. HỒ TẤN VŨ
An ngồi bên bờ ruộng bê bết bùn non ngửa cổ ừng ực uống nước rồi thở hổn hển. Cánh tay mỏi nhừ vì lâu ngày không cầm rựa chặt bờ. Sau lũ, những bờ ruộng toác ra, chảy xệ, cỏ chát vướng đầy tứ hướng nên công việc này là thứ mệt mỏi nhất trong mùa gieo sạ. Nó quyết tâm chặt và hốt hết đám cỏ, đắp lại cái bờ cho thẳng thớm trước khi mặt trời lặn.
Nghĩ đến bữa tối trong căn nhà trống hoác, bếp tro lạnh ngắt, khi mẹ đang ở phố chưa biết lúc nào về, lòng nó chùng lại. Ước gì có bàn tay mẹ với bữa cơm tối nóng ấm mùa đông này thì hạnh phúc biết bao. An từng mơ có người chị hoặc ít nhất một đứa em gái cũng được, cuộc đời nó sẽ bớt phần nào chỏng chơ khi không có bố.

Minh hoạ: Lê Anh
Là nghĩ trong đầu vậy, chứ nó vẫn vung rựa thật cao phập từng nhát sâu vào lòng đất. Nước tóe lên, những con giun đất oằn mình trồi ra, thi thoảng vài con cá lóc nhảy thót lên, lách mình qua luống cày tìm cách chạy trốn. Trời chiều, nước lạnh muốn đóng băng. Lớp đất càng dưới sâu càng lạnh. Hai tay hốt bùn trộn cỏ, An đắp và nắn lại bờ ruộng thật thẳng. Nó xoa xoa lớp bùn như những người thợ xây cho cái bờ bóng loáng mới chịu. Chắp tay đứng nhìn đám ruộng sạch sẽ, tưởng tượng trong đầu ngày những chồi mạ non xanh rờn mọc lên đẹp rạng ngời trong nắng, An bằng lòng sau một ngày nặng nhọc qua đi.
Bữa cơm tối một mình của An chậm rãi trên cái bàn gỗ cũ. Ánh điện nhờ nhờ sáng, mùi cá đồng nướng sực lên khiến cậu càng nhớ mẹ. An tự nhắc nhở mình chưa đến hai tháng nữa thôi, đằng nào những ngày cận Tết mẹ cũng về. Mà mẹ về, anh chị con cậu Hai, con dì Ba cũng về. Rồi hàng xóm này, rất nhiều người về. Người Sài Gòn, Đà Nẵng… tứ xứ lần lượt tìm về quê. An sẽ gặp lại chị Hương, anh Chín, em Lỳ, bạn Dũng, con Tâm… mấy người bỏ quê lâu lắc không biết còn nhớ An không? Em Lỳ chắc hẳn nay đã lớn, có lẽ thành thiếu nữ rồi. Đôi gò má phúng phính của nó nay chắc biết thoa phấn và kẻ thêm son môi cũng không chừng. Ăn cơm thành thị mà, ai cũng trắng da dài tóc, cũng đẹp ra. Chị Hương chắc chưa cắt mái tóc dài ấy đâu nhỉ. Ước gì chị cứ để mãi mái tóc đen huyền đó bay bay ngược trong nắng xuân. Trời ơi, nhớ làm sao cái mùi bồ kết chị gội mà mỗi lần ngang qua thơm đến độ muốn nhắm mắt lại hít một hơi dài. Không, đó có lẽ là cái mùi con gái khi chị là thiếu nữ. Nói ra thì dị hợm và thô lỗ nhưng nó vương vấn ghê lắm. Mùi hương tóc, mùi con gái chưa chồng ma mị như bị ám. Ngây ngất đến độ An phải bẽn lẽn ôm thứ hương yêu đó giấu vào chiêm bao. Nghĩ đến những ngày tháng đó, lòng An lại rộn lên nỗi chờ mong khó tả.
Nhưng thứ An ghét nhất của ngày tết là gặp ai, nhìn ai cũng xinh, cũng đẹp, cũng mới mẻ, rạng ngời. Chỉ riêng An là cũ kĩ, quê mùa, gần như vĩnh cửu. Nhìn An người ta cứ nhớ đến hòn đá tảng giữa cánh đồng trơ trọi gần như không cảm xúc. Bao mùa xuân, mưa gió, hoa nở hoa tàn, nó cứ đứng trơ ra đó, xám xịt, ủ ê…
Cơm nước xong, An ra võng trước hiên nằm ngước nhìn bầu trời đêm lưa thưa những vì sao xa tít. Những đám mây đen ngòm ưỡn ngực như nuốt chửng ánh trăng yếu ớt le lói rọi xuống hàng cau.
