Thứ Sáu, 06/11/2026 05:57

Hình tượng người chiến sĩ hôm nay qua những trang kí của Nguyễn Xuân Thuỷ

Điều đọng lại sau những trang kí của Nguyễn Xuân Thủy chính là gương mặt người chiến sĩ và những câu chuyện, những cảm xúc cùng phẩm chất họ để lại, hơn cả địa danh hay số liệu về đơn vị...(VŨ MINH CHÂU)

.VŨ MINH CHÂU

Có những vùng đất và con người sẽ mãi ở lại trong các bản báo cáo khô khan, nếu thiếu đi một người cầm bút chịu bước vào tận đáy đời sống để lắng nghe, cảm nhận và thể hiện bằng hình thức nghệ thuật. Đằng sau một khẩu súng vừa được bảo dưỡng xong là bao ngày giờ đứng bên lò nhuộm đen nóng rát. Đằng sau một hòn đảo đứng vững giữa trùng khơi là bao mùa mưa nắng bám trụ của người chiến sĩ. Nguyễn Xuân Thủy là người kiên trì đi tìm những gương mặt cụ thể đằng sau các con số và địa danh ấy. Trưởng thành từ môi trường quân đội, từng có hai năm tuổi trẻ gắn bó với Trường Sa, anh sở hữu bản năng của một người lính cầm bút, luôn cần lên đường, cần đến tận nơi diễn ra sự việc, cần nhìn tận mắt và nghe tận tai câu chuyện của những người đang gánh vác sứ mệnh bảo vệ bình yên đất nước. Với anh, thể loại kí là một cách nhập cuộc với đời sống, với người lính, một cách sống trọn vẹn cùng những người đồng chí, đồng đội của mình.

Cứ mỗi lần xách ba lô lên đường, nhà văn Nguyễn Xuân Thủy lại mang về một câu chuyện thật, kể bằng chất giọng chân thành của người trong cuộc. Hai bài kí gần đây, Một dải non sông thao thiết biển - bờ (VNQĐ, số 1082+1083, tháng 4/2026) và Lính quân khí bên dòng sông Hiếu (VNQĐ, số 1087, tháng 6/2026) tiếp tục nối dài phong cách làm việc bền bỉ đó.

Lính quân khí bên dòng sông Hiếu đưa người đọc vào sâu trong những nhà xưởng, kho tàng của Kho K812 bên dòng sông Hiếu, chốn những người lính quân khí âm thầm bảo quản, sửa chữa, xử lí vũ khí trang bị suốt mấy chục năm ròng. Một dải non sông thao thiết biển - bờ mở ra một không gian khác, đó là biển trời miền Trung, những hòn đảo tiền tiêu Cồn Cỏ, Lý Sơn, nơi cán bộ, chiến sĩ Vùng 3 Hải quân ngày đêm giữ gìn chủ quyền Tổ quốc. Dù ở địa bàn nào, các nhân vật của Nguyễn Xuân Thủy đều gặp nhau ở sự tận tụy và niềm tin thầm lặng vào công việc của mình. Bằng con mắt quan sát tinh tế cùng lối viết giàu chi tiết thực tế, Nguyễn Xuân Thủy đã khắc họa thành công chân dung người lính hôm nay, bình dị trong đời thường, vững vàng trong nhiệm vụ và luôn mang trong lòng khát vọng cống hiến bằng những việc làm cụ thể.

Theo bước chân nhà văn đến Kho K812, người đọc được gặp gỡ những con người dành gần trọn cuộc đời cho nhà xưởng và kho tàng. Trung tá QNCN Dương Đức Hải, sinh năm 1976, quê Lệ Thủy, Quảng Trị, là thợ sửa chữa vũ khí bộ binh, đồng thời là xạ thủ bắn giỏi toàn quân, từng đoạt giải Nhất cuộc thi thợ sửa chữa quân khí giỏi toàn quân năm 2016 và giải Ba năm 2024. Nguyễn Xuân Thủy không cố tình tô vẽ nhân vật bằng những thành tích hay dấu mốc rực rỡ, mà để chính bề dày thời gian và những chi tiết công việc thường nhật tự nói lên sức nặng, tâm huyết của một người lính. Bên cạnh anh là Cao Vi Lượng, người thợ cần mẫn với công đoạn nhuộm đen vũ khí, một công việc đòi hỏi độ chính xác gần như tuyệt đối. Tác giả miêu tả tỉ mỉ: “Người thợ phải khống chế nhiệt độ lò trong khoảng 137 đến 142 độ C. Mỗi vũ khí trang bị khi nhuộm đen sẽ đi qua ba lò, người thợ thực hiện công đoạn này sẽ phải ở khu vực lò liên tục 90 phút trong điều kiện nhiệt độ cao và hơi độc” (Lính quân khí bên dòng sông Hiếu). Chỉ một sai lệch nhỏ về nhiệt độ hay tỉ lệ hóa chất cũng có thể khiến cả một mẻ sản phẩm hỏng, kéo theo hao phí công sức, tiền bạc và nguy cơ mất an toàn kĩ thuật cho vũ khí trang bị và hoạt động huấn luyện tác chiến của bộ đội.

