. TRỊNH HÒA BÌNH
Ngày… tháng 8, năm 1972:
Bãi Hà nằm lặng lẽ giữa rừng già miền Tây Vĩnh Linh, không biển, không phi lao, không có những cơn gió mặn thổi ràn rạt như phía Đông, mà thay vào đó là vòm xanh bát ngát của rừng cổ thụ, mùi đất ẩm trộn lá mục và tiếng chim kêu xa như vọng từ một miền cổ tích nào đó. Nếu ai không biết, sẽ không thể tưởng tượng được nơi yên bình ấy từng chứa hàng sư đoàn, hàng vạn con người, súng ống, quân tư trang… sắp bước qua ranh giới của sự sống và cái chết.
Tiểu đoàn dừng lại ở đó lúc quá nửa đêm. Chiều tối hôm qua, chúng tôi hành quân từ Cự Nẫm vào bằng xe ô tô. Xe dừng, anh em nhảy xuống rũ người, bụi bay lả tả. Cậu Nhân nhe răng cười, hàm răng lấp lánh ánh trăng:
- Hì. Thế là đến nơi. Nhẹ cả cái con người
Cậu Trung vừa khạc nhổ vừa lầu bầu:
- Còn lâu mới đến nhé. Chắc còn đi chán.
Đám lính ba lô súng đạn lục tục xuống xe, nói chuyện vui vẻ như kiểu vừa đi xem trận bóng đá giữa đội Thể công và Công an Hà Nội về.
- Các cậu thấy không, lúc chiếc máy bay lướt qua đầu ý, tớ lại cứ nghĩ sao lại có chiếc thuyền to bơi ở trên ấy thế. Mãi đến lúc nó bắn đùng đùng mới ngớ ra. Mà khiếp, nó bắn đạn gì ấy nhỉ? Tiếng nổ cứ ù ù như xay lúa, lại toang toác như cây nứa bị chẻ đôi.
- Ừ. Đạn nó bắn kinh thật đấy. Sáng cả một góc trời.
- Tớ cũng hãi. Đang ngủ thì giật mình. Chúi xuống thì phải bãi nước của cậu Vân. Hình như nó đái dầm.
- Điêu. Tớ vừa uống nước, chưa kịp vặn nắp thì cậu chúi vào đít tớ. May mà tớ không đánh rắm… Ha ha.
- Có đứa nào để ý cái xe bị sệ ven đường không. Hình như xe của cánh Tiểu đoàn 60. Tớ thấy mấy người nằm dưới đất. Có vẻ như bị thương.
- Ừ. Không khéo lại trúng đạn của thằng máy bay bắn hú hoạ.
- Tối quá. Tớ ngồi mé bên này nên chả thấy gì.
Tôi nhìn anh Hùng “già”. Anh vừa xốc ba lô vừa lắc đầu tủm tỉm.
Giao liên cũng vừa tới để dẫn mọi người vào nơi trú quân. Đó là một cô gái có dáng người chắc nịch, bộ quân phục đã cũ nhưng sạch sẽ thoảng ra một mùi hương con gái. Những chàng lính tinh nghịch im bặt. Vài người lấy tay phủi lớp bụi đường bám trên áo. Người sốt nhẹ, người trẹo chân, người ngủ gục khi vừa đến nơi đều tự nhiên tươi tỉnh khoẻ mạnh trở lại. Cô gái, giống như một lòng bàn tay dịu dàng, một hơi thở cuối cùng của hậu phương, đầy cỏ xanh, ánh lửa ấm cúng, và những làn gió mát rười rượi thổi từ bến sông lên…
Đại đội theo cô giao liên đi sâu vào trong rừng. Tối quá. Lớp lá rừng dày dặn đã che hết ánh trăng. Có tiếng lẩm bẩm chửi thề của ai đó vấp vào rễ cây. Vài anh lính lấy bật lửa ra quẹt nhẹ để lấy ánh sáng. Quẹt nhẹ vừa đủ để thấy đường trong giây lát rồi bước tiếp, chứ không để lửa cháy. Rồi những người khác cũng bắt chước. Ánh sáng lập lòe như những con đom đóm. Đi qua một cái khe nhỏ, cô giao liên nói: “Đại đội các anh đóng ở đây”. Bên kia khe là một cái lán nhỏ, mái thấp tè. Có ánh đèn dầu vàng vàng leo lét ở trong đó. Tôi ước gì mình được chui vào cái lán ấy, duỗi thẳng cẳng mà đánh một giấc.