An ấn điện thoại gọi cho mẹ. Cậu dặn mẹ tết về nói con cậu Hai, những bộ áo quần nào còn mới không mặc thì cho An xin vài bộ. An rất thích đôi giày thể thao của anh Bốn. Đôi giày đen có đế màu trắng mềm, mang nó với quần jeans, áo thun, diện vào le te với mấy đứa con gái xóm. Nhưng thích là thích vậy thôi chứ nhỡ anh Bốn không cho hoặc đôi giày đắt tiền quá thì làm mẹ khó ăn, khó nói.
Rồi An nghĩ thầm, người ta ở phố mặc gì cũng đẹp, cũng sang, cũng hợp gu, mình khoác mấy cái đó lên người liệu có ra hồn gì không hay chọc cười cho bà con chòm xóm. Quanh năm, ngày nào cái quần tà lỏn, áo bạc màu vai sờn đi chặt củi, làm ruộng, cắt lúa, nhổ cỏ, chặt keo... làn da ngăm bóng như da trái bòng quân của mình liệu có hợp với mấy thứ đó. Nghĩ chừng ấy thôi, tự dưng An muốn co rúm người lại. Mình đang làm gì thế này? Tết ơi là tết. Cái phận của mình dù có phủ vàng ròng từ móng chân đến đỉnh đầu cũng chẳng bù được.
Một con muỗi chích qua lớp áo phía dưới lưng làm An giật nảy người. Những ý nghĩ vui buồn đang trộn lẫn bay biến. Trăng trên đầu lúc mờ lúc tỏ theo những đám mây che cao vút. Xa xa cuối thôn, tiếng chó sủa hòa trong tiếng xe máy của mấy cậu choai choai nẹt pô. Hàng cau vẫn đứng im trong khoảng không mênh mông không gợn gió, nó như trơ ra lắng nghe nỗi lòng chát đắng của An trong những ngày chộn rộn.
*
* *
Hai ngày sau, An gánh đôi thúng chứa đầy lúa giống đã nảy mầm ra đồng gieo sạ. Lúa giống ẩm nóng, ngậy lên thơm là lạ. Mặt ruộng lúc này vừa bừa xong phẳng lì, làn nước đứng im trong suốt đến độ cả cánh đồng chẳng khác nào chiếc gương khổng lồ cho những đám mây bồng bềnh soi. An gieo xong hai ang lúa giống thì ra về. Bờ ruộng lúc này đã khô thêm, những nơi An xoa bùn nay đã cứng lại, đất mềm một màu xám như chiếc bánh đa của ngoại nó gói ngày Tết.
Nay, thêm một bữa tối An nằm trên chiếc võng đu đưa suy tư về ngày tháng sắp tới. Nó lại ước gì lúc xưa cha mẹ sống thật thuận hòa để cha đừng bỏ nhà mà đi biệt...
Thời gian luẩn quẩn, lặp lại cuốn đi. Hai tuần sau, lúa đã lên xanh. Thân lúa gầy nhom thẳng đứng cao chừng nửa gang tay. An nghĩ chừng hơn một tháng nữa thôi là nó trổ đòng. Đó là lúc cánh đồng đẹp nhất, cũng là thời điểm đất trời sang xuân, mọi thứ giao hòa từ làn gió tới cành hoa, từ con chim đến sợi nắng, từ áng mây đến đỉnh núi, mọi thứ đẹp đến mức con người không làm sao mà cáu kỉnh với nhau được. Người ta bảo lúa đang thì con gái đẹp, không những đẹp mà còn biết khép nép đợi chàng trai như đợi cơn gió xuân để cùng hát khúc hoan ca.