Xa hơn, tại khu vực xử lí đạn cấp 5, là những cán bộ, chiến sĩ hằng ngày trực tiếp làm việc với bom mìn, vật liệu nổ và hàng trăm tấn đạn dược đã hết niên hạn sử dụng. Thiếu tá QNCN Nguyễn Ngọc Mai, người có mười sáu năm “làm bạn” với tử thần trong công tác tiêu hủy đạn, chia sẻ với tác giả về bốn phương pháp xử lí nghiêm ngặt gồm tháo gỡ, hủy nổ, hủy đốt, hủy chôn, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của từng loại đạn. Con số mà Nguyễn Xuân Thủy ghi lại khiến người đọc phải giật mình theo đúng nghĩa đen. Bởi riêng năm 2025, đơn vị đã xử lí bốn trăm tấn đạn cấp 5, trong đó tháo gỡ ba trăm tấn, hủy đốt một trăm tấn, hủy nổ một tấn. Đằng sau con số ấy là khối lượng công việc khổng lồ cùng áp lực nghề nghiệp khủng khiếp thường trực từng giờ từng phút, khi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể để lại hậu quả nghiêm trọng cho cả một tổ đội xử lí. Nhìn vào những chi tiết cụ thể, tưởng như thuần túy kĩ thuật ấy, hình tượng người lính hiện lên với một chiều sâu đáng quý. Bản lĩnh của họ được bồi đắp từng ngày qua kỉ luật, kinh nghiệm và sự kiên trì bền bỉ của một công việc đòi hỏi sự cẩn trọng tuyệt đối. Phía sau trạng thái sẵn sàng chiến đấu của mỗi khẩu súng, phía sau sự an toàn của mỗi kho đạn, là mồ hôi và tâm huyết được tích lũy qua năm tháng của những con người ít khi được nhắc tên trên mặt báo. Đó là phát hiện sắc sảo, chân thực của nhà văn Nguyễn Xuân Thủy về phẩm chất của người lính thời bình, sự bền bỉ, kiên định trong công việc chuyên môn, thứ tạo nên nền móng thực sự cho sức mạnh quốc phòng của quân đội ta.

Từ câu chuyện nghề nghiệp, ngòi bút của Nguyễn Xuân Thủy mở rộng sang một chiều kích khác giàu sức gợi hơn ở kí ức và sự kế tục qua nhiều thế hệ. Tại Kho K812, gia đình anh Dương Đức Hải là một minh chứng sinh động cho ngọn lửa truyền thống ấy. Bố anh sinh năm 1935, từng chiến đấu tại chiến trường Lào rồi chuyển ngành về ngành quân khí. Mẹ anh là công nhân quốc phòng tại Đô Lương, Nghệ An. Trong năm người con của ông bà, bốn người tiếp nối nghiệp quân khí: anh Hải, chị Dương Thị Hương, anh Dương Đức Hạnh cùng làm ở Trạm bảo dưỡng sửa chữa, chị Dương Thị Huyền làm thủ kho vũ khí. Một người cháu con anh Hạnh là Dương Đức Bình cũng đang làm việc tại kho, đưa gia đình này trở thành gia đình quân khí thế hệ thứ ba. Những chi tiết ấy mang đến cho bài kí một chiều sâu văn hóa đặc biệt. K812 trở thành một cộng đồng được kết dính bởi trách nhiệm, tình đồng đội và sự tiếp nối tự nhiên giữa các thế hệ. Giá trị của quân đội tồn tại sống động trong kí ức của lớp người đi trước, được bồi đắp bằng sự tận tụy của thế hệ hôm nay rồi tiếp tục lan sang những người trẻ tuổi lớn lên ngay trong khu tập thể của đơn vị. Tác giả đã chạm đến một vẻ đẹp sâu xa thuộc ý thức trách nhiệm của người lính đối với nhiệm vụ trước mắt luôn song hành cùng ý thức truyền thống của chính đơn vị mình, về những gì cha anh ta đã dày công vun đắp và gây dựng.

