(kì I)
.NGUYỄN HỘI
Từ những tấm hình biết nói
Tôi biết kiến trúc sư Nguyễn Xuân Thắng qua câu chuyện của nhà văn Nguyễn Vũ Điền. Khi ấy anh là nhân vật trong tác phẩm Hành trình không có điểm dừng, giành giải Nhất cuộc thi Sống đẹp, lần thứ V do Báo Thanh Niên tổ chức. Tác phẩm kể về hành trình miệt mài đi tìm mộ liệt sĩ của một kiến trúc sư, người tự nguyện nhận trách nhiệm như anh từng chia sẻ: “Công việc này không ai giao, nhưng tôi thấy đó là món nợ”.
Ngược trở lại hành trình mười năm trước, bắt đầu từ dòng chữ: “Ở cuối đường băng… nơi chúng tôi chôn những người lính Việt Cộng sau trận Mậu Thân”, dưới một tấm hình do lính Mĩ chụp cảnh sân bay Biên Hòa, năm 1968, kiến trúc sư Nguyễn Xuân Thắng và nhóm của các anh đã xác định được vị trí để Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai tìm thấy hố chôn tập thể hơn 150 hài cốt liệt sĩ của Trung đoàn 4 (Sư đoàn 5) và Đại đội Đặc công.
Dấu mốc tại sân bay Biên Hòa năm đó đã khích lệ anh Thắng tiếp tục dấn thân vào công việc “trả nợ” âm thầm của mình. Cho đến năm 2018, khi anh tình cờ phát hiện trên trang diễn đàn của cựu binh Mĩ: cảnh một cậu bé đội mũ lưỡi trai, mặc áo sơ mi, quần short đứng bên hố chôn tập thể kèm dòng chữ ngắn gọn “Ảnh chụp năm 1968”. Dữ liệu quá ít ỏi nhưng những câu hỏi về thời gian và địa điểm trong tấm hình cứ lởn vởn trong đầu anh. Mấy năm sau, anh phát hiện tấm hình thứ hai, hình một người đàn ông mang khẩu trang, tay cầm chai dung dịch đứng bên rãnh mộ, xa xa cũng là một cậu bé. Cảnh hố chôn tập thể càng lúc càng xoáy sâu vào tâm trí khiến anh đặt quyết tâm phải giải mã bằng được điều bí ẩn này. Rồi đến tấm hình thứ ba, tấm hình mà anh đã mất rất nhiều thời gian và công sức tìm kiếm. Đó là một hình màu, nằm trong kho lưu trữ của hãng AP (Mĩ). Hình này chứa đầy đủ thông tin của hai tấm hình trước: những người lính cứu hỏa và lao công đang chôn xác trong một rãnh dài. Bên cạnh rãnh, dưới gốc cây là một người đàn ông và những em nhỏ. Xa xa, một dãy nhà cư xá và tháp nước. Chú thích ảnh ghi rõ: “Khu vực chôn cất tập thể chiến sĩ hi sinh trong trận giao tranh Tết Mậu Thân, gồm 3 rãnh mộ lớn được đào sẵn, mỗi rãnh chứa khoảng 300 thi thể”. Dữ liệu khá đầy đủ rồi, Nguyễn Xuân Thắng cùng anh em lang thang khắp Sài Gòn hàng năm trời tìm kiếm địa điểm trên thực địa…
Nhưng tất cả chỉ thực sự bùng nổ khi thông tin được trao đổi, đưa lên trang Facebook Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh yêu nước vào cuối tháng năm, về việc tìm kiếm nhân chứng phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập liệt sĩ, kèm mấy tấm hình. Rất nhanh chóng, bài viết nhận được nhiều lượt yêu thích, chia sẻ và bình luận. Đặc biệt, thông qua số điện thoại liên hệ đăng tải, Đại úy Nguyễn Văn Huế - Trợ lí Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Thành phố đã nhận được rất nhiều tin nhắn, điện thoại của những người biết sự việc, cùng các nhân chứng lịch sử. Các thông tin đều hướng về một địa điểm: Nghĩa địa Chí Hòa - Chợ Quán trước đây (cũng có tên là Nghĩa trang Đô Thành), nay là công viên Lê Thị Riêng.