Đó là một khoảnh rừng rộng khá bằng phẳng với những gốc cây lớn. Chúng tôi bắt đầu hạ ba lô, mắc tăng võng để nghỉ ngơi. Công việc này đã quen thuộc nên chẳng mấy chốc đã xong. Tôi cũng cẩn thận làm thêm cái giá để ba lô. Mùa này hay mưa bất chợt, ba lô không có giá thì sẽ ướt hết. Dù rằng đêm nay trời rất trong, ánh trăng vẫn xuyên qua kẽ lá, nhưng cẩn thận thì vẫn hơn. Xong xuôi, tôi vạch màn trèo lên võng, cởi dép xoa chân cho sạch rồi nằm xuống. Một đêm hành quân trên xe, lính tráng bị xóc như rang lạc, giờ được nằm duỗi cẳng thì còn thú vị gì bằng? Giấc ngủ đến rất nhanh, chưa kịp mộng mị gì thì đã có một cái lắc nhẹ bên cánh võng:
- Dậy. Hai anh em mình đi đón xe của đơn vị bị lạc.
Anh Thoại sẹo đã ở đó từ bao giờ, nói có chiếc xe của trung đội nào đó đến sau.
Chúng tôi lần theo lối cũ để đi ra bìa rừng. Trăng rất sáng trên đỉnh đầu, rọi một màu xanh trong vắt lên mặt đất. Có tiếng con chim gì đó kêu vọng lại đều đều, buồn bã. Bây giờ tôi mới để ý, hoá ra chỗ đổ quân khi nãy chả bằng phẳng tẹo nào. Một vài hố bom còn mới và những thân cây đổ ngổn ngang. Những vết bánh xe chứa đầy bụi đất, một thứ bụi mịn giống như dạo chúng tôi hành quân qua Hà Tĩnh, nó mịn như bột mì ấy. Bây giờ đang cuối mùa khô, đôi khi những cơn mưa vẫn bất chợt ùa đến. Vậy mà bụi mịn thế này chứng tỏ lượng người và xe ra vào là rất nhiều. Hai anh em ngồi trên một thân cây đổ, cạnh hố bom chờ đợi. Anh Thoại lột cái mũ tai bèo trên đầu xuống, dùng mũ lau mặt, rồi ngồi chống tay, hai vai so lên, cổ thụt xuống. Nhìn khuôn mặt dài ngoằng hình lưỡi cày với cái sẹo phập phồng nơi thái dương của anh thật buồn cười. Chẳng biết anh đang nghĩ gì trong một đêm tĩnh mịch như thế này? Tôi thì chẳng nghĩ gì. Sức trẻ, sau một đêm quăng quật trên thùng xe tải, chỉ cần hít một hơi thật sâu căng lồng ngực đã thấy mình khoẻ trở lại.
Bất chợt, có tiếng rít như xé vải trên bầu trời, rồi tiếp đó là tràng tiếng nổ lốp bốp. Tôi ôm súng lăn xuống hố bom. Nhìn sang đã thấy ông anh nằm bên cạnh. Cả hai nín thở chờ đợi. Nhưng tiếng máy bay nhỏ dần rồi mất hẳn. Vài tiếng bom ở đâu đó vọng đến. Hóa ra cũng chỉ là một loài ăn sương, hú hét vớ vẩn. Không gian trở lại yên tĩnh. Hai anh em đứng dậy, phủi bụi đất trên người. Rồi chiếc xe đi lạc cũng đến. Cái thành gỗ bên hông phải xe toác ra, run run. Nó dò dẫm loay hoay hết tiến lại lùi để tránh mấy thân cây đổ và hố bom. Mỗi lần dừng, tiếng phanh hơi nghe như tiếng thở phì phò của con trâu đang cày, đèn đỏ phía đuôi xe lại chớp chớp đỏ rực. Anh Thoại sẹo hét lên:
- Cắt phanh đi. Lái xe chiến trường bao lâu rồi mà ngu thế?