Nhưng rồi An sững lại, nhìn mình, nhìn lại mái nhà, tấm phên che tôn, cả cái bàn thờ ông bà ngoại nữa, mọi thứ hiu quạnh đến nghẹn ngào. Nghĩ đến lúc tết, người ta thăm nhau, chúc vài câu, thắp nén nhang lên bàn thờ thôi mà đầy ám ảnh. Nhà mình phải có chút gì đó dọn ra chứ, nào là bánh mứt, hạt dưa, không có bia thì li rượu với chiếc nem chả..., đằng này mọi thứ vẫn trống trơn, mà hi vọng tất cả ở đôi vai của mẹ thì thật là tệ. An nghĩ mình chẳng ra làm sao cả. Ước gì lúc nhỏ được đi học, được mạnh khỏe, vai dài lưng rộng và cái chân không cà kheo như thế này có phải được việc hơn không. Nghĩ đến đó, An lại trách phận mình, trách đời mình chẳng may mắn. Tết thì đẹp đấy nhưng ngặt nỗi năm nào mẹ cũng than ngắn thở dài, có năm mẹ sợ cái tết đến độ thốt nên lời. Mẹ nói cái kiểu như: “Gạo tháng giêng, tiền tháng chạp”, “Khổ trăm bề, sao mà đang yên đang lành tự nhiên tết đến”, “Ước gì một năm đừng có hai cái tháng chạp và tháng giêng…”.
Biết đi đâu làm gì cho ra tiền bây giờ? Không thể đóng cửa bỏ cái nhà hoang lạnh này, bỏ luôn bàn thờ ông bà mà đi. Nhưng mà đi đâu, làm thứ gì, làm cho ai? Tất cả dường như quá sức với An. Nghĩ đến đó, An lùi lại, hít một hơi thật dài. Thôi, tìm về giấc ngủ là thượng sách. Và kiểu gì thì tết cũng đến như mọi năm thôi, mùng một đi thắp nén nhang ông bà ngoại ở bìa rừng rồi về nhà đã trưa, ăn gì đó rồi kéo chăn ngủ. Buổi chiều đừng đi đâu cả, đợi tối xuống thì khoác cái áo lang thang, bởi bóng đêm chẳng ai thấy mình ra sao và chẳng ai dòm kĩ mặt mình, mình mặc áo gì, quần gì, giày vớ ra sao, chẳng ai biết để hỏi han, phán xét. Đi dạo một vòng quanh thôn, đứng nhìn từ xa, đứng chỗ đèn mờ, nơi bóng râm, đừng ra chỗ ánh sáng là được, đứng đó có thể quan sát tất cả. Tết chẳng phải chỉ chừng đó chuyện hay sao, năm nào chẳng vậy, đám choai choai tụm năm, tụm bảy bầu cua, đánh bài, uống rượu hát hò, chọc gái. Đám con gái diện áo váy sặc sỡ tay cắn mớ hạt dưa, hạt hướng dương, nói dăm ba câu rồi chọc nhau cười chí chóe. Cậu con trai nhà nào khá hơn chút thì cưỡi xe rảo quanh thôn tán tỉnh. Gần đây, người ta ở phố lái ô tô về nhiều nhưng ô tô thì kệ, ai biết ai. An thấy mình vô vị, như người đứng bên lề giữa chính quê hương, giữa thời cuộc…

Minh hoạ: Lê Anh
Ba mươi tết. Chính quyền thôn huy động toàn dân dọn dẹp vệ sinh đường làng. Mọi người rôm rả lắm, trông mặt ai cũng phấn chấn. Người quét rác, người chặt các cành cây, dây leo vướng víu, người xúc lớp bùn non đã khô dính dẻo quẹo trên nền đường bê tông, người dùng chổi rang quét lớp lá tre khô sạch bóng. An cầm cái rựa cắt lại hàng rào bằng chè tàu thật thẳng. Mấy sợi tơ hồng cứ bám riết le hoe tràn lên phủ kín bờ rào. An nghĩ mẹ sẽ khen nó thật nhiều về sự quán xuyến công việc nhà cùng việc đồng áng. Nhưng trong lòng An, nỗi buồn ngày tết cùng những lo toan cứ chộn rộn khiến con người nó ngây ngây đầy mâu thuẫn, bất lực.
Chiều đó, mẹ trở về trên chiếc xe đi ghép với mấy người làng bên. Xe đỗ ở cái quẹo ngay lối vào ngõ nhỏ. An vừa đi vừa chạy ra ôm lấy mẹ rồi khệ nệ xách mấy cái bao tải vào nhà.
“Anh Bốn con bác Hai gởi cho con đôi giày, cả mấy bộ quần áo theo yêu cầu của con đây. Năm nay anh mi làm ăn được nên mua đồ mới gởi cho con đấy. Nó bảo mẹ không nên gửi đồ cũ cho mày. Mày thấy nó thương mày chưa?”
