Thứ Bảy, 25/07/2026 15:45

Kí ức Điện Biên Phủ

Chiếc máy bay khẽ rung lên khi bắt đầu hạ độ cao. Ngoài khung cửa sổ, những tầng mây trắng như bông đang tan dần, để lộ mặt đất mênh mông phía dưới... (Truyện ngắn của NGUYỄN ANH TUẤN)

. NGUYỄN ANH TUẤN
 

1.

Một ngày đầu tháng 11 năm 2018, trên chiếc máy bay Vietnam Airlines mang số hiệu VN-B221 chở Thủ tướng Pháp Edouard Philippe đến thăm di tích chiến trường Điện Biên Phủ, một người đàn ông lớn tuổi với mái tóc đã bạc trắng, đang ngả mình trên chiếc ghế và chờ đợi giây phút hạ cánh. Khuôn mặt của ông chảy xệ những vết thời gian đầy buồn bã. Đôi mắt đờ đẫn, uể oải khép hờ dưới bọng mắt nặng trĩu sau một hành trình quá sức với cơ thể đã hơn chín mươi.

“Quá khứ không chết. Nó vẫn đang sống trong ta!”

Đại tá Jacques Allaire - người cựu binh Pháp thở dài. Đây là lần thứ ba ông trở lại Điện Biên, nơi ông và những lính khác được nhà cầm quyền ở Paris đưa đến trên những chiếc máy bay C-119 hòng nuôi tham vọng khôi phục lại chế độ thực dân ở Đông Dương. Linh hồn ông vẫn bị kẹt lại ở đâu đó giữa những ngọn đồi loang lổ vết đạn pháo, những khoảng trời sạm đen màu khói súng, dẫu cho tiếng đại bác cuối cùng đã vang lên giữa lòng chảo Điện Biên cách đây sáu mươi tư năm về trước.

Chiếc máy bay khẽ rung lên khi bắt đầu hạ độ cao. Ngoài khung cửa sổ, những tầng mây trắng như bông đang tan dần, để lộ mặt đất mênh mông phía dưới. Tiếng động cơ trầm xuống, đều đặn và nặng nề. Ông cảm thấy đôi tai ù đi, cơ thể hơi tròng trành theo độ nghiêng của thân máy bay.

“Cứu tôi…!”

Giọng ai đó bất chợt vang lên khiến người đàn ông giật mình. Ông bật dậy trong vô thức nhưng chiếc đai an toàn đã ghì chặt tấm thân nặng nề không thể nhúc nhích. Không phải người trong khoang máy bay. Không ai gọi ông cả. Họ vẫn đang mải mê nói cười và chẳng để ý đến ông. Miệng của họ vẫn cử động liên hồi nhưng ông không thể nghe được gì cả. Ngay cả tiếng động cơ, tiếng gió rít bên ngoài.

Lồng ngực của người cựu binh già thắt lại. Không một thứ âm thanh nào xuyên qua được màng nhĩ để ông biết rằng mình vẫn còn là một thực thể đang sống. Một khoảng tối đen u ám nuốt chửng lấy ông, rồi ném người cựu binh vào những mảnh kí ức rời rạc, đứt đoạn và méo mó, không có mở đầu mà cũng chẳng có kết thúc.

“Cứu tôi! Tôi đang rơi!”

Tiếng nói kì lạ ấy vẫn thúc giục bên tai.

Khản đặc và chát chúa.

“Ầm!”

Cả lồng ngực ọp ẹp của Jacques Allaire như muốn vỡ toang khi chiếc bánh đáp của máy bay chạm xuống đường băng. Ông gào lên trong điên loạn cho đến khi chiếc máy bay dừng hẳn. Khi định thần trở lại trong sự kinh hãi của những người xung quanh, người cựu binh già hiểu rằng, ông lại vừa hạ cánh xuống chính quá khứ của mình.

Minh hoạ: Hải Kiên

2.