Chiếc xe dừng hẳn, thành xe phía sau được hạ xuống. Những người lính cũng lần lượt xuống xe. Tôi gắng tìm một khuôn mặt quen thuộc, nhưng không thấy ai. Đó là những người lính của tiểu đoàn 60. Có lẽ đây là chiếc xe bị trúng đạn của thằng C130 bắn vu vơ hồi đêm. Anh Thoại sẹo chạy lên đầu xe, chỗ buồng lái, rít giọng:
- Cậu lái vào đây mấy chuyến rồi?
- Em đi chuyến đầu.
- Xe bị thương hả?
- Vâng. Trúng đạn lúc trên đường. Có ba anh bị thương. Phải gửi xe đi ra rồi ạ.
Tiếng anh Thoại sẹo dịu lại:
- Giờ, cậu xuống tháo cái đèn phanh ra. Cứ để nó chớp chớp thế thì lộ hết. Máy bay nó đánh cho thì mất xác. Với lại, chạy đường này cần đếch gì đèn phanh.
Trời cũng sáng dần. Chiếc xe được hướng dẫn giấu vào khu rừng bên cạnh. Chúng tôi cũng quay trở lại khu vực đóng quân của đơn vị mình. Tôi gác súng lên giá, rồi trèo lên võng. Giấc ngủ đến thật nhanh và thật sâu.
Hóa ra chiếc lán mà tôi thấy hồi đêm là của mấy o thanh niên xung phong. Lán trại ở đây được dựng thấp, ẩn mình dưới tán cây. Đơn vị thanh niên xung phong phục vụ ở đây đa phần là nữ, những cô gái mười bảy, mười tám tuổi, người Nghệ Tĩnh, người Quảng Bình, Vĩnh Linh… Những giọng nói thoạt như chim hót, rồi đằm lại như lời hát ru khiến lính tráng ta cứ ngẩn cả người. Các cô biết thế lại càng nói nhanh hơn, rồi rũ ra cười. Họ khiêng gạo, gùi đạn, nhóm bếp, lọc nước suối bằng khăn, thỉnh thoảng lại cười lên khe khẽ như gió động đầu cành.
Từ sáng sớm, máy bay trinh sát OV-10 đã quần thảo trên đỉnh rừng, ngó nghiêng soi mói. Phía dưới, hoạt động của trạm khách vẫn diễn ra tấp nập. Chẳng ai để ý quan tâm đến sự có mặt của nó. Vài người lính trẻ nằm trên võng mắc bên gốc lim già, nghe tiếng kêu o o của chiếc máy bay thì cũng cố nghển cổ nhìn qua kẽ lá mà chả thấy gì. Binh trạm này thật rộng. Không biết đã có bao nhiêu đơn vị từng đi qua đây. Tôi nhìn những vết buộc võng chai sần trên thân cây, không biết thân cây nào anh trai tôi từng buộc năm 1967 khi vào Nam?