Đến những nhân chứng lịch sử
Đúng mười ngày sau khi bài viết của Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh được đăng tải, một cuộc hội thảo đặc biệt do Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (gọi tắt là Ban Chỉ đạo quốc gia) Phạm Thị Thanh Trà chủ trì được tổ chức.
Với rất nhiều những dữ liệu lịch sử, bản đồ, sơ đồ quân sự, hình ảnh tư liệu vệ tinh, lời kể của nhân chứng liên quan đến sự kiện Tết Mậu Thân 1968, như ông Robert Ambrose Connor cựu binh Mĩ, nhóm tình nguyện nghiên cứu hỗn hợp Việt Nam - Hoa Kì, đặc biệt lời kể của những người trực tiếp có mặt tại công viên Lê Thị Riêng trong và sau thời điểm ba tấm hình được chụp, câu chuyện về những hố chôn tập thể được thuật lại khá chi tiết.
Từ cơ sở thực tiễn vô cùng quan trọng này, Bộ Tư lệnh Thành phố và các đơn vị chức năng như Viện Thiết kế (Tổng cục Hậu cần - Kĩ thuật), Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Binh chủng Công Binh… đã tiến hành dùng radar xuyên đất, phân tích địa tầng, ảnh điện, đo điện trở suất và nhiều phương pháp khảo sát vật lí hiện đại khác đối chiếu, phân tích, so sánh nhằm xác định vị trí chính xác các rãnh mộ tập thể.

Tác giả bài viết (bên phải) cùng các nhân chứng.
Đến ngày 23/6, sau hàng chục cuộc gặp gỡ nhân chứng, hàng ngàn trang tài liệu được nghiên cứu so sánh, cùng việc đối chiếu những mũi xẻng công binh đầu tiên được triển khai tại khu vực A (phía sau Nhà Truyền thống) một cách thận trọng và tỉ mỉ dưới sự giám sát chặt chẽ của các chuyên gia, những nhân chứng lịch sử. Để rồi phần mộ tập thể các anh hùng liệt sĩ của gần sáu mươi năm về trước dần dần được hiển lộ.
Ngay buổi chiều ngày 23 ấy, Đoàn nhà văn Tạp chí Văn nghệ Quân đội chúng tôi được Trung tá Nguyễn Văn Hùng, Trợ lí Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, người trực tiếp tham gia nhiệm vụ đặc biệt tại Công viên Lê Thị Riêng bố trí cuộc gặp gỡ với những nhân chứng lịch sử và thâm nhập hành trình.
Với vẻ mặt trầm tư, nước da ngăm đen và những nếp nhăn gợn sóng dài trên trán, chú Nguyễn Thành Phước, địa chỉ nhà hồi đó ở số 118, Bắc Hải, quận 10, chậm rãi kể: “Tôi sinh ra, lớn lên và sống hơn sáu mươi năm ở khu vực này. Cái dãy nhà dài dài màu trắng phía bên trái tháp nước trong tấm hình ấy chính là cư xá Bắc Hải. Nó cũng được gọi là cư xá sĩ quan Chí Hòa, bởi chỉ dành riêng cho sĩ quan và cán bộ cao cấp dưới chế độ cũ. Hai đầu dãy nhà có lính gác, ai ra vào cũng bị kiểm tra giấy tờ nghiêm ngặt lắm. Lúc đó, tôi mười hai tuổi, đang là đứa con nít học Đệ lục (tương đương lớp bảy bây giờ). Khoảng chín, mười giờ sáng một ngày đầu năm Mậu Thân, tôi cùng đám bạn trong khu phố ra nghĩa địa Chí Hòa xem người ta chôn tập thể. Mùi tử khí bốc lên nồng nặc khiến tôi phải cởi áo ra để bịt mũi và miệng. Tôi thấy những người lính chế độ cũ dùng một chiếc xe ủi của Tiểu đoàn 5 Công binh, vì trên xe có đề chữ Tiểu đoàn 5 rõ ràng mà, để đào rãnh. Họ đào tổng cộng ba cái, ước chừng chiều sâu mỗi cái khoảng hơn hai mét, rộng tầm bốn mét và dài khoảng năm mươi mét. Đất được xe ủi gạt sang hai bên.