Sáng ngày 16 tháng 3 năm 1954, bầu trời Mường Thanh như một tấm vải trắng khổng lồ giăng ngang thung lũng. Một chấm đen xuất hiện từ xa kéo theo tiếng ù ù như con thú bị thương. Chấm đen to dần, lộ rõ hình hài chiếc máy bay đầu tiên trong phi đội thực hiện nhiệm vụ không vận của người Pháp. Chiếc C-119 số hiệu 254378 bắt đầu xác định độ cao cần thiết cho đợt thả quân xuống khu vực gần cứ điểm quan trọng. Kim đồng hồ chỉ sáu trăm hai mươi mét. Trong khoang, mùi dầu máy và mồ hôi hòa lẫn vào nhau tạo nên một thứ mùi kinh khủng. Trung úy Jacques Allaire siết chặt quai dù, tim đập thình thịch.

“Thư giãn nào anh bạn! Một cuộc dạo chơi quen thuộc thôi mà!”

Tiếng của người đồng đội thân thiết Pierre Girard. Trái ngược với tâm trạng đầy lo lắng của Jacques Allaire, anh ta rất hào hứng với phi vụ nhảy dù chuẩn bị thực hiện. Cả Pierre Girard và Jacques Allaire đều cùng nhau nhảy dù xuống Điện Biên Phủ lần đầu tiên cách đây một năm trong nhiệm vụ chặn đường tiến quân của lực lượng Việt Minh sang Lào. Khi những cánh dù trắng bung ra giữa đêm tối mịt, dưới mặt đất không hề có viên đạn nào được bắn lên. Cả đại đội hạ cánh an toàn, như một “ông chủ” vừa đáp chân xuống mảnh đất của mình.

Nhưng đây không còn là Đông Dương của một năm về trước. Đối thủ của họ, lực lượng Việt Minh không còn là đội quân lạc hậu với những khẩu súng thô sơ trong tay. Trên khắp chiến trường Điện Biên Phủ, Việt Minh đã hiện diện dày đặc với những cánh quân được tổ chức chặt chẽ, được chỉ huy bài bản, với những khẩu sơn pháo hiện đại được kéo bằng sức người qua những đèo dốc hiểm trở, cùng với một quyết tâm đáng kinh ngạc nhằm hất văng người Pháp ra khỏi Đông Dương để giành lại mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên bằng mọi giá.

Cửa hông máy bay mở ra. Những luồng gió lạnh lẽo cào nát khuôn mặt tím tái của những người lính dù. Đèn xanh bật sáng.

Tiếng hô “Nhảy!” vang lên. Cả hàng người lần lượt lao ra khỏi máy bay, những cánh dù được bung lên ngay sau đó. Bên dưới, những ruộng lúa và nương ngô trải dài bất tận, bị cắt nát bởi hố bom và giao thông hào hiện rõ trong tầm mắt. Jacques Allaire căng mắt nhìn cảnh vật trong khi người đồng đội Pierre Girard vẫn đang tận hưởng cuộc dạo chơi với tốc độ, gió và áp suất hơn là một nhiệm vụ đầy bất trắc.

Thế nhưng, cuộc dạo chơi ấy không kéo dài được lâu. Một vệt sáng lóe lên từ sườn núi phía đông, rồi hàng loạt đốm lửa khác nối tiếp nhau bừng sáng. Súng phòng không của Việt Minh bắn lên dữ dội tạo thành những lưới lửa chết chóc. Chiếc dù của Pierre Girard bị bắn rách toạc, luồng khí lọt qua những lỗ thủng khiến nó chao nghiêng dữ dội.

“Ôi Chúa ơi! Tôi đang rơi! Tôi đang rơi!”

Pierre Girard hét lên đầy bấn loạn, nhưng tiếng hét thảm thiết chỉ có khẩu hình, còn lại quanh quẩn nơi cuống họng chứ không thoát được ra ngoài bởi tiếng gió quá lớn hòa lẫn với những tiếng đại bác đang xé nát cả bầu trời. Jacques Allaire bất lực nhìn người đồng đội rơi xuống. Anh làm dấu thánh, nhắm nghiền mắt và phó thác mọi thứ vào ơn trên.