*
* *
Hôm nay chúng tôi đi nhận thêm quân trang, vũ khí đạn dược và lương thực. Tất nhiên từ lúc ở Hà Tĩnh chúng tôi đã nhận đủ rồi. Nhưng giờ binh trạm vẫn phát thêm. Tôi chỉ xin thêm cuộn dây dép cao su. Lúc ngang qua quầy quân trang, cô gái cấp phát cứ nhìn chăm chăm rồi gọi vào đưa cho hai cái áo cộc tay với hai cái quần đùi có dải rút. Ngượng, nhưng vẫn giơ tay nhận. Mà lạ, có cảm giác như đã gặp cô ấy ở đâu rồi. Đi rồi mà đầu óc cứ vương vấn mãi. Quá trưa, lúc đang húp miếng canh ruốc nấu với lá bứa thì chợt nghĩ ra, vỗ đùi đánh bét một cái làm cả tiểu đội trố mắt. Đấy là chị Quý, chị gái của thằng Sơn híp bên phố Lê Quý Đôn. Chị ấy đi bộ đội đã mấy năm, từ lúc tôi với Sơn còn là những thằng trai suốt ngày lê la trên sân bóng. Thằng Sơn kém tôi hai tuổi, nhưng hai đứa toàn mày tao quen mồm. Cơm nước xong xuôi, tôi lần mò ra chỗ phát quân trang lúc sáng để tìm chị Quý. Cả dãy lán vắng lặng không bóng người. Trên những cái sạp đan bằng nứa, những bịch đồ được xếp gọn gàng cao tận mái lán. Tôi cứ đứng ngẩn ngơ ở đấy, không biết phải làm gì. Bỏ đi thì sợ không gặp được chị. Mà chờ thì không biết đến bao giờ…
Bỗng tôi nghe có tiếng gọi ai đó gọi nhau ở gần bên:
- Lâm… Có phải… Lâm Trỗi không?
- Ô kìa… Phương à? Sao cậu lại ở đây?
Sau tôi mới biết, hóa ra người lính trẻ ấy tên Lâm, ở đại đội 51, quê Hà Nội. Anh đang trên đường vào chiến trường, tóc như vẫn còn thơm mùi hoa sữa. Khi anh đến khu lán, một cô gái đeo khăn rằn đen trắng đứng phát quân trang nhìn anh sững lại. Họ đứng đối diện nhau mấy giây, như gió ngừng qua kẽ lá.
Phương là bạn học cùng lớp với Lâm hồi cấp hai, ở trường Trưng Vương. Ngày đó, Phương trắng trẻo, viết chữ đẹp, hay được gọi lên bảng trong giờ giảng văn. Chẳng ai nghĩ cô lại có ngày gùi gạo, vác nồi gang, đứng giữa rừng già cấp lương khô cho bộ đội đi B. Phương cười mà mắt hoe đỏ:
- Tớ ở Bãi Hà từ đầu năm. Trước khi vào đây, tớ có qua nhà lũ bạn học để chia tay. Qua cả nhà cậu, mà gia đình đi sơ tán hết cả. Lại nghe hàng xóm nói cậu cũng đã nhập ngũ, đang huấn luyện mãi trên Hoà Bình. Đơn vị tớ toàn nữ, toàn con gái với súng đạn. Mỗi khi có đoàn quân vào, bọn tớ lại thấy như có làn gió mới… Tớ cứ ngóng, biết đâu sẽ gặp cậu hoặc ai đó quen trên đường vào. Vậy mà gặp cậu thật.
Tôi để ý Lâm nheo mắt, ngắm nhìn cô bạn học. Hẳn Phương khác ngày xưa nhiều, khi mà tóc cháy nắng, cánh tay sạm nâu. Nhưng tôi đoán đôi mắt ấy, đôi mắt từng cúi xuống bàn học những trưa mùa thu, giờ vẫn long lanh, nhưng có gì đó đằm lại, như ai đó đã chôn một khúc hát vào tim mà chưa cất lên.
Tôi đứng nghe câu chuyện của Lâm và Phương. Họ líu ríu kể chuyện với nhau, nhắc lại những kỉ niệm cũ.
Rất lâu sau, tôi mới ngắt lời đôi bạn để hỏi thăm về chị Quý, thì được biết trưa nay chị đi công tác trên đoàn bộ, chắc phải tối muộn mới về.
