Thứ Bảy, 18/04/2026 19:02

Ngọn lửa Lê Hồng Phong

Ông đã sống một cuộc đời như ngọn lửa bền bỉ cháy trong những năm tháng khốc liệt nhất của cách mạng (MINH PHƯƠNG)

 Tổng Bí thư Lê Hồng Phong (6/9/1902 - 6/9/1942) là một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam và quê hương Nghệ An. Ông đã sống một cuộc đời như ngọn lửa bền bỉ cháy trong những năm tháng khốc liệt nhất của cách mạng. Ông cũng là một trong những học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, tiếp nhận và tiếp nối con đường cách mạng bằng tất cả trí tuệ, niềm tin và sự hi sinh trọn vẹn.

Ông sinh ra với tên gọi Lê Huy Doãn, trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, vùng đất giàu truyền thống hiếu học và cách mạng. Sau khi học xong Sơ học yếu lược, vì hoàn cảnh khó khăn, ông vào làm tại nhà máy Diêm - Bến Thủy. Chính nơi đây, giữa khói bụi và tiếng máy, ông đã tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực của người lao động dưới ách bóc lột của thực dân, phong kiến. Từ những chứng kiến ấy, ý thức đấu tranh đã nhen lên trong ông.

Đồng chí Lê Hồng Phong. Ảnh tư liệu

Cuộc vận động công nhân đứng lên phản kháng khiến ông bị đuổi việc, nhưng cũng mở ra một con đường khác, đó là con đường đi tìm lý tưởng. Năm 1923, Lê Hồng Phong cùng Phạm Hồng Thái bí mật sang Thái Lan rồi Quảng Châu, gia nhập Tâm Tâm Xã. Đó là bước ngoặt đầu tiên của người cộng sản, khi lựa chọn dứt khoát đứng về phía cách mạng.

Thời điểm ấy, Nguyễn Ái Quốc đã là một chiến sĩ cộng sản lão luyện. một cán bộ Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế cộng sản. Tháng 11 năm 1924, khi Người đến Quảng Châu, cuộc gặp gỡ giữa Người và những thanh niên yêu nước như Lê Hồng Phong đã thức tỉnh những trái tim tuổi trẻ yêu nước. Đó là một sự kiện, một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Lê Hồng Phong và các đồng chí của ông. Những bài giảng về chủ nghĩa Marx-Lenin, về con đường cách mạng vô sản đã mở ra trước họ một chân trời mới. Từ đây, niềm tin không còn mơ hồ mà trở nên có hình hài, có lý luận, có con đường rõ rệt. Nhờ sự dìu dắt ấy, Lê Hồng Phong được học tại Trường Quân sự Hoàng Phố và Trường Không quân Quảng Châu, rồi tiếp tục được đào tạo tại Đại học Phương Đông. Những năm tháng học tập không chỉ trang bị tri thức mà còn hun đúc bản lĩnh cách mạng để sau này, giữa những thời khắc nghiệt ngã nhất, ông vẫn có thể đứng vững như một trụ cột của Đảng.

Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cách mạng Việt Nam rơi vào một giai đoạn vô cùng khó khăn. Sự khủng bố của thực dân Pháp kéo dài, các cơ sở Đảng bị tan vỡ, nhiều cán bộ chủ chốt bị bắt hoặc hi sinh. Trong bối cảnh ấy, yêu cầu khôi phục tổ chức và giữ vững niềm tin của quần chúng trở thành vấn đề sống còn. Cuối năm 1931, sau khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông, Lê Hồng Phong nhận trọng trách từ Quốc tế Cộng sản trở về chỉ đạo việc khôi phục phong trào. Đến cuối năm 1932, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ông, Ban lãnh đạo lâm thời của Đảng được thành lập, thống nhất hành động theo “Chương trình hành động của Đảng”, văn bản mà ông tham gia soạn thảo và được Quốc tế Cộng sản thông qua.

Từ năm 1932 đến 1933, bằng trí tuệ và quyết tâm phi thường, ông từng bước xây dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng trên cả nước, khơi dậy lại niềm tin đã bị dập vùi trong khói lửa. Tháng 3 năm 1934, Hội nghị thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng do ông chủ trì đã tạo ra một đầu mối lãnh đạo, như một sợi dây nối lại những mảnh vỡ của phong trào cách mạng. Sự tồn tại của tổ chức ấy không chỉ có ý nghĩa tổ chức, mà còn là lời khẳng định: Đảng vẫn sống, và không một thế lực nào có thể dập tắt.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản (Ảnh: Tranh tư liệu/TTXVN).

Năm 1935, tại Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, Đảng ta được công nhận là một chi bộ chính thức. Lê Hồng Phong được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, đồng thời tại Đại hội toàn quốc lần thứ I của Đảng, ông được bầu làm Tổng Bí thư. Từ đây, vai trò lãnh đạo của ông được khẳng định trên cả bình diện trong nước và quốc tế.

Nhưng nếu chỉ nhìn ông như một nhà lãnh đạo, có lẽ vẫn chưa đủ. Trong đời sống riêng, ông còn là một con người của tình nghĩa. Cuộc gặp gỡ với Nguyễn Thị Minh Khai, người đồng chí, người bạn đời của ông đã tạo nên một mối gắn bó vừa riêng tư, vừa mang dáng dấp của một lý tưởng chung. Họ gặp nhau giữa những năm tháng hoạt động, cùng học tập, cùng làm việc, cùng đi qua những chặng đường đầy hiểm nguy. Đám cưới của họ được tổ chức tại Mátxcơva, dưới sự chứng kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, như một sự kết nối giữa tình yêu và lý tưởng.