“Dạ con biết rồi. Con cũng quý anh Bốn và mấy anh chị con bác Hai mà mẹ. Các anh chị thật tốt bụng.”
“Đồng lúa thế nào, năm nay chuột có cắn đòng không? Mong nắng thêm mấy ngày nữa cho lúa trổ đòng, đừng có mưa phùn mà lép hạt.” - Mẹ An vừa nói vừa móc tất cả vật dụng trong các bao tải ra ngoài.
“Con rào chắn, đào hang, bỏ thuốc hết rồi, chuột không chạy vào cắn lúa được đâu. Mà anh chị khi nào về thăm quê hả mẹ?”
“Chưa biết. Chắc là cận ngày kia. Người ở phố cũng bận đến ù tai chứ mẹ thấy chả sung sướng gì. Sáng sớm đã ra khỏi nhà. Tối mịt mới về, người mệt mỏi đứ đừ. Ăn vội rồi ngủ. Ngày nào cũng như thế. Thấy thương mấy đứa đó lắm. Người quê có khi sống thong dong hơn.”
“Do họ không có việc làm thôi mẹ ơi. Đồng áng chỉ bận mấy ngày sạ, ngày gặt. Xong biết làm chi. Làm ít thì tiền cũng ít. Ngồi không cũng buồn lắm!”
Lâu lắm rồi An mới được ăn bữa cơm mẹ nấu. Nó thấy trong lòng ấm lại giây phút mình chờ mong. Mùa xuân đây chứ đâu. Tết là để được nhìn thấy dáng mẹ quanh quẩn trong căn nhà này. Dù nhà có xuống cấp, mái tôn có xập xệ bao nhiêu đi nữa thì xuân vẫn chào đón thứ ánh sáng đó, ánh nắng đó, cơn gió và những nhành hoa khẽ rung với tất cả mọi người. Lòng An như có điểm tựa yên lành.
Mẹ An dọn ra nào bánh mứt, hạt dưa, những giỏ quà tặng của gia đình cậu Hai gửi về. An bắt lại mấy cái bóng đèn nhấp nháy, bàn thờ ông bà ngoại lung linh hẳn lên. An liếc nhìn di ảnh của bà ngoại. Môi mắt đến mái đầu giống hệt mẹ. Chắc bà ngoại chụp bức chân dung này ngày bà tuổi bằng mẹ bây giờ. Tự dưng một luồng mồ hôi lạnh toát chạy dọc sống lưng. Mẹ ơi! Một ngày nào đó con cũng sẽ lau chùi di ảnh của mẹ hay sao? An chợt khựng lại, mắt nhòe đi.
“Tháng giêng mẹ tính ngày nào thì đi lại? Nhà cậu Hai có cần mẹ ra giúp sớm vậy không?” An hỏi rồi chăm chú nhìn dáng mẹ.
“Chắc mẹ ra sớm. Ở phố người ta tới cơ quan đi làm sớm lắm. Nhà cậu con lại khách khứa tới thăm đầu năm đông đúc nên cần mẹ.”
An lặng thinh không hỏi gì thêm. Bóng đêm đổ dài loang loáng ra trước ngõ. Màu tím sẫm của bờ rào ngăn cách với con đường bê tông trở nên im lìm bất chợt…
*
* *
Mùng một, trời đột ngột trở rét. Những cơn mưa phùn lâm thâm ủ ê phủ đầy mặt đất khiến các ngọn cỏ non run rẩy. An cùng mẹ đội nón lá đi ra bìa rừng thắp hương trên mộ ông bà. Trên cánh đồng, các bờ ruộng, những tà áo xanh đỏ, những chiếc ô rực rỡ sắc màu của nhiều gia đình tíu tít đi thắp nhang ngày tết. Từng nấm mồ thoang thoảng mùi hương bay làm cho đất trời, cánh rừng như ấm lại. An cắm cây nhang trên mộ bà ngoại nguyện ước một năm thật bình an, mong mẹ An mạnh khỏe. Cầu cho cuộc sống của nó bớt nhọc nhằn. Bỗng dưng An sợ những ngày tết vụt qua. Sợ cảm giác tiễn mẹ ra đầu ngõ. Sợ cái chênh vênh trong căn nhà này và cả sự cô độc của một năm dài đằng đẵng.