Một tập bút ký của nhà văn Nguyễn Xuân Thuỷ

Thực tế, có một sợi dây liên kết vô hình nhưng vô cùng bền chặt giữa hai không gian này. Những khẩu súng, những viên đạn được bảo dưỡng, hồi sinh từ đôi bàn tay nhám sần của người thợ quân khí bên dòng sông Hiếu, rồi đây sẽ theo những chuyến tàu ra khơi, trở thành điểm tựa hỏa lực cho đồng đội nơi tiền tiêu. Sự thầm lặng ở đất liền chính là câu trả lời cho sự vững chãi nơi đảo xa. Rời những nhà xưởng ám mùi dầu mỡ ở Kho K812, Nguyễn Xuân Thủy đưa người đọc ra khơi, đến với biển trời miền Trung, nơi cán bộ, chiến sĩ Vùng 3 Hải quân đang trực tiếp “đứng mũi chịu sào” giữ gìn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Cách viết của tác giả ở bài kí này rất đáng chú ý khi anh đi thẳng vào những cuộc gặp gỡ cụ thể, những câu chuyện đời thường nhất, để từ đó chủ quyền biển đảo hiện lên bằng gương mặt, giọng nói và cả những nếp nhăn hằn dấu nắng gió của từng người lính nơi đây, thay vì dừng lại ở những khái niệm mang tính khẩu hiệu.

Đến với Cồn Cỏ, nhà văn gợi lại những trang sử hào hùng bằng những con số cụ thể: “Trong suốt 1.500 ngày đêm, chiến đấu gần 1.000 trận lớn nhỏ, với hàng trăm lượt máy bay và tàu chiến của kẻ thù ném bom, bắn phá, hòng chiếm giữ đảo, quân dân Cồn Cỏ đã chung lưng đấu cật, kiên cường chiến đấu giữ đảo” (Một dải non sông thao thiết biển - bờ). Quân dân đảo bắn rơi bốn mươi tám máy bay Mĩ, bắn chìm mười bảy tàu chiến và hải thuyền địch, giữ vững tinh thần được đúc kết trong lời thề Một tấc không đi, một li không rời và Thà hi sinh tất cả chứ không để mất đảo. Ấy vậy mà chỉ vài trang sau, ống kính của nhà văn đã lặng lẽ chuyển hướng. Hòn đảo lũy thép năm xưa hôm nay có hai mươi bốn hộ dân, những con người bình dị như anh Nguyễn Văn Hiển tỉ mẩn tỉa từng nhánh hoa giấy trước sân nhà hay chị Trần Thị Quyệt lặng lẽ làm công việc vệ sinh môi trường suốt hơn hai mươi năm trên đảo xa, chờ đến tuổi nghỉ hưu mới được đoàn tụ cùng con. Sự tương phản giữa quá khứ oanh liệt và hiện tại bình dị càng làm tăng thêm ý nghĩa của Cồn Cỏ hôm nay để thấy rằng nhiệm vụ giữ đảo trong thời bình đòi hỏi sự bền bỉ trụ vững ngày qua ngày của những con người rất đỗi bình thường, những người đang âm thầm tiếp nối trách nhiệm mà cha ông để lại.