Xác người được chở đến bằng năm - sáu chiếc xe thùng cứu hỏa (loại chở lính) và mấy chiếc xe tải GMC. Lực lượng bốc xác xuống là mấy ông lính cứu hỏa đi theo xe và các chú quản trang, trong đó có chú Mười Bi quản trang trưởng mà tôi rất thân. Mỗi khi xe ô tô đổ xác xuống, các chú quản trang và lính cứu hỏa khiêng xếp nằm đấu đầu vào nhau. Cứ xếp hết một lớp khoảng gần cả trăm người, họ lại lấy bột DDT (loại bột sát trùng của Mĩ đựng trong cái thùng tròn, cao, đề chữ DDT) đem rắc, rải đều lên trên. Rắc bột xong, họ lấy những miếng ván gỗ dày - loại ván đóng hòm có sẵn ở nhà xác - đậy lên trên. Cứ một lớp xác là một lớp ván. Lớp trên cùng cũng đậy ván. Tổng cộng bốn lớp thi thể và ba lớp ván gỗ. Sau cùng xe công binh mới ủi hai đống đất hai bên xuống lấp bằng phẳng. Việc chôn cất này làm liên tục cho tới khoảng năm giờ chiều mới xong…”
Dừng nhấp ngụm cà phê đen, như để sắp xếp lại kí ức, lúc lâu chú Phước chậm rãi kể tiếp: “Chú Mười Bi lúc đó kể ngay cho tôi nghe là xe chở các anh này từ trận đánh đài phát thanh và sứ quán Mĩ về. Có một số anh mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen, dáng người mảnh khảnh, còn trẻ măng hà, nhưng phần lớn người còn lại là các chú giải phóng. Theo tôi ước tính một hầm khoảng 350 người và nghe chú Mười Bi nói, hai cái hầm đó chôn khoảng 600 trăm đến 700 trăm người”.
Nghe chú Phước thông tin, cảm giác rân rân từ mắt lan khắp cơ thể tôi. Đớn đau và bi tráng quá. Ngay tại vị trí gốc cây sao chúng tôi đang ngồi đây, gần sáu mươi năm về trước... biết bao nhiêu mất mát, hi sinh. Tôi chợt nhớ tới những lời phát biểu trong bài tham luận Biệt động Sài Gòn - Gia Định, khúc tráng ca và chiến công của những con người bất tử của ông Nguyễn Quốc Độ, thay mặt Ban Chủ nhiệm và Hội viên Câu lạc bộ khối Vũ trang - Biệt động Sài Gòn - Gia Định tại buổi hội thảo ngày mùng 8/6/2026. Phải chăng, hồn thiêng các liệt sĩ đang quần tụ về đây, quyện trong từng lời kể?
“Lúc 1 giờ 59 phút đêm mùng Một rạng sáng ngày mùng Hai Tết Mậu Thân, mười bảy cán bộ chiến sĩ của Đội 5 Biệt động thành do đồng chí Tô Hoài Thanh chỉ huy tấn công vào cổng sau Dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn (Dinh Độc lập ngày nay). Ta chiếm giữ một ngày, bắn cháy năm xe Jeep, diệt và làm bị thương hơn một trăm tên địch. Sau khi địch phản công, đơn vị đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng…
Tại Đài Phát thanh, mười hai cán bộ chiến sĩ thuộc Đội 4 Biệt động thành do đồng chí Năm Lộc (tức Trần Phú Cương) chỉ huy đã đánh thẳng vào Đài. Ta chiếm giữ lầu một, đánh lui nhiều đợt phản kích điên cuồng của địch. Cho đến 4 giờ 55 phút sáng, hết đạn, cả đơn vị đã điểm hỏa 20kg thuốc nổ phá hủy đài và anh dũng hi sinh.