*
* *
Chiều rừng xuống thật nhanh. Ánh hoàng hôn vỡ vụn, đọng lại trên những phiến lá, rồi tỏa một thứ ánh sáng dìu dịu xuống mặt đất. Từng nhóm lính đi tắm suối về, tóc còn ướt, vừa đi vừa tán chuyện. Những bộ quần áo đầy bụi đất được giặt sạch sẽ phơi trên những sợi mây rừng buộc vào gốc cây. Vài anh lính nằm mơ màng trên võng, tranh thủ ngủ bù sau một đêm hành quân vất vả. Người khác kiểm tra lại dép cao su, ba lô. Có người viết nhật kí. Các cô gái thanh niên xung phong kê nồi lên bếp, thổi lửa bằng ống nứa. Lửa bắt đầu bén vào củi khô, reo tí tách trong bếp Hoàng Cầm, khói trắng toả ra mờ mờ theo đường thông hơi, nhìn như những đám mây vờn trên ngọn cỏ. Mấy cậu lính táo tợn cầm bát chạy sang lán thanh niên xung phong, “cho anh ăn cùng các em với”. “Vâng, mời các anh ạ, cơm chẳng có gì đâu, chút mắm kem nấu thôi”. “Mắm kem là ngon “dồi”, hí hí”.
Ừ, bữa cơm có khuôn mặt và hương phụ nữ cũng khác đấy.
Chúng tôi cũng nấu cơm trên những cái bếp Hoàng Cầm của người đi trước để lại, sau khi đã làm sạch đường thông gió. Cơm hôm nay anh Tụng nấu thật khéo, vừa chín tới, ăn với thịt hộp và canh ruốc nấu lá chua. Đám lính tụm lại chan húp xuýt xoa. “Ngon quá anh Tụng ạ. Kiểu này chắc phải bầu anh Tụng làm tổ trưởng nuôi quân.” Anh Tụng cười hiền lành, phô hàm răng xỉn thuốc lào. Cậu Yên vươn vai mấy lần để gắng ăn hết chỗ cơm nấu hơi nhiều. Lớp cháy mỏng được nắm lại rồi chấm với chút mỡ còn dính ở vỏ hộp thịt. “Phải ăn hết, các anh ạ. Chứ để thừa rồi đổ đi, phí lắm”. Yên vừa nói vừa xoa cái bụng căng tròn.
Khi đêm về, sau bữa cơm, mọi người tụ lại quanh bếp. Cái bếp Hoàng Cầm vẫn nóng, vài củ sắn được lùi ở trong đó, toả ra mùi thơm quyến rũ. Một cô gái cất giọng hát ru, giọng trong vắt, như dòng suối mát chảy róc rách từ mạch đất rừng miền trung:
“Anh đi biền biệt phương trời,
Bến sông còn đợi, hoa trôi lững lờ.
Trăng vàng lặn xuống hàng dừa,
Tiếng em khẽ gọi như chưa dứt lời.
Đò ơi, chở giúp đôi lời”…
Tất cả đều lặng yên nghe lời ru. Tiếng hát bay lên, quện vào bóng đêm, tan trong tiếng côn trùng và làn gió xào xạc trên ngọn cây. Những người không hát khẽ ngân nga theo, hai tay ôm đầu gối, mắt nhìn xa xăm vào màn đêm, như đang soi mình vào đó. Đêm Bãi Hà, giống một đêm ở quê, chỉ khác là ngày mai, tất cả họ sẽ chia đôi, người đi, người ở, và chưa ai dám chắc có gặp lại không. Ừ. Đừng nói gì trước khi tiếp tục lên đường. Nhưng hãy nhớ nhìn lại… một lần thôi. Bởi rất có thể đó là lần cuối.
Đêm ấy, tôi không ngủ được. Trong tiếng gió là lời ru ai đó rất khẽ:
“Ơi à ơi, trăng khuya rụng xuống vai người
Ai đi không hẹn mà rơi giọt buồn…”
Ngày hôm sau, tiểu đoàn vượt sông Bến Hải ở phía thượng nguồn. Nước chỉ ngang đùi, trong suốt và mát lạnh. Dòng sông bị khuấy động bởi đoàn quân. Những viên cuội trắng muốt dưới đáy sông như rung rinh bởi bước chân người lính. Không ai nói gì. Một vài người ngoái đầu lại nhìn rừng Bãi Hà lần cuối. Những ngọn cây mờ mờ lặng thinh. Không ai vẫy tay.
Chỉ có những ánh mắt, có thể, vẫn dõi theo, từ đâu đó trong bóng lá.
T.H.B