“Chúa lắng nghe tất cả…

…nhưng đôi khi, câu trả lời của Ngài là không!”

 

3.

Trong buổi sáng kinh hoàng hôm ấy, phân đội súng cối thuộc Tiểu đoàn lính dù số 6 dưới sự chỉ huy của Jacques Allaire đã đáp xuống khu vực gần phía Nam trung tâm đề kháng đồi A1 (mà Pháp gọi là “Eliane 2”) thuộc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nằm ở hữu ngạn sông Nậm Rốm. Cơn ác mộng trên bầu trời vẫn tiếp tục chào đón họ ở dưới mặt đất. Những loạt pháo bắn dồn dập vào bãi đáp của toán lính dù khi mới đặt những bước chân đầu tiên. Jacques Allaire cùng đồng đội vội vã di chuyển. Khi đã đến được vị trí an toàn, anh không giấu nổi kinh hoàng khi nhìn về phía sườn đồi đang bị những quả cầu lửa ngấu nghiến. Người đồng đội thân thiết Pierre Girard có thể đã vỡ vụn ở đâu đó. Giá như Chúa có thể ban cho cậu ấy một viên đạn ân huệ trước khi cơ thể chạm đất.

Jacques Allaire buồn bã nghĩ thầm.

Trên đồi A1, đơn vị của Jacques Allaire thuộc tiểu đoàn của Đại tá Marcel Bigeard, chịu trách nhiệm chỉ huy và điều tiết hỏa lực, đặc biệt là vận hành các khẩu pháo không giật 75mm, súng cối 81mm và một số súng cối 60mm nhằm chế áp hỏa lực của pháo binh Việt Nam đang ngày một chiếm ưu thế.

“Trung úy Jacques Allaire, tôi muốn nghe ý kiến của cậu?” Đại tá Marcel Bigeard mở lời.

“Về điều gì thưa ngài?”

“Mọi thứ!”

Jacques Allaire trầm ngâm một lúc trước câu trả lời ngắn gọn của chỉ huy. Anh luôn dành cho Đại tá Marcel Bigeard một sự ngưỡng mộ sâu sắc bởi tài năng và tình yêu nước Pháp mãnh liệt, chính vì vậy, Jacques Allaire cảm thấy cần phải nói ra sự thật, dù có thể hơi khó nghe với một viên chỉ huy đầy quyền lực.

“Chúng ta đóng quân ở nơi có những quả đồi cao bao bọc xung quanh, song Việt Minh đã nhanh chóng chiếm lấy những điểm cao và từ đó dễ dàng theo dõi mọi hoạt động của chúng ta. Thứ lỗi cho tôi nói thẳng…”

Marcel Bigeard gật đầu.

“Tôi thực sự không hiểu vì sao, các ngài đã không dự tính được rằng Việt Minh sẽ chiếm đóng các vị trí trên cao xung quanh căn cứ của chúng ta, và kéo lên đó các khẩu pháo hạng nặng chỉ bằng những sợi dây thừng.”

Marcel Bigeard cau mày, không phải vì lời nhận xét có phần hơi vượt quyền mà bởi Jacques Allaire đã nói ra điều khiến ông lo lắng bấy lâu.

“Đúng vậy! Mất các cao điểm, cùng với việc Việt Minh ra sức đào công sự áp sát ngày đêm, chúng ta đã biến thành những con cua trong một cái chảo khổng lồ, chỉ còn chờ đến ngày người ta đặt lên bếp. Nhưng tôi không muốn nghe thêm lí giải về việc “con bò rơi xuống hố”. Hãy đưa cho tôi cách để “kéo nó lên.””