Nguyễn Xuân Thủy dành nhiều trang viết cho mối quan hệ giữa người lính và nhân dân vùng biển, thứ vẫn được gọi bằng cái tên quen thuộc trong ngôn ngữ quân sự là “trận địa lòng dân”. Lời phát biểu của chị Trần Thị Mẫn, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đà Nẵng, tại Lý Sơn là một đoạn văn giàu cảm xúc trong tác phẩm: “Chúng tôi đã trải qua rất nhiều cảm xúc, từ thích thú, ngỡ ngàng, đến tự hào, xúc động và nhất là… thật thương… - Thương các chiến sĩ hải quân phải xa gia đình, sẵn sàng đầu sóng ngọn gió, ngày đêm vất vả canh giữ biển trời; Thương người dân đảo vượt qua nắng gió vươn khơi bám biển, góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; Thương hải đội dân quân thường trực xa vợ xa con ngày đêm tuần tra, canh giữ biển đảo yên bình… Chúng tôi muốn nói với các đồng chí rằng, các đồng chí không hề đơn độc, vì đất liền cùng tình nhân dân của chúng tôi luôn dạt dào hướng về biển đảo thương yêu, hướng về các cán bộ chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên tàu cũng như trên đảo với tấm lòng yêu quý, ngưỡng mộ và thân thương nhất” (Một dải non sông thao thiết biển - bờ). Cuộc gặp gỡ giữa tàu công tác với tàu dân quân thường trực mang số hiệu QT-95678-TS trên biển, khi hai con tàu tiến lại gần nhau, kéo ba hồi còi chào, đã dệt nên hình ảnh những “mắt lưới” vô hình đang giăng khắp biển trời Tổ quốc. Trong cảm nhận của nhà văn, sức mạnh bảo vệ chủ quyền được sinh ra từ sự đồng lòng giữa quân và dân. Cái tên Một dải non sông thao thiết biển - bờ mang một mối liên kết của ý chí, trách nhiệm và tình cảm, tại đó người lính đóng vai trò như một nhịp cầu nối liền đảo xa với đất liền.

Bên cạnh những trang viết về nhiệm vụ, Nguyễn Xuân Thủy còn kiên trì đi tìm con người thật phía sau bộ quân phục, với đầy đủ những vui buồn, mong mỏi rất đỗi bình thường. Câu chuyện về Thiếu tá Phan Đức Anh, thợ máy tàu thuộc Tiểu đoàn hỗn hợp bảo vệ đảo Cồn Cỏ, là một ví dụ giàu cảm xúc. Sau nhiều năm hiếm muộn, anh cùng vợ là chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân phải xoay xở đủ đường, từ vay ngân hàng một trăm năm mươi triệu đồng đến việc tìm thầy thuốc ở Huế, mới đón được cặp song sinh một trai một gái vào năm 2018. Anh chia sẻ về những tình cảm nhận được trong hành trình ấy: “Lúc đi khám và chữa hiếm muộn, khi biết em vừa trở về từ đợt trực trong thời gian nóng bỏng Giàn khoan 981 neo đậu trái phép ở vùng biển Việt Nam, mọi người đã dành cho vợ chồng em một sự quan tâm đặc biệt, nhất là các y bác sĩ trực tiếp điều trị” (Một dải non sông thao thiết biển - bờ). Nguyễn Xuân Thủy ghi lại câu chuyện này với một dụng ý rõ ràng, nhằm làm nổi bật vai trò của đơn vị trong việc tạo điều kiện, chuyển anh từ tàu tên lửa ở Đà Nẵng về công tác gần nhà hơn, góp phần giữ trọn một mái ấm gia đình.

Tương tự, câu chuyện về Thiếu tá QNCN Trần Thanh Toàn, nhân viên thông tin tại Trạm ra đa 550 trên đảo Lý Sơn và người vợ Nguyễn Thị Lệ nhiều năm âm thầm giữ vững hậu phương người lính. Với khoản lương ban đầu chỉ năm triệu đồng, chị Lệ vẫn xoay xở đủ tiền thuê nhà và chi phí sinh hoạt, nuôi con khôn lớn, khiến người chồng gần hai mươi năm quân ngũ vẫn phải bày tỏ sự khâm phục trước nghị lực của vợ mình. Nguyễn Xuân Thủy đặt đời sống riêng tư và câu chuyện nhiệm vụ trong một mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Người đọc có thể phần nào cảm nhận rõ hơn những công việc thầm lặng phía sau mỗi người lính. Nhờ sự hi sinh lặng lẽ của hậu phương, người lính có thêm điểm tựa tinh thần để yên tâm hoàn thành trách nhiệm được Tổ quốc giao phó.

