. ĐOÀN NGỌC HÀ
Trời về chiều, trận mưa rào ào ạt rồi tạnh rất nhanh, anh xích lô vịn vai hỏi “về đâu”, ông Phụng bảo “quận Hoàng Mai, chợ Mơ”. Một chiếc xe máy chở tà áo dài màu hoa cải vẫn bám sát. Ông Phụng ngó quanh, hồ nghi, lẽ nào có kẻ đang theo dõi...
Thu Hà thành còn nán lại tặng cái gió heo may lúng liếng, cốm vỉa hè, bưởi ngoại ô vàng nức, cam Bố Hạ đỏ au... Hà thành vẫn như ngày nào khi anh chàng Phụng ở quê lên làm một anh thợ giặt rồi theo người ta trôi về Hải Phòng, luồn lủi trong một đêm đen, cấp tập xuống tàu vào Nam biệt xứ.

Minh họa: Trương Đình Dung
Tà áo hoa cải mất hút. Ông Phụng tạt vào một quán phở, cố đi đứng một cách tự nhiên, đàng hoàng. Có gì mà phòng vệ cơ chứ. Mình trước cũng là dân Hà thành. Trai phố kẻng trai và tình tứ ra trò. Bố mẹ ông di cư từ quê lên kiếm nghề nuôi cả một gia đình bấn bách. Vất vả nhọc nhằn cuối cùng cũng trụ lại được. Còn nhớ cô bún chả góc chợ Mơ, gái xứ Hà thành xịn mê Phụng, có lần cho Phụng hôn. Mọi thứ thay đổi nhanh quá. Người bán phở bây giờ là một u già, không phải ông phở gánh ngày trước từ Quán Thánh sang. Ông hàng phở này chuyên đội một chiếc mũ nồi thủng, gọi là ông phở mũ nồi. Phở của ông cực ngon, và phở Hà thành thì khỏi phải nói, có lẽ là ngon nhất thế giới. Những ngày biệt xứ, ông Phụng vẫn nhớ về cái món vừa cao sang lại vừa mộc mạc ấy. Khói phở quyện mùi xa xứ với cái giòn ngọt của miếng gầu chín tái. Từ cổ ông Phụng cứ nghèn nghẹn muốn nấc, nước mắt trào ra vùi vào khói phở. Người bán múc nước dùng chan lên bát của ông, bê đến xong lại để mắt vào một cuốn kinh. Nhưng cái liếc của bà ấy rất tinh, sau đó rút từ túi áo bà ba, kiểu cách tân, ra một cái khăn mùi xoa đưa cho ông Phụng lau nước mắt. Hình như bà quen với hình ảnh những kẻ xa xứ từng đến quán của mình. Sững sờ, ông đón lấy cái khăn định nói lời cảm ơn thì lại thấy bà để mắt vào cuốn kinh. Người Hà thành luôn thâm trầm như vậy.
Khi nhìn sang ghế bên cạnh thì bất ngờ ông Phụng phát hiện tà áo hoa thấp thoáng trên xe lúc trước. Sao cô ta cứ theo sát ông như tên Gia-ve vậy? Ông Phụng đứng lên để tìm đường thì vừa lúc chạm phải cặp mắt ngơ ngác đến lạ lùng của cô gái. Lúc trả tiền cho người bán phở, cô tiến sát hơn. “Thưa ông, xin ông tha lỗi nếu cháu nhầm”. “Sao vậy cô?”. Ông Phụng cố ôn tồn. “Thưa ông... có lẽ ông là người trong tấm ảnh của gia đình cháu, phải không ạ?”
Một người lạ ở trong tấm ảnh gia đình. Giật nảy mình, ông Phụng nhìn kĩ cô gái. Quả là có nhiều nét giống thật. Ông Phụng mỉm cười chua chát. Cũng chỉ là việc tạt qua phố Hoàng Mai, đứng ngơ ngẩn hồi lâu trước ngôi nhà trong cái hẻm ở chợ Mơ, nơi cả tuổi xanh của ông đã in dấu. Trở về như kẻ trộm lén lút, vậy mà ông Phụng run rủi bị đứa cháu nhà ở đó bắt gặp. Đứa con gái ông anh ruột. Sau này, ông Phụng mới biết, con bé làm nhân viên đài truyền hình thành phố.