Jacques Allaire bước đến và tự tin trình bày những ý tưởng của mình. Những ngón tay của viên trung úy nhảy múa liên hồi trên tấm bản đồ, quanh các cứ điểm quan trọng. Marcel Bigeard chăm chú lắng nghe, gật đầu vài lần, ánh mắt khá hài lòng dù vài chỗ ông vẫn còn lấn cấn. Trong hoàn cảnh bị vây khốn lúc này, ông không có nhiều lựa chọn. Marcel Bigeard gấp tấm bản đồ và hứa sẽ chuyển những đề xuất của Jacques Allaire lên bộ chỉ huy cấp cao.

Ngoài căn hầm chỉ huy, cơn mưa đêm hối hả trút nước như muốn nhấn chìm cả thung lũng. Những hạt mưa lộp độp trên những mái bạt dã chiến, dội lên nền đất nhão nhoét sình lầy. Những người lính Pháp hối hả gia cố lại những lớp bạt che chắn cho những khẩu pháo. Tiếng búa nện chan chát hòa cùng tiếng mưa đầy gấp gáp. Jacques Allaire vẫn chưa thể trả lời được câu hỏi:

Vì sao pháo binh Việt Minh có thể bắn chính xác đến như thế?

Chúa đã chỉ đường cho họ chăng?

Không, chắc chắn Ngài không nhúng tay vào việc này.

 

4.

Mờ sáng, một đại đội của Pháp dưới sự yểm trợ của hai chiếc xe tăng M24 liều mạng đột phá vòng vây. Dưới sự che chắn hiệu quả của những khối thép đen sì, quân Pháp nhanh chóng áp đảo bằng hỏa lực mạnh mẽ. Những người lính Việt Minh mệt nhoài do phải đào công sự suốt đêm không kịp trở tay. Nhiều chiến sĩ gục xuống ngay trong loạt đạn mở màn của địch. Chiếc M24 đi đầu khạc lửa, vạch ra một đường đạn đỏ rực thổi bay mọi thứ cản đường của nó. Đám lính Pháp phía sau hò hét, tràn lên theo đuôi con quái vật thép đang hùng hổ mở đường. Để tránh thương vong, đại đội tuyến đầu của Việt Minh được lệnh giãn ra, rút về phía sau.

Nép mình dưới một mô đất cao, Jacques Allaire tập trung tính toán tọa độ rồi ra lệnh cho phân đội súng cối khai hỏa. Từ tọa độ được cung cấp, những quả đạn cối liên tiếp được phóng lên không trung theo quỹ đạo cầu vồng rồi cày xới tung tóe khắp mặt đất. Những người lính Việt Minh ở lại vẫn cố gắng chống trả, chờ pháo binh chi viện.

Jacques Allaire phấn khích vô cùng trước những kết quả vượt sức mong đợi. Những đề xuất phản kích nhắm vào các hào giao thông đã tỏ ra hiệu quả trong việc chặn đà áp sát các cứ điểm quan trọng của đối phương. Quân Pháp đã chiếm được những đoạn hào công sự mới đào từ mấy ngày qua. Nhưng điều Jacques Allaire ngạc nhiên là vì sao pháo binh của Việt Minh vẫn chưa khai hỏa. Ngay lập tức, những quả đạn pháo từ bên kia xé gió lao về phía Jacques Allaire và đồng đội. Mặt đất rung chuyển dữ dội, từng cột khói đen đặc cuộn lên giữa tiếng nổ chát chúa. Jacques Allaire nhận ra pháo binh của đối phương đã bắn quá sâu vào đội hình phản kích của mình.

Nhìn hướng gió thổi và không gian bị nhuốm đen màu khói súng, mắt Jacques Allaire sáng rực lên. Việt Minh chưa thể xác định được tọa độ của toán quân Pháp đang phản kích. Khói đen bị gió thổi tạt, choán cả tầm nhìn từ sân bay Mường Thanh. Nếu đối phương cố bắn lúc này sẽ có thể bắn nhầm lên cả đồng đội của họ.