Chiều hôm kia An thấy con Lỳ mặc chiếc váy trắng xòe rộng phía dưới như nàng công chúa ngang qua đầu thôn. Hình như có ai chở nó, chắc Lỳ đã có người yêu. Chị Hương cũng đã về nhưng lạ lắm. Mái tóc dài bay biến đâu mất. Thay vào đó là cái đầu xù cắt ngắn xoắn tít bờm xờm như sợi mì gói. Anh Chín chở chị Hương trên chiếc ô tô màu trắng biển số miền Nam. Gặp ai anh cũng bắt tay cười nói huyên thuyên chuyện phố, chuyện quê.
Dì Bảy, dì Năm, dì Tám đi chợ về rồi cứ đứng mãi ở đầu làng hỏi thăm hết người này đến người kia mà chẳng chịu về nhà nấu cơm trưa. Bà nào bà nấy quấn điếu thuốc lá to gần bằng điếu xì gà, hôi rình, phì phà khói như con tàu hơi nước. Lâu lâu nhổ toẹt một bãi nước bọt rồi cười khì. Mấy hàm răng vàng ệch nhựa thuốc. Chuyện kể thì không bao giờ dứt, hình như chuyện một năm qua mấy bà dồn hết trong chiều cuối năm. Tết mà, phải nói cho hết chuyện rồi năm mới nói chuyện mới. Câu chuyện đúc kết lại ở đầu làng trước khi chia tay của các bà là túng bấn, than vãn năm nào cũng thiếu, vấn đề muôn thuở của tháng chạp.
Mặc bộ áo quần mới cáu, đôi giày mới của anh Bốn, An bước ra ngõ đi về phía đầu thôn. An không ngủ vùi ba ngày tết như dự định mà tự thôi thúc mình bước đi. Mẹ nhét mấy tờ giấy bạc mới keng của anh chị, cậu Hai lì xì đầu năm vào ví cho An. Cậu đi chậm để cảm nhận từng bước chân của ngày mới. An vẫn vậy, không tự tin được dù cố ra dáng một con người mới keng từ đầu tới chân. Lạ thật, có cái gì đó vướng víu từ bên trong không tả được, nhất là mấy người quen thấy An đi qua cứ ồ lên, mắt trô trố, tay che miệng cười, họ nhìn cậu từ đầu đến chân. An lại càng mất tự tin nhưng cậu vẫn bước tới. Điều gì đã làm mọi thứ trở nên xa lạ, cái cảm giác mà chỉ mấy ngày trước thôi mình háo hức chờ đón là đây sao, nó giờ đang ở đâu?
Mẹ vẫn ở nhà nấu cơm ngày ba bữa cúng ông bà ngoại. Có vài người quen trong xóm đến thăm, mẹ tiếp chuyện rồi quẩn quanh với cái sân, khu vườn và gian bếp. An để ý người duy nhất nhìn cậu thật lâu, khen ngợi đôi giày và bộ áo quần vừa vặn là mẹ. Ngày ba rời khỏi nhà, An tròn sáu tuổi, vừa vào lớp một. Mười tám năm qua, mẹ không nhắc về ba mà chỉ nói về ông bà ngoại. Cái chân khập khiễng sau một lần tiêm thuốc khiến mẹ đau nhói lòng. Những ân hận, bù đắp, những chăm nom sau đó, có nhiều bao nhiêu mẹ vẫn thấy thiếu, thấy nợ với giọt máu của mình một hình hài nguyên vẹn.
Đến mùng hai, người ta đổ ra đường nhiều hơn. An thay bộ áo quần mới khác và đi một vòng quanh thôn nhưng không dám ghé nhà ai cả. Mẹ vẫn dặn cậu không được vào nhà người ta trong năm mới nhưng không nói rõ nguyên nhân từ đôi chân của cậu. Bà sợ những chông chênh đến với các gia đình nào đó rồi đổ lên đầu con trai bà. Làng quê này vẫn tồn tại những câu chuyện tào lao như vậy hàng trăm năm chưa dứt. Thứ mê tín lạ lùng.
Sang đến mùng ba tết, người ta họp chợ. Mẹ cắp giỏ đi mua cá mương, muối, rồi mua mớ rau.
Mùng bốn các làng ven sông tổ chức đua ghe.