Tại Bộ Tư lệnh Hải quân, mười sáu cán bộ chiến sĩ Đội 3 Biệt động thành do đồng chí Bảy Lốp (Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Lém) chỉ huy, đã dùng bộc phá đánh sập cổng rào, tấn công vào mục tiêu, giữ trận địa đến 6 giờ sáng, diệt mười hai tên địch, ta hi sinh mười bốn đồng chí. Đồng chí Bảy Lốp bị bắt, sau đó hi sinh. Theo một số nguồn tin, đồng chí Bảy Lốp chính là chiến sĩ Biệt động thành trong tấm hình Hành quyết tại Sài Gòn (Saigon Execution) và đoạn phim nổi tiếng thế giới thời điểm đó. Trong đoạn tư liệu nước ngoài ấy, người chiến sĩ biệt động thành gầy gò mặc áo ca rô trắng xanh đứt cúc, khuôn mặt bầm tím, hai tay trói ngược ra phía sau, bị một toán lính áp giải trên đường phố Sài Gòn. Đến trước cửa một tiệm giày, anh bị tên Nguyễn Ngọc Loan lúc bấy giờ là Tổng giám đốc Nha Cảnh sát quốc gia (ngụy) hung hãn dùng súng lục bắn thẳng vào đầu. Tấm hình được nhiếp ảnh gia người Mĩ thuộc hãng tin AP Eddie Adams và đoạn phim được phóng viên truyền hình NBC News Võ Sửu ghi lại…
Tại Đại sứ quán Mĩ, mười bảy cán bộ, chiến sĩ Đội 11 Biệt động thành do đồng chí Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chỉ huy đã dùng bộc phá đánh sập tường bên hông tòa nhà. Đến 9 giờ sáng, địch dùng lựu đạn hơi ngạt quăng từng chùm vào các chiến sĩ biệt động. Họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.
Tại Bộ Tổng Tham mưu ngụy, hai bảy cán bộ chiến sĩ Cụm 679 Biệt động thành do đồng chí Đỗ Tấn Phong chỉ huy đã nổ súng tấn công vào cổng số 5. Ta diệt, làm bị thương hơn một trăm tên địch, bắn cháy hai xe bọc thép; đơn vị hi sinh mười đồng chí, bốn đồng chí bị thương và bị bắt, ba đồng chí mất tích. Tổng cộng, trong Chiến dịch Tết Mậu Thân, lực lượng Biệt Động thành gồm tám tám cán bộ, chiến sĩ tham gia đánh chiếm năm mục tiêu thì sáu sáu đồng chí hi sinh; một số đồng chí bị địch bắt, giam cầm…”
Từ từ ngước đôi mắt nhăn nheo nhìn sang phía anh Phan Văn Mưa, một người em cùng xóm, một người đồng nghiệp đã có gần bốn mươi năm làm bảo vệ trong công viên này, rồi lại đăm đăm nhìn chúng tôi, rít một hơi thuốc sâu như để xua đi cái lạnh đang tràn ngập trong lồng ngực, chú Phước thêm lần nữa khẳng định lại điều đã kể: “Hồi ấy tuy còn nhỏ nhưng hình ảnh xác những người lính và đồng bào trong hố chôn tập thể đã in đậm trong tâm trí, chẳng thể nào phai nhạt. Phần nhiều họ là bộ đội giải phóng không à. Nhiều người chỉ mười sáu, mười bảy tuổi, mà toàn là nam giới. Tôi bây giờ tuy già rồi, nhưng với những gì đã chứng kiến hôm ấy, cộng với hơn hai mươi năm làm đội trưởng cây xanh của công viên và với danh dự của một người đảng viên được kết nạp ngay tại công viên Lê Thị Riêng, tôi xin khẳng định sự thật này”.
