Chủ Nhật, 20/09/2026 03:36

Mặt trận văn hoá kháng chiến và tái cấu trúc định chế văn nghệ ở nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 1947 - 1949

Phương thức để đấu tranh trong không gian này là tuyên truyền, mà vũ khí của tuyên truyền chính là lời nói, chữ viết và hành vi của các nhà cách mạng và văn nghệ sĩ làm nhiệm vụ tuyên truyền...(HOÀNG PHONG TUẤN)

.HOÀNG PHONG TUẤN


Cuộc kháng chiến của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH) chống lại sự tái chiếm của lực lượng thực dân Pháp sau ngày độc lập năm 1945 là một lựa chọn lịch sử, đồng thời cũng là tình thế kiến tạo bản sắc quốc gia. Lựa chọn này không chỉ bảo vệ sự tồn tại của nhà nước non trẻ do chính người Việt Nam làm chủ, mà còn thiết lập bản sắc chính trị chống ngoại xâm kế thừa từ truyền thống xa xưa được phục dựng để biện chính cho sự đại diện duy nhất của nhà nước này. Ở điểm cốt lõi, sự khác biệt giữa nhà nước Việt Nam DCCH với các lực lượng và tổ chức khác do Pháp thành lập nhằm duy trì quyền lực thực dân, xét cho cùng, không chỉ ở hệ tư tưởng, mà còn ở sự biện chính bản sắc này cả trên bình diện diễn ngôn và bình diện hiện thực: nhà nước này tự chủ chính mình, và cho dù có phải thương thỏa với Pháp, các nhà lãnh đạo cũng đã đặt ra những giới hạn không thỏa hiệp, và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến sẽ xảy đến. Bằng sự tự chủ này, nhà nước Việt Nam DCCH dần dần thiết lập tính chính danh trên nền tảng luân lí chống ngoại xâm, một nền tảng tinh thần truyền thống có từ hàng ngàn năm trước và ngày càng lớn mạnh cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân tộc từ đầu thế kỉ. Đây chính là điều, như chúng ta sẽ thấy, tạo nên quyền lực diễn giải vô cùng mạnh mẽ của định chế văn nghệ. Nhưng trước hết, điều này tác động lớn lao đến sự lựa chọn cá nhân của văn nghệ sĩ và người dân theo cách mạng. Đó là một ngã rẽ của lịch sử xuyên qua những lựa chọn cá nhân.

Toàn quốc kháng chiến nổ ra như một tình thế kiến tạo bản sắc quốc gia thể hiện ở việc nó đòi hỏi sự lựa chọn của mỗi cá nhân có tham gia vào chính phủ kháng chiến hay không, và bằng cách đó, lực lượng cách mạng được mở rộng tạo nên quần chúng nhân dân của nhà nước này, đến lượt tạo nên bản sắc cho chính nó. Lần đầu tiên chính phủ Việt Minh trở thành một lực lượng đối kháng trực tiếp về cả chính trị, quân sự và văn hóa với một cường quốc phương Tây là thực dân Pháp có các đồng minh hỗ trợ. Tính chất khốc liệt của chiến tranh hiện diện trên mọi mặt của đời sống. Văn nghệ sĩ và các nhà văn hóa, giai tầng trí thức nòng cốt của xã hội, đứng trước một yêu cầu lựa chọn không chỉ mang tính luân lí và ý thức hệ mà còn mang tính hiện sinh: tham gia với chính phủ Việt Minh trong một cuộc chiến bất cân xứng, hay giữ nguyên và theo đuổi các lựa chọn được dẫn dắt bởi chính phủ thân Pháp, hay yên vị trong một góc nhỏ đô thị nào đó chờ đợi thời thế thay đổi. Cuộc chiến bất cân xứng có nghĩa là gian khổ, li tán và chết chóc sẽ chờ đợi mỗi cá nhân nếu họ dấn thân vào kháng chiến.

