. PHẠM VÂN ANH
Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, các tổ chức, nhóm phái văn nghệ sĩ tiền chiến đã chuyển hóa “nhận đường”, kiên trì, bền bỉ, tích cực đem tài năng phụng sự cách mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân tham gia vào cuộc trường kì 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Giai đoạn ấy, lớp lớp nhà văn - chiến sĩ đã trực tiếp tham gia chiến đấu và hi sinh anh dũng vì độc lập, tự do cho dân tộc, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng công chúng; minh chứng hùng hồn về lựa chọn lẽ phải, luôn đứng về phía nhân dân, đồng hành với đất nước, một lòng đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn. Họ cũng đã để lại những tác phẩm văn học nghệ thuật đồ sộ, có tầm tư tưởng lớn, nhiều tác phẩm được lựa chọn là “bảo vật quốc gia”.

Toàn cảnh hội nghị toàn quốc tổng kết 50 năm nền văn học nghệ thuật Việt Nam sau ngày thống nhất đất nước. Ảnh: TTXVN
Trong thời kì Đổi mới, trên mọi lĩnh vực văn học nghệ thuật, trào dâng một khí thế mới và đối mặt với thực tại mới, cuộc sống mới, là sự hòa trộn những tiếng nói hùng tráng thời trận mạc và giọng điệu đa thanh thời dựng xây, kiến tạo, đổi mới. Chính tinh thần “cởi trói”, không khí dân chủ và định hướng văn nghệ đúng đắn của Đảng đã góp phần quyết định mở đường cho sự ra đời những nhà văn tên tuổi lớn, tác phẩm lớn... từng bước đưa văn học nghệ thuật Việt Nam giao lưu, kết nối, hội nhập cùng bè bạn bốn phương. Những thành tựu, đóng góp quan trọng ấy của các thế hệ nhà văn đã được khẳng định và lưu dấu trong lòng nhân dân cả nước.
Tuy nhiên, điều đó cũng đặt ra nhiều gợi mở, thách thức mới cho các nhà văn hiện nay trước những vấn đề quan trọng, cấp thiết của đất nước như: xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; quảng bá, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam… Không những vậy, dưới tác động phức tạp của sự phân cực thế giới cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội cùng các xu hướng sáng tạo và tiếp nhận văn học mới du nhập, văn học đương đại phải đối mặt với đòi hỏi cách tân, tạo dấu ấn bằng mọi cách để xác lập vị thế cho tác phẩm, tác giả và phù hợp với thị hiếu độc giả. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến mối quan hệ biện chứng giữa sự sáng tạo vô biên giới với những chuẩn mực đạo đức truyền thống cũng như trách nhiệm xã hội của nhà văn.
Nhà văn Thạch Lam từng chỉ rõ: “Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm ra cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc bài học trông nhìn và thưởng thức.” Trong quá khứ, do yêu cầu của cách mạng, có những thời điểm chúng ta đã có một nền “văn học minh họa” và các nhà văn đôi khi còn được gán cho vai trò là nhà tuyên truyền, sáng tác phục vụ cho nhiệm vụ chính trị nên cá tính sáng tạo của nhà văn bị hạn chế. Song trong giai đoạn hiện nay, các nhà văn với tài năng, sự trải nghiệm, sức sáng tạo, khả năng ngoại ngữ và tinh thần dấn thân thì trước hết hãy là chính mình, làm tròn chức phận “nhà văn” của mình, tạo sự cân bằng giữa lí tưởng thẩm mĩ và lí tưởng chính trị trong hoạt động sáng tạo của mình.
Chúng ta đều nhận thấy rõ, nếu đội ngũ các nhà khoa học khai mở cho xã hội về tri thức thì văn nghệ sĩ khai mở về cái thiện, cái đẹp và tình yêu thương. Thiết nghĩ, mỗi nhà văn khi cầm bút đều xác định đó là đòi hỏi tự thân, là sự khao khát đóng góp cho đất nước và xã hội bằng những tác phẩm có giá trị thẩm mĩ và nhân văn; được viết về những điều mình trân trọng, những giá trị mà mình muốn tôn vinh, bảo vệ và lên tiếng phản biện, đấu tranh với cái xấu, cái ác, khơi gợi lòng nhân ái, niềm tin, hi vọng… Và để đạt được những giá trị đó, nhà văn cần hiểu thấu đáo về thời đại, về đời sống chính trị - xã hội mà mình đã và đang trải qua, thông qua trang viết và sự linh hoạt của ngôn ngữ và thi pháp mới lạ để phản ánh hiện thực đa chiều, phân tích nhiều chiều kích không gian, thời gian, những tư tưởng nhân sinh, sự giác ngộ và thậm chí là những góc khuất thầm lặng, những ý niệm phái sinh, dục vọng… trong tâm hồn con người.
Trong thời bình hay thời chiến, lúc thuận lợi hay khi khó khăn, các nhà văn nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung luôn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển đất nước, tạo tâm thế, cảm hứng cho nhân dân để thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, mục tiêu đề ra. Hơn lúc nào hết, các nhà văn hôm nay cần đến bản lĩnh, nhân cách, khả năng dự cảm, dự báo, góp phần mở đường cho đất nước phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới hiện đại. Đặc biệt, vấn đề đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà chúng ta đang nhắc đến cũng đang được đặt ra một cách nghiêm túc với đội ngũ “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa”, những người có nhiều ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội.