Ông Phụng theo con bé vào con đường sâu trong ngõ chợ Mơ, vương vãi rau dưa và nước từ các sạp hàng tràn lênh láng ra đường, ướt nhèm nhẹp. Căn hộ bé xíu nhưng ấm cúng. Bữa cơm thết chú có tép rang, rau dền luộc xanh rờn bên một tô thịt hộp Úc của chồng nó gửi về. “Chú ăn thấy rất ngon miệng cháu à!”. Ông chú vừa lậm cậm ăn vừa gật gù khen ngon. Bữa sau, cháu còn nấu cho chú nồi canh cua đồng nữa, chú nhé! Trời ơi, trước sự thảng thốt của ông chú gặp lại quê sau lâu ngày biệt ngụp, đứa cháu dường như rất vô tư, vui vẻ. Chú cũng như cha, từ lâu lắm nó vẫn nghe bố kể về một ông chú ruột dại dột, bị kẻ xấu lừa phỉnh vào Nam năm 1954. Bố vẫn thường đay nghiến, thằng cha theo giặc rồi chết mất xác thôi, tiên sư nó, phí một giọt máu của mẹ! Trong bố luôn sôi réo một nghĩa tình huynh đệ nhỏ máu trộn lẫn sự ghét bỏ, căm phẫn ghê tởm về một kẻ phản bội. Bố kể những chuyện rùng rợn của chiến tranh. Đêm thu dọn chiến trường sau trận đánh dưới ánh pháo sáng, xác người và máu, xác giặc và ta cạnh nhau, nằm chồng lên nhau, chết rồi mới hiểu ra mọi nhẽ… Còn đối với Hảo, đứa cháu gái của một tên ngụy, đứa con một đại tá Bắc Việt thì với học vấn hiện đại, nó nhìn chú ngơ ngác như một kẻ bị đánh cắp linh hồn, chỉ thấy thương xót. Chú là lính ngụy nhưng chú cũng là một con người, một con người côi cút...
Đứa cháu gái thỏ thẻ: “Chú ạ, cái ngày ông Bill Clinton đến Việt Nam, vào ăn bún chả Hà Nội một cách vui vẻ, toét miệng cười, vơ bún bằng đôi đũa Việt lùa vào miệng, cả Hà Nội ùa đến mừng vui, chìa tay cho ông ấy nắm, cùng ăn bún với ông ấy dẫu người ta còn nhớ vằng vặc đêm Khâm Thiên chứ chú. Chú về được thế này là mừng lắm, có ai thù ghét chú đâu”. Vừa nói nó vừa nhìn ông Phụng. Chú ấy giống cha nó từ cái mũi phình phình đến bộ mày quệt dưới trán như hai vệt than. Chỉ khác cha nóng tính, đã nói là nói như sôi, đã cười là cười như sấm. Chú Phụng dịu tính hơn. Nó mỉm cười thầm nghĩ: Đấy, vừa nghe chuyện ông Bill với người Hà Nội, chú ấy cứ ngô ngô tê tê như chưa thể tin rồi cuối cùng vẫn phải tin.
Cúi gằm mặt trước con mắt tinh quái của đứa cháu gái, ông Phụng lí nhí giọng Bắc chính cống pha giọng Nam trậm trịch: “Chú muốn về nhà quá, cháu ơi, sau bảy nhăm chú muốn bay về nhà ngay, còn một việc đặc biệt nữa chú muốn làm, một việc thiêng liêng lắm cháu ơi… nhưng chú ngại. Ngại nhất là bố cháu…”.
Đứa cháu hiểu vì sao sau mấy chục năm ông chú mới dám mon men về thăm quê. Ờ phải, tính bố nóng, nóng như lửa. Nó chỉ biết khuyên chú ở lại Hà thành ít ngày nữa rồi tính.
*
* *
Người tài xế taxi hậm hực vì đến nửa tiếng quanh quẩn vẫn chưa vào được làng Mọc. Đường nhiều hóa lạc lối. Đường không còn tí dấu vết nào của những cánh đồng xưa ngập nước. Lối rẽ vào Mọc đường còn hẹp. Con mương như đặt một cái thước trắng vạch ngang đồng. Bên một cái cống, người câu cá đội mũ bere đang gỡ một con cá vừa giật lên bằng một cánh tay còn lại có vài ngón, trày trượt mãi không gỡ được, cáu tiết lầm bầm chửi. Người khách vừa xuống xe xin được gỡ giúp con cá. Người câu cá cười để lộ hàm răng vắng một nửa làm mặt ông méo đi nhưng ánh mắt thì liên láu rất vui.
