Ít ai biết rằng, với kinh nghiệm từng làm nghề nhiếp ảnh trong những năm hoạt động ở Pháp, Bác còn trực tiếp hướng dẫn đội ngũ điện ảnh (THUỲ CHI)
Ngày 15/3/1953, tại khu Đồi Cọ, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 147/SL, chuyển Phòng Điện nhiếp ảnh thuộc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thành Doanh nghiệp Quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam, tiền thân của Điện ảnh cách mạng Việt Nam. Từ dấu mốc ấy, một nền điện ảnh mới chính thức ra đời, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước. Đến nay, điện ảnh Việt Nam đã trải qua 73 năm hình thành và phát triển.
Nhìn lại chặng đường ấy, càng thấy rõ rằng sự ra đời của điện ảnh cách mạng không đơn thuần là kết quả của một quyết định tổ chức bộ máy, mà là biểu hiện của một tầm nhìn chiến lược về văn hóa. Trong hoàn cảnh kháng chiến còn muôn vàn gian khó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra sức mạnh đặc biệt của điện ảnh, một loại hình nghệ thuật có khả năng lưu giữ lịch sử, truyền cảm hứng và khơi dậy sức mạnh tinh thần của cả dân tộc.
Ngay từ những ngày đầu còn non trẻ, ngành điện ảnh cách mạng đã luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Người. Những bộ phim đầu tiên ra đời đều được Bác dành thời gian theo dõi. Ngược lại, chính điện ảnh cũng đã lưu giữ biết bao hình ảnh vô giá về Người trong những năm tháng kháng chiến gian lao, và lặng lẽ ở bên Người trong những giờ phút cuối cùng trước khi Bác đi xa. Đó là mối gắn bó đặc biệt giữa một lãnh tụ và một loại hình nghệ thuật mà Người luôn tin tưởng sẽ góp phần làm nên sức mạnh của cách mạng.
Người được giao trọng trách Giám đốc đầu tiên của Điện ảnh Việt Nam giai đoạn 1953-1956 là đạo diễn, NSND Phạm Văn Khoa (1914-1992). Trước đó, ông là người tổ chức xây dựng lễ đài tại Quảng trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này, ông tiếp tục được làm việc bên cạnh Bác tại Bắc Bộ Phủ rồi Chiến khu Việt Bắc. Trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật và cách mạng, ông luôn ghi nhớ lời căn dặn của Bác: “Làm văn nghệ phải luôn tìm tòi cái mới. Làm cái gì được người ta khen, lần sau làm lại như cái trước thì không tốt.” Một lời nhắn gửi ngắn gọn nhưng chứa đựng tư tưởng nghệ thuật sâu sắc, sáng tạo không bao giờ được phép dừng lại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đạo diễn, quay phim, diễn viên... tại Xưởng phim Hà Nội - Hãng phim truyện Việt Nam năm 1963. Ảnh tư liệu
Không chỉ quan tâm đến định hướng phát triển ngành, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trực tiếp góp ý về nghề nghiệp cho những người làm điện ảnh bằng sự tinh tế và am hiểu hiếm có.
Một lần tại Chiến khu Việt Bắc, đạo diễn Phạm Văn Khoa chuẩn bị quay cảnh Bác nói chuyện với đồng bào Thái Nguyên. Ông sắp đặt sẵn một chiếc chõng tre, nải chuối và ấm nước rồi mời Bác vào vị trí. Bác vui vẻ nói: “Đạo diễn mời Bác cháu ta đóng phim đấy!”. Nhưng đúng lúc ấy, máy quay gặp trục trặc. Người vẫn kiên nhẫn chờ đợi, còn vui vẻ nói với bà con rằng hãy “chiều chú Khoa làm lại lần nữa”. Sau buổi quay, Bác nhẹ nhàng góp ý: “ở Pháp, người ta gọi người quay phim là ‘người săn hình ản’; đã là săn thì phải luôn sẵn sàng, bởi nếu phải dàn dựng thì hình ảnh sẽ mất đi sự tự nhiên”. Chỉ bằng một câu chuyện giản dị, Bác đã truyền cho những người làm nghề một bài học lớn về tính chân thực, một phẩm chất cốt lõi của điện ảnh tài liệu.