Quả đúng như vậy, tiếng pháo im bặt ngay sau đó, nhường không gian cho những tiếng súng qua lại của hai bên. Khi Jacques Allaire đang say sưa mường tượng về viễn cảnh chiến thắng thì một ngọn cờ đỏ rực từ dưới mặt đất được phất lên. Một người lính Việt Minh gầy gò siết chặt lấy lá cờ, cố giương thật cao và xông thẳng về phía chiếc xe tăng M24. Theo sau anh ta là những loạt đạn dồn dập của đồng đội bắn yểm trợ.

“Gã đó điên rồi?”

Một lính Pháp thốt lên.

Jacques Allaire sững sờ vài giây rồi hét lớn.

“Chặn hắn lại! Chặn hắn lại ngay!”

Đám lính Pháp lập tức bắn xối xả. Người lính Việt Minh vẫn liều mình băng qua lớp mưa đạn dày đặc để làm vật chuẩn cho pháo binh xác định tọa độ mục tiêu. Khi chỉ cách chiếc xe tăng vài chục mét, người lính trúng đạn, ngã ập xuống đất. Vừa lúc khói tan, pháo binh của Việt Minh đồng loạt khai hỏa. Chiếc xe tăng M24 đi đầu bị trúng đạn, bốc cháy ngùn ngụt. Một quả đạn pháo rơi gần vị trí của Jacques Allaire, hất văng đám người về mọi phía trước khi lớp đất đá ồ ạt trùm lên. Đợt phản kích của quân Pháp bị bẻ gãy nhanh chóng, hơn nửa đại đội hứng trọn cơn thịnh nộ của pháo binh Việt Nam. Jacques Allaire nằm gục trên vai người đồng đội cho đến khi trở về được căn cứ với một vết thương ở vai.

“Lạy Chúa lòng lành…

…xin đưa con ra khỏi cái địa ngục trần gian này…”

Jacques Allaire thều thào trước khi bóng tối ập đến.

 

5.

Bệnh viện dã chiến nằm dưới căn hầm u ám, nồng nặc mùi chết chóc hòa với mùi ngai ngái của thuốc sát trùng. Chẳng còn đủ chỗ để ken thêm người, giường bệnh được ưu tiên cho các thương binh nặng và sĩ quan, những người bị thương nhẹ thì phải nằm bệt dưới đất, hoặc ngồi dựa lưng vào vách. Thi thoảng có tiếng người mê sảng gào lên rồi lảm nhảm những lời vô nghĩa, ngay sau đó là tiếng chửi thề bực bội của những người đang nghỉ ngơi bị làm phiền.

Jacques Allaire co ro trên chiếc giường sắt mà chẳng thể chợp mắt nổi. Nằm ở giường bên cạnh là trung sĩ Philippe Arnaud, đến từ đảo Corse xa xôi. Anh ta bị thương rất nặng, dạo gần đây cũng rất hay nói sảng.

“Này trung úy…” Philippe Arnaud rên rỉ.

“Làm ơn đi Philippe… đừng hỏi tôi những câu ngớ ngẩn ấy nữa…”

Jacques Allaire nhăn mặt.

“Không… tôi chỉ muốn hỏi… Chúa có thật trên đời hay không?”

“Có! Ngài hằng sống và ngự trị đến muôn đời.”

Philippe Arnaud mếu máo:

“Vậy, Chúa ở đâu khi mảnh đạn găm nát bụng của tôi? Anh có biết mỗi ngày thức dậy, tôi đều làm dấu thánh rồi thành tâm cầu nguyện hay không? Tại sao Chúa lại để những điều tồi tệ xảy ra với tôi? Tại sao? Tại sao lại như thế?”

Philippe Arnaud lại gào lên như mọi khi. Nhưng lần này, những tiếng chửi thề chẳng còn bủa vây lấy anh ta. Có lẽ, những người xung quanh đã quá ngán ngẩm hoặc chẳng ai còn đủ sức cất lời chửi bới. Jacques Allaire là người ngoan đạo, anh tin vào sự hiện hữu và nhiệm màu của Chúa trong cuộc đời mình. Nhưng câu hỏi của người đồng đội đáng thương làm anh nghẹn ứ nơi cổ họng.