“Chỗ này trước có cái cây. Nước ở đây to lắm. Bọn tôi vẫn ngoi ra đây thả lờ, đơm đó...” Ông Phụng nói để bắt chuyện làm quen. Người câu cá giật cổ lên vui vẻ. “Ông về cánh họ nào làng ta? Cánh họ Trần, Trần Cầu?”. Nhìn vẻ mặt của ông Phụng, người câu cá nói oang oang như váng cả cánh đồng: “Chà chà! Trần Cầu, Trần Thép, Trần Hét, Đại tá Trần Hét. Chúng tôi vẫn gọi thế. Hiện ông ấy làm chủ tịch hội cựu chiến binh xã. Oách lắm. Hễ giận dữ cái gì là ông ấy hét lên như sấm, lại còn vỗ bồm bộp vào hông, chỗ đeo súng ngắn ngày quân ngũ. Ông ấy có thằng em theo ngụy, giờ gặp lại mà có súng khéo ông ấy sẽ bắn bỏ”.
Cúi mặt nhìn cái phao câu đang lập lờ trên mặt nước, ông Phụng cố giấu một cái gì lâu nay vẫn âm ỉ, bỗng rộn lên bằng những nhịp tim bồn chồn, hoang hoải. Ngả người, doãi chân trên thềm cống, ông cố làm ra vẻ thư thái hỏi người câu cá. “Này tôi hỏi khí không phải, trông anh như người của trận mạc?”. “Hẳn! Lính chiến tiến công Sài Gòn đây. Đấu pháo trận Xuân Lộc, chí tử cửa ngõ Sài Gòn đây. Kịch chiến cái trận ngoan cố nhất của thằng ngụy đây... Mẹ sư nó chứ. Ngu! Chết đến đít còn nhặng lên “tử thủ”. Tôi mất một cánh tay cũng vì bọn nó. Nhưng thôi, bây giờ nói làm chó gì. Cùng là người Việt cả thôi, làm đếch gì mà thù oán nhau mãi...” Người câu cá như nói cho riêng ông Phụng vậy. Ông Phụng thấy cần nói một câu gì để cuộc chuyện chùng lại một chút.
“Nhà ta, các cháu học tập tốt chứ, cô ấy khỏe không?”
“Cảm ơn ông hỏi đến, tôi ba cháu vào đại học cả. Một cháu làm công nghệ mềm, tháng vài chục triệu”.
“Mừng cho ông.” Ông Phụng nắm cánh tay còn lại của người câu cá vẻ ngậm ngùi.
“Phải nỗi ông bây giờ lao động chân tay thì vất vả, đúng không?”
“Vất vả cái chó gì, tôi đi câu cho vui, người ta đi du lịch đây đó, tôi du lịch ở cái cống này, làm thằng câu cá một tay, còn một tay còn chơi đời chán...”
Người câu cá ngửa mặt ra cười, cười phành phạch như cái cống chảy nước bên dưới. Vui thay, ông Phụng cũng cười theo.
“Cô ấy chắc chiều chú lắm nhỉ?”
“Dĩ nhiên rồi, chiều bỏ mẹ đi ấy, chỉ bực nhất là lúc tụt váy vợ bằng một tay, cứ lúng ta lúng túng, trì trà trì trượt...”
Tay này vui tính mà thâm trầm ra phết, người lính Bắc Việt gọi là “chất lính”, khác hẳn với đám lính trong kia… họ thắng là phải.
Cuộc chuyện khiến ông Phụng như trầm xuống. Anh “Cầu Hét” liệu có tha thứ cho mình? Hay là quay lại thủ đô nói với đứa cháu gái về việc chưa nên có cuộc gặp mặt này, hãy thư thả để quay lại vào dịp khác? Nhưng còn cái việc kia... Chỉ có anh Cầu may ra tìm được. Người ấy ở đâu, còn hay mất? Lậy trời phật cho con được gặp người ấy, cho con được quỳ lạy người ấy, dẫu chỉ một lần… Bên tai ông Phụng như vang lên tiếng thét “xung phong” dậy đất, đâu đó cả tiếng chạy hình hịch và tiếng hô “Bắt sống lấy nó! Bắt sống!” Ông Phụng tái mặt, run bắn lên, tim như bị bóp mạnh. Ông lắc lắc đầu để trở lại thực tại. Ông câu cá bằng một tay đang “bắt sống” con cá thứ hai. Con cá này lũng lẵng giẫy mạnh, cứ đu đưa trước mặt ông mà không thể nào bắt được. Chiến tranh là vậy. Chiến tranh cướp đi mọi niềm vui lành hiền, dẫu là bé nhỏ. Chiến tranh là nước mắt. Nhưng mà cái ông câu cá kia vẫn hát trên nỗi đau còn lại đấy. Cớ sao ông lại sợ hãi những thứ mông lung trong tâm trí. Phấn chấn hẳn lên, ông Phụng bước đến nắm lấy tay người câu cá. Tạm biệt nhé! Đầy giỏ tới nơi rồi. Chúc mừng... Chúc mừng chiến thắng!