Ít ai biết rằng, với kinh nghiệm từng làm nghề nhiếp ảnh trong những năm hoạt động ở Pháp, Bác còn trực tiếp hướng dẫn đội ngũ điện ảnh non trẻ về bố cục, ánh sáng, góc máy; làm sao để mỗi khuôn hình vừa chân thực, vừa có hồn, phản ánh sinh động đời sống chiến đấu và lao động của nhân dân. Chính từ những chỉ dẫn ấy, nhiều tác phẩm đã khắc họa thành công hình ảnh một đất nước “kháng chiến, kiến quốc” bằng ngôn ngữ điện ảnh.
Nhà quay phim, NSND Nguyễn Đăng Bẩy (1923-2007), người có nhiều bức ảnh quý về Bác, từng xúc động nhớ lại rằng trong những năm hoạt động ở nước ngoài, Bác đã sống giữa nhiều tầng lớp lao động, tiếp xúc với nhiều nghề nghiệp khác nhau, nên thấu hiểu rất sâu sắc công việc và những yêu cầu riêng của từng ngành. Với những người làm nhiếp ảnh, điện ảnh, sự thấu hiểu ấy được thể hiện bằng những lời chỉ bảo cụ thể, gần gũi và đầy sẻ chia.
Một trong những người đã góp phần lưu giữ chân dung Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ điện ảnh là nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn (1911-2009). Ông nổi tiếng với những thước phim ghi lại Đại hội Đảng lần thứ II tại Việt Bắc cùng nhiều hình ảnh vô giá về Bác Hồ: từ những chuyến đi thăm dân công, nông dân đến cảnh Bác cưỡi ngựa đi công tác, lội suối, băng rừng, tắm suối, luyện võ hay chơi bóng chuyền. Những thước phim ấy không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống của vị lãnh tụ mà còn khắc họa một con người gần gũi, khỏe khoắn, giản dị giữa núi rừng kháng chiến.
Năm 1952, Nguyễn Thế Đoàn cùng họa sĩ Lê Minh Hiền đã đi bộ suốt mười sáu tháng mang những cuộn phim từ Việt Bắc trở về Nam Bộ. Những hình ảnh ấy được chiếu và triển lãm để đồng bào miền Nam được tận mắt thấy Bác vẫn mạnh khỏe, nhanh nhẹn, luôn gần gũi với nhân dân và chiến sĩ. Những khuôn hình ấy đã tiếp thêm niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác trong những năm tháng gian lao. Sau này, chính những thước phim quý ấy tiếp tục được sử dụng trong bộ phim Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng nhiều tác phẩm điện ảnh trong và ngoài nước.
Sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với điện ảnh không phải là điều ngẫu nhiên. Ngay từ những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã sớm nhận thức được sức mạnh của điện ảnh như một phương tiện truyền bá tư tưởng và kết nối con người. Ít ai biết rằng, trong quãng đời hoạt động ở nước ngoài, Bác còn có quan hệ thân thiết với nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới như Henri Barbusse, họa sĩ Picasso, Paul Vaillant-Couturier và đặc biệt là "vua hề Sác-lô" Charlie Chaplin từ cuối năm 1911 tại Hoa Kỳ. Những mối giao lưu ấy góp phần hình thành ở Người một tầm nhìn rộng mở về văn hóa và nghệ thuật hiện đại.
Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày Sắc lệnh số 147/SL được ký dưới mái rừng Việt Bắc. Điện ảnh Việt Nam hôm nay đã đi một chặng đường dài với nhiều thành tựu đáng tự hào. Nhưng nhìn lại cội nguồn của mình, có thể thấy ngay từ buổi đầu, điện ảnh cách mạng đã mang trong mình dấu ấn sâu đậm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ là người đặt nền móng cho một ngành nghệ thuật mới, mà còn truyền vào đó một triết lý sáng tạo: luôn đổi mới, tôn trọng sự thật và hướng đến con người. Đó là những giá trị vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với điện ảnh Việt Nam trên hành trình gìn giữ ký ức dân tộc và sáng tạo những tác phẩm có sức sống lâu bền.
THUỲ CHI
Nguồn tham khảo:
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn
hochiminh.vn