Để làm được điều đó là không hề đơn giản, nhất là trong giai đoạn hiện nay, một bộ phận nhà văn chưa ý thức rõ bổn phận của mình đối với đất nước, chưa tâm huyết học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, chưa mạnh dạn, thẳng thắn, ngại bày tỏ chính kiến. Cá biệt, còn một số cá nhân có thái độ mơ hồ chính trị, số khác thể hiện rõ tâm thế cơ hội chính trị, lợi dụng danh nghĩa để đưa ra các ý kiến, quan điểm trái chiều, thậm chí phủ nhận thành quả cách mạng, bôi nhọ lãnh tụ, kích động, gây chia rẽ nội bộ hoặc có những phát ngôn không đúng mực, đăng tải những sáng tác dung tục, phản văn hoá trên mạng xã hội… Những hành động này được gọi bằng những mĩ từ như “phản tỉnh”, “giải thiêng”… để bao biện cho những ẩn ức cá nhân, sự tự kiêu, ái kỉ, hẫng hụt về lí tưởng, tha hóa về đạo đức nghề nghiệp, tâm lí sùng ngoại…
Đây cũng là lúc chúng ta cần suy nghĩ về trách nhiệm xã hội của nhà văn, đặc biệt là trong vấn đề phát ngôn và làm gương cho xã hội. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã phát biểu: “Người viết văn là một người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là một cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngưng nghiên cứu và quan sát.” Chính từ sự nghiên cứu và quan sát ấy, nhà văn sẽ có những góc nhìn sâu sắc, những cảm xúc mới mẻ cùng những kiến giải thấu đáo về con người, cuộc sống và xã hội để ngòi bút của mình được dẫn dắt đồng thời bởi tài năng, khát vọng sáng tạo và ý thức trách nhiệm xã hội.
Nhà văn Nguyễn Khải cũng xác định rõ: “Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc và tình cảm chứ không phải là tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy. Có thể nói, tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật.” Tác phẩm văn học không chỉ là mảnh đất để nhà văn vun bồi hạt mầm cảm xúc của mình, mà cần phải giúp độc giả cảm nhận được cuộc sống, tìm thấy thông điệp được gửi gắm trong trang viết. Vì thế, khi cầm bút, nhà văn cần có sự trắc ẩn, đồng cảm sâu sắc với mọi số phận, tránh cài cắm những thù hận cá nhân… Như vậy, qua tác phẩm, nhà văn đã gián tiếp trao cho con người niềm tin, sức sống, tình cảm, tư tưởng mãnh liệt. Vậy thì bản thân nhà văn cũng phải luôn giữ vững niềm tin, không ngừng tu dưỡng và bồi đắp những cảm xúc tích cực cho thân tâm mình. Có như vậy, mới đủ tri thức, sự nhiệt thành, khả năng thuyết phục người khác tin vào điều mình tin, cùng chung tay bảo vệ điều mà mình đang nỗ lực bảo vệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời, phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn.” Tại Lễ kỉ niệm 70 năm Ngày thành lập Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam, trong bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Đảng không áp đặt, ép buộc, gán cho văn học nghệ thuật một nhiệm vụ “chính trị” khô khan, giản đơn, nhất thời nào, mà hiểu nó như một sứ mệnh, một sức mạnh vốn có của văn học nghệ thuật chân chính, đặc biệt trong cuộc đấu tranh ngày hôm nay.”
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy các thế hệ nhà văn đều có đóng góp đáng ghi nhận. Mối quan hệ giữa văn nghệ sĩ với Đảng, Nhà nước và Nhân dân ngày càng thêm bền chặt, phù hợp nhịp sống và xã hội hiện đại. Xét đến cùng, chất keo gắn kết chính là khát vọng sáng tạo của mỗi cá nhân và trách nhiệm trước sự nghiệp chung. Các nhà văn không đơn thuần là người tiếp nhận một chiều mọi định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, mà còn có một trách nhiệm cao hơn, đó là sự dấn thân, tự nguyện đồng hành, “đồng sáng tạo” với Đảng, với dân tộc. Bởi nhà văn là những người có trình độ hiểu biết nhất định, có tài năng chuyên biệt và sự nhạy cảm lớn, nên nếu họ nhận thức rõ vai trò của mình trong quy luật phát triển của đất nước thì chắc chắn sẽ có được những sáng tạo “đi cùng thời đại”, “mang hơi thở của thời đại”, có tính thẩm mĩ cao, giá trị nghệ thuật lớn, đề cao lợi ích quốc gia và phù hợp với hệ tư tưởng, chuẩn mực văn hóa và lịch sử dân tộc.
Đồng thời, vai trò của các cơ quan chức năng cũng đặc biệt quan trọng nhằm quan tâm, tôn trọng, bảo đảm quyền sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tính độc lập, đổi mới về nguồn lực, mở rộng về không gian, định hướng trong tư duy, thẩm mĩ… để phát huy thế mạnh của lĩnh vực mang tính đặc thù này. Và độc giả - người đồng hành sáng tạo với nhà văn qua việc thưởng thức tác phẩm, cùng nhau chiêm nghiệm, tư duy về đời sống cũng có vị thế rất quan trọng trong việc tạo nên không gian đối thoại giữa người sáng tạo và người thưởng thức thông qua cây cầu kết nối là tác phẩm. Như vậy, độc giả thực sự trở thành hậu phương của nhà văn và gợi mở những hướng tiếp cận mới cho nhà văn để làm cho đời sống của văn chương thêm phong phú, độc đáo và “nhiệt lượng tương tác” cao.
Đất nước, nhân dân và độc giả của văn chương luôn kì vọng các nhà văn của thời đại mới sẽ bước tiếp con đường vẻ vang của thế hệ cha anh đi trước, vừa thăng hoa sáng tạo, vừa vững vàng về bản lĩnh, ý thức trách nhiệm. Có như vậy, tài năng, nhiệt huyết và trái tim của nhà văn sẽ luôn hướng về Tổ quốc và Nhân dân.
P.V.A