Chúa yêu thương con người nhưng cớ sao vẫn để những điều khổ đau đến với con cái của Ngài? Câu hỏi ấy không dễ trả lời một chút nào.

Đúng lúc ấy, Đại tá Marcel Bigeard bước vào hỏi thăm, nhờ đó, kéo anh ra khỏi đôi mắt đau khổ của Philippe Arnaud. Ông thở phào khi biết Jacques Allaire đã dần hồi phục, sắc mặt anh khá hơn nhiều sau những ngày sốt cao vật vã, chỉ dăm hôm nữa là có thể trở lại làm nhiệm vụ. Phân đội lính cối không có Jacques Allaire chỉ huy không khác nào đám thợ học việc, vụng về và ăn hại.

“Tôi nghe nói, mấy tháng trước có trinh sát của Việt Minh xâm nhập vào Claudine?”(Mường Thanh)

Đại tá Marcel Bigeard giật mình trước độ thạo tin của Jacques Allaire. Ông ghé sát tai và thuật lại sự việc. Đêm Giáng sinh năm 1953, thung lũng Điện Biên chìm trong cái lạnh buốt tê tái. Trên các cứ điểm, lính Pháp reo hò, uống rượu ăn mừng như thể chiến tranh chưa từng hiện hữu bên ngoài hàng rào thép gai lởm chởm và chẳng chịt. Một toán trinh sát Việt Minh bí mật xâm nhập đã bị phát hiện ở bờ sông Nậm Rốm, khi đang vận chuyển một thứ gì đó lấy được từ số hàng tiếp tế thả dù xuống Mường Thanh. Toán quân ấy chống trả quyết liệt, quân Pháp bắn chết một người, số còn lại chạy thoát được và mang theo thứ đồ bí mật ấy.

“Qua kiểm tra dọc tuyến từ Claudine (Mường Thanh) đến bờ sông Nậm Rốm, phát hiện một chiếc dù thả hàng tiếp tế màu đỏ, ký hiệu “VIP-010”. Dù thì còn nhưng hàng đã mất. Cạnh đó, la liệt hàng tiếp tế từ những chiếc dù trắng khác mà vẫn còn nguyên vẹn.”

“Dù màu đỏ, loại dù để thả hàng hóa tiếp tế cho sĩ quan cao cấp?”

Marcel Bigeard im lặng nhưng ánh mắt bất an đã thay cho lời đáp. Linh tính của Jacques Allaire mách bảo về những điều chẳng lành. Chúa không đứng về phe chúng ta. Anh chép miệng rồi nhỏm dậy, đặt tay lên đôi mắt trắng dã của trung sĩ Philippe Arnaud. Anh ta đã tắt thở từ bao giờ.

 

6.

Mãi đến sau này, Jacques Allaire mới biết, trong cái đêm Giáng sinh ấy, thùng hàng mà toán trinh sát Việt Minh liều chết lấy đi bằng được chính là tập tài liệu gồm hai mươi lăm tấm bản đồ khu vực lòng chảo Điện Biên và ba mươi hai tấm ảnh hàng không, chụp rất rõ bố phòng của các cụm cứ điểm Pháp từ trên cao. Có được tấm bản đồ quý giá ấy, pháo binh của Việt Nam đã vẽ được các vị trí của quân Pháp và chọn địa điểm đặt pháo, hiệu chỉnh đường bắn sao cho chính xác. Trận địa pháo của quân Pháp cũng chính thức phơi mình trong tầm ngắm của đối phương. Số phận của con nhím Điện Biên Phủ cũng đã đến thời khắc định đoạt.

Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, Jacques Allaire cùng mười lăm người lính đơn độc chốt chặn lối vào cứ điểm của mình qua một cây cầu. Nhìn làn sóng người từ các hướng đổ về như thác lũ, những ngọn cờ đỏ rực giữa bầu trời, anh nhận ra cuộc chiến cũng đã đi đến hồi kết.