Mùng năm thanh niên các thôn tổ chức thi bóng đá. Và cứ thế, tháng giêng ngợp trong các sự kiện giữa các làng và quanh mé sông.
Mùng bảy tết, mẹ thức dậy nấu cơm từ lúc gà gáy sớm với rất nhiều món mà An thích. Bà dặn dò An đủ thứ trên đời này trong bữa ăn trước khi ra xe trở lại phố. An ôm gói đồ nhẹ tênh tiễn mẹ lên xe. Cậu muốn ôm mẹ một cái nhưng ngại ngùng quá. Cứ đứng tần ngần ra đó, nhìn dáng mẹ lui cui bước vào trong xe rồi khép cửa. Cậu vẫy vẫy tay chào mà nước mắt muốn trào ra, cái gì đó nghèn nghẹn ở cổ. Chiếc xe khuất dần sau dãy bờ rào tre, băng qua cây cầu hẹp rồi mất hút. An bước chậm trên con đường bê tông về nhà. Nước mắt tự rơi ra, nhỏ giọt xuống ngực áo, xuống gò má gây ngứa ngứa nhưng nó chẳng thèm kéo áo chùi. An cứ để vậy cúi đầu bước đi…
*
* *
Sáng hôm sau, mặt trời lên khỏi ngọn tre, An vác cuốc ra đồng thăm đám ruộng. Lúa đã khép đòng và mặt ruộng vẫn còn se nước. Mấy con cá rô ăn bông lúa mập ú lạch đạch bò dưới vũng bùn sắp khô. Cỏ non đã mọc trên mấy ụ bùn An đắp bờ ngày trước. Những cơn gió đã thôi buốt giá cứ rì rào thổi làm cong cong ngọn lúa. An thấy tự mình vui với chính mình. Sự lạ lùng tưởng đầy mâu thuẫn trong An không biết có tự khi nào. Giữa lúc một mình, tưởng rằng sự cô đơn sẽ lên tột đỉnh, An sẽ gục ngã, nhưng không, ngược lại, An thấy bình yên vô tận. An còn phát hiện ra rằng không có cậu thì bông lúa non này vẫn ve vẩy như vậy. Mẹ đi rồi, cậu trở lại những ngày tháng không xáo trộn. Những cuộc vui, những ánh nhìn, những nụ cười, cả mùi hương tóc đều vô nghĩa.
Tháng giêng, mây sớm vẫn còn vờn trên đỉnh núi, lần lượt những người trong làng khăn gói ra đi. Những bà mẹ nước mắt ngắn dài tiễn con đầu xóm. An vẫn đứng đó, thi thoảng bắt gặp những giọt buồn đưa tiễn, nhưng lòng An không còn cảm xúc nữa. Mọi thứ như trôi tuột theo dòng nước qua cầu.
Mẹ đi rồi mùa xuân cũng lướt qua trước mặt. Xóm làng trở lại bình yên, trong An một trận bão lòng vừa tan. Đêm đó, An lại tìm đến chiếc võng đu đưa dưới mái hiên. Trăng rằm tháng giêng soi vằng vặc xuống hàng cau, ánh trăng như chảy tràn vào An một tình thương tha thiết với mảnh đất này. An nhớ cây lúa non ngày nào mới gieo giờ đã trưởng thành, cho bông, ngậm sữa và sắp cho hạt. Chẳng có ngọn gió nào làm cây vui, cũng không có ánh trăng nào làm cọng lúa buồn vĩnh cửu. Lúa tự lớn lên đời mình, tự tựa vào đất sâu mà chống chọi, gượng cười.
An xếp mấy bộ quần áo mới, đôi giày của anh Bốn bỏ tất cả vào trong chiếc rương cũ. An bỗng thấy mình nhẹ đi, quên hẳn những ánh mắt, nụ cười và cả những xì xầm ngày tết. Cậu ngửa bàn tay để ánh trăng chiếu vào. Những ngón tay sờn gai góc, vài chỗ chai sạm, sấp ngửa bàn tay đen trắng rất rõ ràng. Cậu ấn vào để cảm nhận cơn đau. Rồi cậu cười một mình khùng khục như đứa trẻ trong đêm. Thì ra, giờ này mọi người ai về chốn nấy, có ai nhớ, ai quên đất này. Nhưng dù thế nào thì mùa xuân vẫn đến, mùa xuân là khi bông lúa tự trổ đòng, tự lớn lên, rồi một mình cười hóng gió…
H.T.V