổ và niềm tin. Ngoài kia, màn đêm trùm xuống, mặt đường loang ánh đèn pha xe ngược xuôi.
T.Đ.T