“Đại tá! Tôi là Jacques Allaire đây! Chúng ta có tiếp tục chiến đấu nữa hay không?”

“Allaire, mọi chuyện xong rồi. Có lệnh ngừng bắn lúc 5 giờ chiều. Phá hủy hết vũ khí và…” Đại tá Marcel Bigeard buồn bã đáp qua điện đàm.

“Nếu tôi phải ngừng chiến đấu, xin hãy gửi đến cho tôi mệnh lệnh viết tay thưa ngài.”

“Đừng ngang bướng như thế Trung úy! Đây là mệnh lệnh, hãy thi hành như những người khác!”

“Tôi cần mệnh lệnh viết tay!” Jacques Allaire vẫn kiên quyết đáp lại.

“Thôi được rồi! Đến đây và lấy nó đi! Hết!” Marcel Bigeard thở dài.

Jacques Allaire đưa mắt nhìn người lính bên cạnh. Anh ta uể oải rời đi. Một quả đạn pháo vụt qua, nổ ngay gần đó. Khói tan, người lính vẫn bình an vô sự, anh ta lồm cồm bò dậy rồi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Làn sóng người đã tiến đến rất gần trong những tiếng hò hét vang trời. Jacques Allaire lòng như lửa đốt. Nếu chống cự, anh biết mình và đồng đội sẽ chẳng còn ai sống sót. Nhưng trận đánh này sẽ đi vào lịch sử thế giới với sự nhục nhã của người Pháp, anh không muốn tên của mình bị đám sử gia réo lên với tư cách là những kẻ hèn nhát buông súng đầu hàng.

Những người lính trong đội của Jacques Allaire không nghĩ nhiều đến thế. Họ nhìn nhau rồi lặng lẽ nhìn chỉ huy. Súng vẫn trên tay nhưng chẳng còn mấy ai để ngón trỏ lên cò. Cái nhìn lặng lẽ của đồng đội khiến Jacques Allaire ngột ngạt khủng khiếp. May thay, người lính đã quay lại với mảnh giấy có chữ viết tay của Đại tá Marcel Bigeard:

“Gửi Allaire - Hạ súng vào 17h30, không bắn nữa, đừng treo cờ trắng. Hẹn gặp lại. Tội nghiệp các chàng trai của tôi.”

Jacques Allaire cẩn thận đặt mảnh giấy vào trong túi áo. Theo lệnh, những người lính Pháp trong đội của anh tiến hành phá hủy súng ống, máy ảnh, tài liệu hay bất cứ thứ gì có thể gây bất lợi nếu rơi vào tay Việt Minh. Họ phục tùng mệnh lệnh một cách tuyệt đối, không có bất cứ phản kháng nào.

Một người lính da đen cao lớn nhìn Jacques Allaire và hỏi:

“Trung úy, chúng ta làm gì tiếp theo bây giờ?”

Jacques Allaire chua chát đáp:

“Chờ họ đến!”

 

7.

Trong một góc của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Jacques Allaire lặng lẽ ngắm nhìn những hiện vật được trưng bày. Ông để mắt rất lâu trên tấm bản đồ khổ lớn với dòng chữ “DIEN-BIEN-PHU” cùng bức tranh một người lính Việt Minh vác trên vai lá cờ xung trận, theo sau là đồng đội đang cố gắng yểm trợ. Những câu hỏi năm xưa ở Điện Biên Phủ, ông cũng đã tìm được câu trả lời. Bất giác, ông lại nhớ đến những người đồng đội đã nằm lại, nhớ ánh mắt bấn loạn của Pierre Girard khi rơi xuống và đôi mắt thẫn thờ chất vấn Chúa đầy tội nghiệp của Philippe Arnaud. Tình yêu của Chúa không phải là tấm khiên che chắn mọi khổ đau nhưng là nguồn sáng trong đêm để con người tìm thấy con đường vượt qua những khổ đau ấy. Được sống và trở về nguyên vẹn, đối với ông đã là một hồng ân lớn lao.