Chúng tôi chìm vào câu chuyện quá khứ, lúc nhìn ra trời ngả về chiều, nhiều người đã đi tập thể dục trong công viên. Những cây bạch đàn xung quanh hồ soi bóng xuống mặt nước xanh thẫm gợi lên cảm giác thật bình yên. Đây cũng là lúc người đàn ông nhỏ thó, mái đầu bạc trắng như cước tên Nguyễn Văn Đức (hay Nguyễn Văn Định) sinh ngày 20/7/1951, tại địa chỉ trước Giải phóng là số 623/32 Lê Văn Duyệt, quận 10, bước những bước chân chậm rãi về nghỉ ngơi. Không sử dụng điện thoại di động, không nhà cửa, vợ con, cả cuộc đời chú gắn liền với mảnh đất nghĩa địa rồi trở thành công viên này. Kéo ghế ngồi xuống bên cạnh chú Phước, sau dăm ba câu làm quen, rất tự nhiên chú kể cho chúng tôi nghe câu chuyện chỉ như mới xảy ra ngày hôm qua thôi chứ không phải từ mấy chục năm trước nữa:
“Hồi đó, chú được chú Mười Bi cho phụ việc đạo tì trong nghĩa địa này nên chú rành lắm. Cái cây trong tấm hình là cây tràm bông vàng, mãi sau này làm công viên người ta mới đốn hạ. Khi được ông Việt kiều Mĩ cho xem tấm hình chụp thằng bé đứng bên hố chôn tập thể, chú đã nhận ra ngay đó chính là mình. Câu chuyện hồi xưa, chú nhớ lại được hết à. Mà mấy chục năm rồi, chú có đi đâu khỏi cái công viên này cơ chứ, hết làm bảo vệ lại giữ xe. Rồi bây giờ bên giữ xe họ đổi chủ khác, chú bán vé số dạo ở đây cả ngày. Hôm ấy, mỗi khi xe chở xác tới thì mấy ông đạo tì lại sắp lớp, lộn xộn, không biết ai là ai. Chú nghe nói là giải phóng quân, còn có cả dân thường, đồng bào tử nạn. Khi chôn xong, chú Mười Bi còn để ba cục đá trên ngôi mộ tập thể làm dấu, sau này không biết đi đâu mất. Cái cây sao cổ thụ ngay bên trái nhà truyền thống mình đang ngồi kế đây này, tuy không có trong hình, nhưng cùng với cái tháp nước, nó có trước khi người ta đào hố. Dựa vào gốc cây sao, chú căn ra vị trí các hố chôn ngay chóc à”.
“Thế bao nhiêu năm chú ở đây có khi nào thấy vong các liệt sĩ về không?”

Khai quật hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng. Ảnh: Duy Bằng
Chú Đức khẽ hấp háy đôi mắt rùa tròn như hai viên bi ve nói: “Chú nghe thằng Mưa kể hồi mới vô làm, có lần nó trực bảo vệ ở công viên bị ai rung giường. Nó ngồi dậy pha ấm trà rồi khấn: Tôi là bảo vệ ở đây, giữ gìn cho công viên được yên ổn, có điều gì mạo phạm mong các bác đại xá, một lần ấy rồi thôi. Còn thằng Chung, cũng là bảo vệ trực đêm gần chỗ câu lạc bộ chim cảnh, có đêm còn thấy cảnh bộ đội hô tập đội ngũ mốt - hai. Nó buột miệng la lên: “Khuya rồi, mấy ông tập gì hoài”. Vậy là nó bị một người nói giọng Bắc quát lớn: “Thằng này láo, bắt nó đi”. Thằng Chung phải đốt nhang lạy, xin các ông ấy tha lỗi, rồi cũng được yên lành cả. Còn chú thì không. Bao nhiêu năm qua, chú kiếm sống ở đây, đêm chú ngủ trong công viên này, hương khói cho các cô các chú hàng ngày ai lại làm gì mình chứ, cháu nhỉ? Nhưng có điều này linh lắm nha. Bữa ấy chú bệnh không đi bán vé số được, có hai vợ chồng người kia đem tiền lại cho rồi nói, tiền này cho chú mua đồ ăn và mua nhang thắp cho cô bác. Ủa, ngoài hai người con của cô Lê Thị Riêng ra, người lạ sao họ biết chú nhang khói cho cô bác hàng ngày, mà đúng hôm đó lại hết nhang nhỉ…”
Những liệt sĩ đầu tiên trở về
Buổi sáng ngày thứ hai sau khi những mũi xẻng công binh đầu tiên chạm xuống nền đá sỏi ở khu vực A, công viên Lê Thị Riêng, qua phần đất sáng bên trên, tới một lớp đất đỏ sẫm màu. Khẽ nhíu đôi chân mày dưới mái tóc muối tiêu, anh Mưa bồi hồi nhớ lại, rồi quả quyết, đây chính là lớp đất mà hồi năm 1987 người ta đã đào hồ đắp lên thành gò. Khi ấy anh mới làm bảo vệ trong công viên. Trong những gầu múc còn có cả những bộ xương người. Khi phát hiện, người ta dừng ngay vị trí múc hồ đến đó. Rồi chính anh Mưa cùng những người làm công trình đã đưa những bộ hài cốt này gửi lên một ngôi chùa. Về sau này, ngôi chùa ấy đã dời đi, ở vị trí Ủy ban nhân dân phường Hòa Hưng bây giờ.