Ngay sau cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, chiến tranh đã diễn ra hầu như trên toàn bộ khu vực của Việt Nam. Những cuộc chiến diễn ra với cường độ ngày càng cao xung quanh Hà Nội và mở rộng lên rừng núi phía Bắc, đỉnh điểm là chiến dịch Léa do thực dân Pháp thực hiện, với mục tiêu là cơ sở vật chất và chính phủ nhà nước Việt Nam DCCH. Sau kết quả hầu như là thất bại của chiến dịch Léa (mặc dù đã phá hủy được khá nhiều vũ khí và cơ sở hậu cần của cách mạng), thực dân Pháp tiếp tục triển khai các chiến dịch bình định xung quanh Hà Nội và các vùng đô thị trên khắp cả nước. Bên cạnh đó, chúng còn tăng cường tuyên truyền, tung mật thám và Việt gian hoạt động tích cực ở các vùng dân cư nông thôn, nơi chính phủ kháng chiến đang kiểm soát, truy lùng những người cách mạng và khủng bố, trả thù những người dân được mật thám báo cáo là theo cách mạng. Lính Pháp, lính lê dương và người Việt đi lính cho Pháp trong khi thực hiện chiến dịch, vẫn thường xuyên cướp bóc, hãm hiếp và trả thù những gia đình có liên hệ với nhà nước Việt Nam DCCH, gieo rắc sợ hãi cho người dân.

Trong giai đoạn khi mà cuộc chiến đang ở thế giằng co quyết liệt, yêu cầu về một học thuyết kháng chiến tổng thể hướng đến sự đoàn kết các lực lượng quân và dân, nghệ sĩ trí thức và bộ đội cho cuộc kháng chiến trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh đó, cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi (tháng 9 năm 1947, tập hợp loạt bài được đăng trước đó của Trường Chinh trên Sự thật từ tháng 3 năm 1947), đã phác họa chiến lược tổng thể của cuộc kháng chiến, với một phạm trù chiến tranh lần đầu tiên được thể hiện chi tiết, phạm trù “chiến tranh nhân dân”, trong đó mặt trận văn hóa là một cấu phần quan trọng.

Đối với các nhà lãnh đạo cách mạng, cuộc kháng chiến toàn dân của nhà nước Việt Nam DCCH là trường kì và khó khăn. Vì cơ sở vật chất và thiết bị vũ khí của nhà nước cộng hòa non trẻ không thể so sánh với quân đội Pháp được các lực lượng đồng minh hỗ trợ. Do đó, chiến tranh nhân dân chính là đáp án cho bài toán khó khăn ấy. Cốt lõi của chiến tranh nhân dân nằm ở chỗ toàn dân phải là một khối thống nhất về mặt tư tưởng và hành động, trở thành một cộng đồng tâm thức trong thực tiễn cách mạng. Đối với các nhà cách mạng, cộng đồng tâm thức không chỉ là một khối thống nhất tĩnh, mà còn là một khối động không ngừng mở rộng về mặt không gian, nơi diễn ra các cuộc đấu tranh liên tục giữa ta và địch về mặt tinh thần, tư tưởng. Và đó chính là một mặt trận, mặt trận văn hóa, bên cạnh mặt trận kinh tế, quân sự, chính trị. Phương thức để đấu tranh trong không gian này là tuyên truyền, mà vũ khí của tuyên truyền chính là lời nói, chữ viết và hành vi của các nhà cách mạng và văn nghệ sĩ làm nhiệm vụ tuyên truyền. Vì thế, đối với các nhà lãnh đạo cách mạng, công tác tuyên truyền và hoạt động văn hóa có vai trò lan tỏa, gắn kết và giữ vững nền tảng tư tưởng cho khối thống nhất ấy. Chính ở yêu cầu này mà sự tái cấu trúc định chế văn nghệ diễn ra như là một sự lựa chọn hợp lí: đó chính là chiến lược để cho phương thức tuyên truyền diễn ra hiệu quả.