Tay Jacques Allaire nắm chặt chiếc gậy gỗ. Nó chỉ có thể giúp ông nâng đỡ sức nặng của cơ thể già nua, với những bước đi khó nhọc do một chân bị bại liệt, còn với cả khối nặng kí ức lúc này, nó hoàn toàn bất lực. Bất giác, chiếc gậy gỗ trên tay rơi xuống. Người đàn ông già chững lại vài giây, trước khi cố gắng đầy khó nhọc để tìm cách nhặt lại.

Một đôi tay nhỏ nhắn cầm lấy chiếc gậy và trao cho ông. Đó là một bé gái xinh đẹp trong bộ trang phục truyền thống của người dân tộc Thái ở Điện Biên. Mắt cô bé trong veo như chính bầu trời Mường Thanh hôm nay ông hạ cánh. Những ngón tay của Jacques Allaire run rẩy chạm lấy tay cầm của chiếc gậy như sợ nó sẽ rời bỏ mình thêm lần nữa.

“Cô bé thật xinh đẹp và ngoan lắm!”

Jacques Allaire cất lời. Mặc dù không hiểu ông lão ngoại quốc nói gì, cô bé vẫn khoanh tay chào ông rồi chạy đến bên bố mẹ của mình. Người cha xoa đầu khen ngợi con gái. Hai vợ chồng đưa mắt nhìn ông với một nụ cười thân thiện và chào đón.

“Ông ổn chứ Allaire?”

Thủ tướng Edouard Philippe nhìn ông bằng vẻ mặt lo lắng.

“Tôi xin lỗi chuyện trên máy bay.” Jacques Allaire ngập ngừng. “Cảm ơn anh đã giúp tôi hoàn thành tâm nguyện được trở lại Điện Biên Phủ sau ngần ấy năm. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một người lính với nước Pháp và cũng rất tự hào khi được đọ sức với một đối thủ tài giỏi, mưu lược và đầy lý tưởng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Người Việt Nam thật dũng cảm và thông minh. Tôi đã chiến đấu với ông bà của họ trong quá khứ và giờ đây, họ vẫn chào đón tôi bằng những nụ cười xinh đẹp trên môi. Tôi ước có thể trở lại Điện Biên thêm lần nữa.”

Ngài Thủ tướng gật đầu, định hỏi thêm điều gì đó nhưng người cựu binh già đã xin phép để ông một mình.

Tháng 4 năm 2022, trong ngôi nhà quay mặt ra dòng sông Loire chia đôi thành phố Tours xinh đẹp và yên bình, Jacques Allaire đang nắn nót những dòng cuối cùng trên lá thư gửi Thủ tướng Edouard Philippe, mong muốn được trở lại Việt Nam để tìm hiểu về hai người lính Việt Minh đặc biệt trong trận Điện Biên Phủ. Một người đã dũng cảm vác cờ làm mốc cho pháo binh đánh bật cuộc phản kích của đại đội ông, người còn lại đã dũng cảm cầm chân quân Pháp cho đến phút cuối cùng ở sông Nậm Rốm để đồng đội đưa được tấm bản đồ cứ điểm Điện Biên Phủ đến được với chỉ huy của họ.

Nhưng lá thư ấy mãi mãi không đến được tay ông Thủ tướng. Khi những dòng viết cuối cùng vừa mới ráo mực, Jacques Allaire đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng ở tuổi chín mươi tám. Một cơn gió vô tình cuốn lá thư bay qua khung cửa sổ. Nó mang theo tâm nguyện còn dang dở của người cựu binh Pháp nặng lòng với Việt Nam lơ lửng trên không vài giây rồi biến mất hoàn toàn giữa dòng Loire êm đềm xanh biếc...

N.A.T
Phong Nha, ngày 23 tháng 10 năm 2025