Ông Phụng bước tới trước một cái cổng làng rõ thật là to. Một đoàn người kéo đi rất đông kèm cả gậy gộc, mai cuốc chỉ trỏ. Ông Phụng nép vào một bụi dứa dại ven đường. Đoàn người lục sục binh khí càng gần hơn. Ông Phụng như thấy cảnh cổng làng của mấy chục năm trước, tiếng hô “xung phong” và khói lửa mù trời. Mùi hương thơm ngàn ngạt của hương hoa quyện lại phả vào mặt ông. Thì ra họ đi tảo mộ. Ông về quê đúng vào dịp thanh minh, bước trên một con đường lớn hai bên trồng hoa dẫn vào giữa làng mà lòng vẫn như sống lại những sợ hãi mơ hồ ngày nào, như một mặc cảm ám ảnh. Lối rẽ vào ngõ, vào nhà đã ở trước mặt...
Cái sân gạch dưới bóng cây mít cổ vẫn còn nguyên. Mẹ như còn thấp thoáng đâu đây. Mẹ đang giã cua nấu canh bữa trưa. Bố vừa đi cày về. Bờ ao, chỗ kia đom đóm rước hội ban đêm vẩn vơ, những đêm trăng nặng mây và mặt ao như mờ phủ lớp sương dày…
Một ông cụ đang hý hoáy ở sân, mái tóc trắng gói không hết cái chỏm đầu đỏ ối. “Anh Cầu! anh Cầu ơi…” Ông Phụng rụt rè gọi. Phải đến lần thứ ba, cái chỏm đầu đỏ mới từ từ quay lại, ngửa ra hiện rõ đôi mày trắng, chỉ còn cái mũi thì vẫn ngạo nghễ phình ra đỏ ráu.“ Em đây… Phụng đây…”
Khoảnh khắc im lặng. Cái thân hình tưởng như tàn úa bật đứng dậy. Vệt mày trắng vén nhanh để rực lên hai ánh chớp của đôi mắt, như muốn thiêu đốt ông Phụng. Nhìn đôi mắt ấy, ông Phụng run rẩy loạng choạng suýt ngã. “Anh Cầu… Em xin anh… cho em vào thắp cho bố mẹ nén hương rồi đi luôn cũng được… Tốt xấu gì bố mẹ cũng sinh ra em… Em xin anh...”
Nghe nhắc tới bố mẹ, hai ánh chớp sau vệt mày trắng dịu xuống. “Vào nhà đi”. Tiếng nói hệt làn nước mát thấm vào lòng ông Phụng. Ông run rẩy bước theo ông Cầu vào nhà…
Bữa cơm ngày giỗ tổ, ông Phụng giật thót mình vì một vầng lửa đỏ ngòn đốt mã. Cỗ có cá kho, rau muống xào, bát thịt giả cày, lòng lợn. Người ta lặng lẽ gắp rót cho nhau. Người ta ăn trong im lặng, trong khói hương. Người trong họ vẫn quen xưng thứ bậc khi mời nhau. Ông Phụng ngành thứ, mấy cụ già móm mém luôn tay gắp thức ăn cho: “Mời chú, chén phứa đi chứ.”
Ông Phụng muốn khóc, chao ôi, ông Phụng muốn khóc thật to. Một cái họ chỉ vẻn vẹn có vài chục nóc nhà mà có tới 27 liệt sĩ có bài vị trong nhà thờ. Người chết đã vậy, người sống còn cơ cực, điêu linh biết nhường nào. Ông Phụng nghe rằng những người này, lúc chiến tranh, ở thời bao cấp, người ta xếp hàng mua miếng thịt, ăn đói nhưng vẫn xẻ bát cho nhau, nhường nhau từng miếng vải, hạt muối để tất cả vì miền Nam. Những ông cụ kia nữa, những mớ tóc trắng ngần ngật đã từng vượt Trường Sơn cả đấy. Đêm qua, ông Cầu bảo: “Mấy hôm nay, đêm nào con Hảo cũng gọi điện cho tôi thẽ thọt về chú. Nó bảo chú tội lắm. Giữa chốn máu mủ ruột rà mà bơ vơ. Tôi giận chú thì giận thế thôi. Nhắc đến chú, tôi vừa hận, vừa thương chú dại dột. Máu chảy ruột mềm. Anh em ruột rà bỏ nhau làm sao được. Phần đất của chú, tôi vẫn để đấy theo đúng lời cha dặn. Chú về thì làm nhà. Nhưng cái này thì chú đáng trách. Hòa bình rồi, thống nhất rồi, người ta về với nhau rồi, cả dân tộc Nam Bắc ôm nhau mà khóc, mà lau nước mắt cho nhau còn chú thì biền biệt…”
Nghe anh nói vậy, ông Phụng chỉ biết cúi mặt. Một giọt nước mắt lăn dài trên gò má.