Tái cấu trúc định chế văn nghệ kháng chiến thể hiện qua sự hợp nhất giữa các định chế chính trị, định chế văn hóa và định chế quân đội. Nhìn chung, cốt lõi của sự hợp nhất định chế này có từ đầu khi thành lập Đảng, được văn bản hóa trong chủ trương của các nhà lãnh đạo cộng sản, như ta đã thấy trong Đề cương. Theo đó, mục tiêu chính trị của các nhà cách mạng được thực hiện thông qua hoạt động văn hóa và tuyên truyền cách mạng, nghĩa là định chế văn hóa nghệ thuật ngay từ đầu đã được hợp nhất với định chế chính trị. Sau ngày Độc lập 2/9/1945, mục tiêu và qua đó là sự hợp nhất định chế ấy vẫn nằm ở bề sâu, nhưng trên bề mặt, Hội Văn hóa Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh vẫn có những hoạt động tương đối độc lập, trong khi định chế chính trị là Đảng Cộng sản Đông Dương đã tự giải tán, còn lại Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, dù sự ảnh hưởng và quyền điều hành hầu như không thay đổi. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, tình hình của đất nước tạo nên những thách thức về mặt chiến lược, định chế quân sự được thành lập từ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân giờ đây đã lớn mạnh cả về lực lượng và tổ chức, đã trở thành Quân đội quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hệ thống định chế này giờ đây trở thành một hệ thống quan trọng, được hợp nhất với các hệ thống định chế chính trị, văn hóa khác.

Các đại biểu dự Đại hội Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất, tháng 11 năm 1946. Ảnh: Tư liệu

Sự hợp nhất định chế quân sự và định chế văn học thể hiện những khía cạnh đặc thù của văn học giai đoạn 1947 - 1949. Trước hết, giai đoạn này nổi lên trào lưu văn nghệ bộ đội, những người lính cầm vũ khí trên chiến trường chống giặc và làm thơ viết văn. Đây là một chủ trương của các nhà lãnh đạo quân sự và văn hóa, thể hiện trước hết ở việc cộng điểm cho các cuộc thi văn nghệ có chiến sĩ tham gia (trong Thông báo của cuộc thi văn nghệ Việt Bắc kháng chiến có ghi rõ “Tất cả những anh em bộ đội và dân quân dự thi sẽ được tăng số điểm là 10đ. Đặc biệt những anh em đã tham dự những trận thắng lợi Việt Bắc được tăng số điểm là 20đ”). Chủ trương này đem lại những kết quả sôi động bất ngờ. Tạp chí Văn nghệ năm 1948 có số riêng Văn nghệ bộ đội, trong đó đăng nhiều sáng tác của những người chiến sĩ trực tiếp cầm súng đánh giặc, có không ít sáng tác để lại ấn tượng. Một điểm cần lưu ý là những người chiến sĩ này không hoàn toàn là những người mới bắt đầu sáng tác, một số ít trong họ đã có tác phẩm đặc sắc từ sớm, Quang Dũng là một ví dụ. Nhưng có thể nói đại đa số có xuất thân nông dân và công nhân, họ tham gia cách mạng với lòng yêu nước nhiệt thành và chiến đấu với tinh thần dũng cảm mãnh liệt. Điều này thể hiện qua đa số các vần thơ nóng hổi của họ. Sự giao thoa này thể hiện rõ nhất qua cuộc thi văn nghệ Việt Bắc kháng chiến do Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam tổ chức. Trong Thông báo về cuộc thi đăng trên báo Sự thật (số ra ngày 10/2/1948), ta thấy kí tên Võ Nguyên Giáp như người đại diện ban tổ chức, ông cũng có trong ban chấm thi với danh nghĩa “nhà quân sự”, cùng với Văn Tiến Dũng (“đại diện chính trị cục”) và tướng Nguyễn Sơn (“nhà quân sự”). Sự tham gia này, tác động lớn đến các vấn đề chủ chốt của định chế diễn ngôn và diễn giải văn học giai đoạn này, như vấn đề hiện thực như là quy chiếu diễn giải và vấn đề văn nghệ chuyên nghiệp và văn nghệ bộ đội, vấn đề giáo dục và đào tạo sáng tác.