Đọc kĩ hai bài kí, có thể nhận ra một mạch cảm hứng xuyên suốt về sự tiếp nối giữa các thế hệ trong quân đội. Ở Kho K812, cách anh Cao Vi Lượng học nghề từ chính anh Dương Đức Hạnh, anh trai của anh Dương Đức Hải, là một minh chứng sống động cho quy luật ấy. Nhà văn Nguyễn Xuân Thủy viết về hành trình học nghề của anh Lượng bằng một chi tiết rất đắt: “Đôi khi thực tế là người thầy lớn nhất, như anh Lượng, đã làm nhuộm đen tới 10 năm mới đi… tập huấn nhuộm đen. Đó là lớp tập huấn 15 ngày diễn ra vào năm 2017” (Lính quân khí bên dòng sông Hiếu). Kinh nghiệm thực tế là thứ được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua từng năm tháng lao động cụ thể, đôi khi còn quý giá và bền chặt hơn cả những khóa đào tạo bài bản trên giấy tờ. Đến lượt mình, Lượng và Hải lại tiếp tục dạy nghề cho các thế hệ sau, tạo thành một dòng chảy liên tục của tri thức và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lòng đơn vị.

Song song với sự kế tục về nghề nghiệp, tác giả cũng chú ý đến sự kế tục về ý chí và bản lĩnh khi đối diện với hiểm nguy. Trong bài kí về Cồn Cỏ, hình ảnh những anh hùng thời chống Mĩ được nhắc lại đầy trân trọng: “Nhân dân cả nước vẫn mãi nhớ hình ảnh người Anh hùng Thái Văn A, chiến sĩ đài quan sát khi bị thương đã tự mình băng bó, quyết không rời trận địa; chiến sĩ Nguyễn Hữu Quý giữa lúc bom đạn thù xối xả đã bất chấp hiểm nguy cởi mũ sắt che cho kính ngắm khẩu đội 14,5mm, cùng đồng đội bắn rơi 4 máy bay Mĩ; chiến sĩ Lê Ngọc Oanh, bị vết thương nặng trước lúc lâm chung chỉ kịp nói với đồng đội “Tôi không có gì phải tiếc nuối hay ân hận, chỉ tiếc rằng không được cùng các đồng chí tiếp tục chiến đấu bảo vệ đảo”“(Một dải non sông thao thiết biển - bờ). Những tấm gương ấy trở thành một phần kí ức thiêng liêng mà thế hệ người lính hôm nay đang tiếp nhận và gìn giữ, bằng chính tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, dù là công việc tuần tra thường nhật hay những chuyến công tác dài ngày xa gia đình.

Ở Kho K812, tinh thần ấy được thể hiện qua câu chuyện của anh Mai Văn Minh, người từng gắn bó mười năm với Kho K812 rồi xung phong vào Kho K899 tại Lâm Đồng khi đơn vị mới thành lập năm 2006, trước khi quay trở lại quê nhà năm 2024 vì lí do gia đình. Anh lí giải quyết định của mình một cách giản dị: “Trong đơn xin phục vụ quân đội lâu dài có điều cuối cùng là sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, đi bất cứ đơn vị nào quân đội cần”. Câu nói ngắn gọn ấy chứa đựng cả một tinh thần kỉ luật, trách nhiệm đã trở thành nếp sống tự nhiên của người lính, thứ tinh thần được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một phần máu thịt của đời sống quân ngũ, làm nên sức mạnh của quân đội.