Mùa xuân năm 1939, khi Nguyễn Thị Minh Khai trở dạ, bà được đưa đến nhà hộ sinh Hồng Phúc, số 75 đường Mác MaHon (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), nơi bà đỡ Trinh là một người có cảm tình với cách mạng đã tận tình che chở. Đêm vượt cạn không có chồng bên cạnh, chỉ có tình yêu dành cho anh và cho con đã giúp bà vượt qua tất cả. Đứa con ra đời được đặt tên là Lê Nguyễn Hồng Minh, cái tên ghép từ chính tên của hai người, như một dấu nối của tình yêu trong những tháng ngày chia cách.

Những năm cuối đời của ông là chuỗi ngày bị đày ải khắc nghiệt. Ngày 22/6/1939, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ nhất tại Chợ Lớn và bị kết án 6 tháng tù giam; đến ngày 23/12/1939, chúng đưa ông về quản thúc tại quê nhà Nghệ An. Nhưng sự truy bức không dừng lại ở đó. Ngày 30/1/1940, ông bị bắt lần thứ hai, giam tại khám Lớn Sài Gòn, rồi cuối năm 1940 bị đày ra Côn Đảo. Biết ông là nhân vật quan trọng của Đảng, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn, hành hạ dã man. Giữa chốn ngục tù khắc nghiệt, ông vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản: không khai báo một lời, đồng thời kiên trì vận động, tổ chức anh em tù nhân đấu tranh chống lại đòn roi và những luật lệ hà khắc. Thân thể có thể bị vùi dập, nhưng ý chí thì không khuất phục. Sức khỏe dần suy kiệt bởi tra tấn và bệnh tật, và trưa ngày 6/9/1942, ông trút hơi thở cuối cùng. Trước khi ra đi, ông vẫn kịp gửi lại một lời nhắn giản dị mà bất diệt: “Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng.”

Ngày 30/7/1940, khi đang cùng Xứ ủy Nam Kỳ chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang, Nguyễn Thị Minh Khai sa vào tay giặc. Biết bà là vợ của Lê Hồng Phong, thực dân Pháp đã bố trí cho hai người gặp nhau với hi vọng họ sẽ nhận nhau để làm chứng cứ buộc tội. Nhưng trước âm mưu thâm hiểm ấy, họ đã lựa chọn một sự im lặng đầy đau đớn, nén lại tình riêng, kiên quyết không nhận nhau, đặt lợi ích của Đảng và cách mạng lên trên tất cả.

Đồng chí Lê Hồng Phong và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai. Ảnh tư liệu

Qua hai phiên tòa, tòa án binh Sài Gòn đã tuyên án tử hình Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí như Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần… Trước ngày bị xử bắn, bà đã kịp thêu một chiếc áo gối, viết thư gửi cha mẹ, gửi lời cảm ơn tới những người đang nuôi dưỡng con mình, và gửi lời vĩnh biệt tới người chồng đang bị giam nơi Côn Đảo: “Dù có chết, em hứa với anh, chung thủy với cách mạng, trung thành với Đảng. Em hứa sẽ mãi mãi là người chiến sĩ cộng sản kiên cường. Mong anh cũng như vậy.” Một năm sau khi bà hi sinh, Lê Hồng Phong mới hay tin. Nỗi đau ấy đến muộn, lặng lẽ, nhưng có lẽ đã hòa vào một nỗi đau lớn hơn, nỗi đau của cả một thời đại.

Trong suốt hành trình hoạt động cách mạng, Lê Hồng Phong luôn được nhắc đến như một trong những người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh. Ở ông hội tụ trọn vẹn phẩm chất của một người cộng sản chân chính, sống vì Đảng, chết không rời Đảng, hiến dâng trọn đời cho độc lập, tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Không chỉ là một nhà lãnh đạo kiên định, tài năng, ông còn là một tấm gương sáng về ý chí và khí phách, một con người mà mỗi bước đi đều gắn với lý tưởng, mỗi lựa chọn đều mang dấu ấn của sự hi sinh.

Giữa những biến động của đời sống hôm nay, khi con người dễ bị cuốn vào những giá trị nhất thời, tấm gương của Lê Hồng Phong gợi nhắc chúng ta trở về với một cốt lõi bền vững hơn. Sống có lý tưởng, có niềm tin và có trách nhiệm với cộng đồng. Học tập tấm gương ông không phải là lặp lại những hành động lớn lao của một thời lịch sử khác, mà là giữ được sự kiên định trong những lựa chọn rất nhỏ của đời sống thường ngày. Biết đặt cái chung lên trên cái riêng khi cần, không buông mình trước khó khăn, không dễ dàng thỏa hiệp với điều sai trái. Ở một nghĩa sâu hơn, đó còn là học cách gìn giữ một ngọn lửa bên trong, ngọn lửa của niềm tin vào những điều tốt đẹp, vào giá trị của lao động, của cống hiến. Bởi suy cho cùng, điều làm nên tầm vóc của một con người không chỉ nằm ở những gì họ đạt được, mà ở cách họ sống và giữ mình giữa những thử thách của thời đại…

MINH PHƯƠNG