Thứ hai là các nhà văn đầu quân, đi cùng cuộc chiến đấu. Có một phong trào các nhà văn đầu quân, tuy chưa thể ước lượng chính xác, nhưng có thể nói là đa số nhà văn trước cách mạng đã tham gia quân đội; họ cũng có thể đã lĩnh lương như người lính thực thụ(1). Trào lưu nhà văn ra tiền tuyến theo bước chân hành quân thực sự là một bước ngoặt quan trọng đối với vấn đề văn học miêu tả hiện thực kháng chiến. Họ giờ đây tham gia trực tiếp vào cuộc chiến gian khổ và khốc liệt, có thể đã có người không chịu nổi thực tế mà phải về thành, một ít người có thể đã chịu đựng gian khổ âm thầm lặng lẽ, nhưng đa số đã theo bước chân hành quân. Chiến dịch sông Thao là một cuộc kiểm nghiệm lớn phong trào nhà văn xông pha chiến trường cùng những người lính. Văn nghệ dành hẳn một số riêng, Số Sông Thao, tháng 7-8/1949, để đăng các tác phẩm của Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Trần Đăng, Đoàn Phú Tứ, Hữu Tâm, Hữu Mai… Ta thấy ở đây không chỉ các nghệ sĩ tiền chiến có tên tuổi, mà còn có những nghệ sĩ mới, những người chiến sĩ giờ sáng tác văn nghệ, như Siêu Hải - một cán bộ quân sự, Trần Đăng - nhà văn chiến sĩ đã anh dũng hi sinh cuối năm 1949. Số Sông Thao của Văn nghệ chính là số tạp chí văn học nghệ thuật đầu tiên thể hiện sự giao nhau giữa văn nghệ và quân đội, giữa thế hệ nhà văn tiền chiến và thế hệ chiến sĩ-nhà văn ra đời trong giai đoạn đầu của kháng chiến.

Trong sự hợp nhất này, các nhà văn “chuyên nghiệp” có vai trò rất lớn trong việc đào tạo, trợ giúp và đồng hành cùng những người chiến sĩ viết văn. Một trong số những người đầu tiên có đóng góp rất nhiều đó là Xuân Diệu. Những khóa đào tạo viết văn cho chiến sĩ được mở ra, giảng viên là những nhà văn đã thành danh. Những buổi góp ý, bình luận, sửa chữa cũng diễn ra thường xuyên và sôi nổi, tiêu biểu là Hội nghị Văn nghệ bộ đội diễn ra ngày 9/9/1949. Nhưng cũng ở hội nghị này ta thấy nảy sinh va chạm giữa quan niệm văn chương bộ đội và văn chương chuyên nghiệp. Theo lời tường thuật của Nguyễn Huy Tưởng, những chiến sĩ nhà văn đã phàn nàn rằng văn thơ của mình bị các đàn anh đi trước sửa chữa, phê bình quá nghiêm khắc, rằng chỉ nên phê bình văn thơ về phần chính trị chứ không nên phê bình phần kĩ thuật, hàm ý rằng không nên sửa chữa quá nghiêm khắc nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Tố Hữu phải lên tiếng giảm nhẹ bớt không khí căng thẳng, ông cho rằng “văn nghệ cần phải có phê bình, có khuyết điểm thì phải vạch ra, nhưng đồng thời cũng phải nêu ra những mầm hứa hẹn”(2), hàm ý là khi phê bình cũng phải tìm ra những ưu điểm.