Sức thuyết phục của hai bài kí còn đến từ cách Nguyễn Xuân Thủy lựa chọn và xử lí chi tiết. Anh dành phần lớn tâm sức để dựng chân dung nhân vật qua những kí ức sống động: “Để có sự hiện diện của con đường lưỡi rắn này là cả một câu chuyện phía sau liên quan đến một người lãnh đạo, Trung tướng Lê Quý Đạm. Khi đang là Cục trưởng Cục Quân khí, trong quá trình đi kiểm tra các kho, thấy anh em đi tuần vất vả ông đã có sáng kiến làm con đường này. Những câu chuyện ấy được anh Hùng tích lũy trong những năm tháng gắn bó với Kho K812 khi năm 1997, anh về làm Phó trạm trưởng Trạm bảo dưỡng sửa chữa đạn. Những năm tháng trước đó các nhà kho còn tạm bợ đơn sơ nói gì đến nơi ăn chốn ở. Cả nhà kho chỉ có mái chẳng có vách, có trần, đạn để phơi trần thông thống. Hàng rào bao quanh cũng là hàng rào thép gai sau đó mới đầu tư xây tường bao. Đường lưỡi rắn được triển khai sau thời điểm đó, khoảng năm 2001 và nó vẫn còn mãi đến bây giờ, in dấu không biết bao nhiêu bàn chân người lính gác kho” (Lính quân khí bên dòng sông Hiếu). Chi tiết “con đường lưỡi rắn” vừa là một lát cắt lịch sử của đơn vị, vừa là một ẩn dụ nghệ thuật xúc động về tình đồng chí, nghĩa tình giai cấp trong quân đội. Tấm lòng của một vị tướng với chiến sĩ được hiện thực hóa thành con đường tuần tra đỡ bao mưa nắng, lầy lội, gian khổ cho người chiến sĩ gác kho. Đó là thứ văn học không cần đến những đại từ viết hoa, nó len lỏi vào lòng người bằng sự ấm áp nghĩa tình và cái nhìn nhân văn của người viết. Lối viết tiết chế, giàu quan sát và hạn chế lời bình trực tiếp ấy đã tạo ra độ tin cậy cao cho tác phẩm. Người đọc tin vào những gì được kể, bởi cảm nhận được rằng nhà văn đã thực sự có mặt tại hiện trường, thực sự lắng nghe từng câu chuyện, chứ không đứng từ xa để tưởng tượng.

Phải kể đến một vài chi tiết tưởng chừng nhỏ lẻ nhưng mang lại khả năng khái quát rất cao. Hình ảnh những gia đình ba, bốn thế hệ nối nghiệp trong ngành quân khí ở K812 gợi ra sức sống bền bỉ của những giá trị quân đội qua thời gian. Câu chuyện về ba mươi sáu quả bom Mĩ còn sót lại chưa nổ trong lòng đất Kho K812, trong đó tám quả đến nay vẫn chưa xác định được vị trí chính xác, thể hiện góc nhìn khác về chiến tranh, dù đã lùi xa nửa thế kỉ, vẫn còn hiện diện âm thầm trong đời sống của những người lính thời bình, đòi hỏi họ luôn phải cẩn trọng ngay cả trong những công việc xây dựng thường nhật. Ở bài kí về biển đảo, tinh thần “Một tấc không đi, một li không rời” của quân dân Cồn Cỏ trong những năm chống Mĩ được đặt cạnh hình ảnh hai mươi bốn hộ dân bình dị hôm nay, tạo nên một sự đối chiếu vừa xúc động vừa tự hào về cái giá của độc lập và chủ quyền dân tộc.

Điều đọng lại sau những trang kí của Nguyễn Xuân Thủy chính là gương mặt người chiến sĩ và những câu chuyện, những cảm xúc cùng phẩm chất họ để lại, hơn cả địa danh hay số liệu về đơn vị. Đây chính là điểm gặp gỡ giữa chất liệu báo chí - với tính xác thực, cụ thể, giàu thông tin, và cảm hứng văn học - với khả năng khơi mở chiều sâu tâm hồn và số phận con người. Sự hòa quyện ấy đã làm nên một giọng điệu riêng cho những trang kí của Nguyễn Xuân Thủy, chân thực trong ghi chép, đậm chất trữ tình, giàu dữ kiện và luôn hướng về đích cuối cùng là làm nổi bật vẻ đẹp người chiến sĩ trong đời sống quân ngũ hôm nay. Trong dòng chảy văn học viết về người lính thời hậu chiến, khi khoảng cách với những năm tháng chiến tranh ngày càng xa, việc tìm ra một hướng tiếp cận mới luôn là thử thách lớn đối với người cầm bút. Nguyễn Xuân Thủy đã chọn con đường tiếp cận bằng trải nghiệm đến từng đơn vị, sống cùng đồng đội, kiên nhẫn quan sát và một tình cảm chân thành dành cho những người chiến sĩ anh gặp gỡ. Đọc những trang kí của tác giả, ta nhận ra chân dung người lính Việt Nam thời bình đầy đặn, cao đẹp, lặng lẽ, bền bỉ và giàu sức lay động như một minh chứng cho sức sống của trách nhiệm, nghĩa tình và lòng yêu nước trong đời sống dân tộc hôm nay.

V.M.C