Sau nửa tháng ở lại quê, đêm cuối cùng, trước khi ông Phụng bay sang Mĩ để giải quyết một số công việc, ông mới mạnh dạn trải lòng nhờ anh giúp cái việc đau đáu cả đời mình…
*
* *
Cửa Thuận An những ngày cuối tháng 3 năm 1975. Ngoài bến tàu, cảnh tượng vô cùng hỗn loạn. Từng đụn người cố lách lên, chen tới, xô đẩy, đấm đạp, la hét, mạnh ai người ấy vọt lên cầu tàu trong tiếng đạn rít xé tai.
Trong khoang, thằng Bon lăm lăm trên tay khẩu súng, lùa một đám người ra ngoài. Tiếng súng nổ và tiếng người rơi xuống nước ầm ào, dữ dội. Đám người hoảng loạn ùn tới nhét không còn chỗ thở. Người còn lên. Tiếng súng còn điếc tai. Tiếng gào thét, chửi bới ồn ã, kinh dị. Con tàu lắc mạnh. Những đám người khổng lồ trên mạn tàu lở xuống biển từng mảng, giãy đùng đục, máu cuốn lên từng cuộn đỏ ngòn… Lúc bấy giờ Phụng mới nhận ra chạy chốn chưa chắc đã phải con đường sống. Nhưng ở lại thì… Phụng không dám nghĩ tiếp. Thoáng thấy thằng Bon ém sau lưng. Phụng chưa kịp nghĩ nó làm gì thì một ánh chớp lóe lên. Phụng nhào xuống nước nhưng cố ngóc đầu lên ngoi vào bờ. Viên đạn của thằng Bon rúc vào bả vai đẫm máu, đau xé. Phụng cắn răng cố trườn lên bãi cát. Máu ra nhiều làm Phụng kiệt sức. Phụng muốn gục xuống. Không! Gục lúc này là chết! Phụng cố lết đi. Phía trước, một đám người cao như ống đót, gày quắt, mặt mũi nhọ khói đen mặc quân phục phía bên kia lăm lăm súng trên tay xô tới. Một mũi súng dí vào ngực lạnh toát. “Tiêu rồi”. Phụng thầm nghĩ. Vừa lúc ấy, một người cao và gầy, con mắt sâu, sống mũi thẳng, như vừa chui ra từ ống khói, tay áo bị đạn xé rách bươm, cháy xém lòi ra một cánh tay bị thương, bông gạc chít đỏ bầm, có vẻ là chỉ huy, lấy tay rẽ đám đông bước tới. Anh gọi người băng bó cho Phụng và đưa cho Phụng bi đông nước của mình. Phụng kịp nhìn trên chiếc bi đông khắc tên: Hoàng Phong - Hải Phòng…
Phụng chỉ tiếc rằng, nỗi sợ hãi mơ hồ ngày càng lớn khi lọt vào tay những người lính Bắc Việt khiến Phụng không đủ can đảm để ở lại. Lợi dụng những người lính áp giải không kiểm soát xuể lượng người bị bắt khổng lồ, trong đêm, Phụng trốn thoát và cố gắng bơi ra một con tàu Mĩ neo ở ngoài xa…
*
* *
Nghe xong chuyện của ông Phụng, ông Cầu bảo: “Chú không tìm được người lính ấy đâu. Dẫu bổ đôi cả trái đất này chú cũng không tìm được. Sau đấy, có thể anh ấy còn tiếp tục tham gia một số trận cuối cùng. Có thể anh ấy còn sống và cũng có thể đã hi sinh. Những người lính tên Hoàng Phong quê Hải Phòng tham gia trong những ngày cuối chiến tranh, có biết bao nhiêu để mà tìm được? Với lại lúc ấy chú là tù binh. Người chỉ huy nào cũng sẽ xử sự như thế. Quan trọng là chú đã về đây. Đất nước ta đã hòa bình, mọi đau thương, hận thù đã bỏ lại sau lưng để hướng về những điều tốt đẹp phía trước.
Không gian bỗng lặng im, chỉ còn tiếng thở nhè nhẹ của hai anh em trong bóng tối.
Đ.N.H