Vai trò của định chế quân đội đối với văn học được nhắc đến nhiều nhất qua hình ảnh vị tướng huyền thoại Nguyễn Sơn. Thanh Hóa giai đoạn này nổi lên như vùng đất hoạt động văn nghệ sôi nổi được bảo trợ bởi tướng Nguyễn Sơn, một vị tướng được ca ngợi là văn võ song toàn và có ảnh hưởng lớn đến văn nghệ kháng chiến. Đoàn Văn hóa kháng chiến liên khu IV do Đặng Thai Mai phụ trách được thành lập ở đây với nhiều hoạt động. Lớp đào tạo văn nghệ được mở ra, nhiều văn nghệ sĩ và nhà văn hóa thành danh như Đặng Thai Mai, Nguyễn Tuân, Tố Hữu… tham gia giảng dạy cho các văn nghệ sĩ trẻ. Những hoạt động này có thể thể hiện vai trò kiến tạo và dẫn dắt của ông với tư cách là một trong những người đứng đầu Liên khu IV. Điều đầu tiên có thể thấy được từ hình ảnh tướng Nguyễn Sơn là sự kết nối giữa nhà nước Việt Nam DCCH và Trung Quốc trong không chỉ quân sự mà còn văn hóa. Những liên hệ và ảnh hưởng về văn hóa chính trị với Đảng Cộng sản Trung Quốc đã diễn ra từ rất sớm, cụ thể là Đề cương của Trường Chinh như đã phân tích ở trên, tuy nhiên, với Nguyễn Sơn, hình ảnh có tính chất đại diện và kinh nghiệm quản lí văn hóa từ Diên An có thể đã được thể hiện trực tiếp. Nhưng mặt khác, Nguyễn Sơn, như được kể lại, là một vị tướng cởi mở về văn hóa, dù sự can thiệp của ông đối với văn nghệ thông qua những ý kiến đột xuất và trực tiếp để lại ấn tượng khá phức tạp. Ông được cho là đã bảo trợ cả văn nghệ sĩ có khuynh hướng trái chiều cùng tham gia cách mạng, và thậm chí đã cho phục dựng những thể loại sân khấu (chẳng hạn điệu múa Xuân Phả ở Thọ Xuân, Thanh Hóa) từng bị phê phán và đề nghị loại bỏ. Có lẽ các nhà văn như Nguyễn Tuân, người bấy giờ còn nhiều máu phiêu lưu nghệ sĩ, Vũ Hoàng Chương, người được kể lại là vẫn còn “say”, cảm thấy được ít nhiều thoải mái trong tầm ảnh hưởng của ông. Hình ảnh vị tướng bảo trợ cho tiếng nói và những biểu hiện có phần nào tự do của văn nghệ sĩ có lẽ đã để lại một dấu ấn lâu dài sau này.

Nhìn chung, sự giao thoa và hợp nhất của các định chế này thường đem đến cảm giác Đảng quản lí văn nghệ sĩ một cách chặt chẽ. Trên thực tế, đây là giai đoạn tranh chấp quyền lực giữa nhà nước Việt Nam DCCH và thực dân Pháp, theo đó mỗi văn nghệ sĩ được quyền lựa chọn tham gia vào lực lượng nào, bằng chứng là có người không chọn tham gia tản cư kháng chiến theo Việt Minh, và cũng có người sau khi tản cư đã rời bỏ chiến khu (“dinh tê”) về thành. Nhưng chính bình diện luân lí cách mạng được cấu trúc như là một phần trong viễn tượng văn hóa đã thúc đẩy các văn nghệ sĩ theo chính phủ cách mạng. Do đó, sự “lãnh đạo văn nghệ”, nếu có thể dùng từ này, được các nhà văn hiểu như là do sự lãnh đạo cách mạng kháng chiến mà cần phải có nền văn nghệ kháng chiến.

H.P.T
--------

1. Theo lời kể của Hữu Loan, “ông (Nguyễn Sơn) đã ra lệnh cấp sinh hoạt phí cho lính văn nghệ gấp đôi lính thường”. Xem: Nhiều tác giả, Tướng Nguyễn Sơn, in lần 2, Nxb Lao động, Hà Nội, 1995, tr.116.

2. Nguyễn Huy Tưởng, “Hội nghị Văn nghệ bộ đội”, Sưu tập Văn nghệ, tập 2, Nxb Hội Nhà văn, 2006, tr.196-197.