Đến buổi chiều, khi mũi xẻng lấy đi lớp đất màu nâu và xám nhạt, cách mặt đất hơn 2,5m, hai lớp đất đen mềm, mỗi lớp có một vách ngăn mỏng dính chạy thành vệt dài hiện lên. Trung tá Lê Ngọc Hà, Đội trưởng Đội K74 ( Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh) cùng những người lính Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ dường như nín thở. Hít những hơi thật sâu, thở ra thật chậm để cảm giác run run chạy dài từ đỉnh đầu xuống hai bàn tay dịu dần, dịu dần, thận trọng, tỉ mỉ, các anh dùng những ngón tay biết bao năm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ sờ nắn từng miếng đất, từng nắm bùn đặc quánh…
Vài viên đạn đã rỉ sét trồi lên. Không khó để những người lính nhận ra đó là loại đạn nhọn K56 (cỡ 7,62x39mm), dùng cho súng tiểu liên và trung liên “bên mình”. Còn bên phía “đối phương”, họ sử dụng đạn loại đạn “five-five-six” nhỏ hơn (cỡ 5,56x45mm). Rồi một hộp tiếp đạn AK móp méo bị ô xi hóa ăn mòn cả gờ rãnh lộ ra giữa lòng đất. Một tiếng “Ôi…” rất khẽ ngân lên trong cuống họng ai đó. Tôi chợt nhớ lời của nhân chứng Nguyễn Đình Đạt, người khẳng định mình đã có mặt trực tiếp tại nghĩa trang Chí Hòa cùng ba và anh trai để xem “người ta chôn xác Việt Cộng” hồi sau Tết Mậu Thân trong cuộc hội thảo mới đây: “Quy trình thu dọn chiến trường của địch lúc đó là, họ sẽ lấy súng trước, rồi lấy chính băng đạn AK để lại bên cạnh xác làm dấu phân biệt. Sau đó, đội lao công mới đến khiêng các xác có băng đạn AK hoặc các vết tích như mang dép râu, đeo dây đạn súng ngắn đưa về nghĩa trang chôn tập thể. Bản thân tôi trước đó đã đi coi gom xác ở khu vực cổng xe lửa số 8 đường Hồ Văn Huê, Ngã Năm Chuồng Chó và đều thấy dấu hiệu băng đạn AK này”.
Những mảnh võng dù, những mẩu tăng cao su bộ đội mềm mục tiếp tục hiện ra trong bùn đất. Mùi nhang trầm thoang thoảng trong không gian, im lặng. Mọi người có thể nghe thấy tiếng rơi của giọt nước mắt người lính trẻ. Giọt nước mắt rơi xuống một chiếc xương đã mủn đen - là xương cánh tay liệt sĩ. Không có tiếng vỗ tay reo vui như khi hồi hộp tìm được điều quý giá, tất cả cùng lặng im, bồi hồi. Vậy là đồng đội đầu tiên đã được tìm thấy.
Nghe thông tin báo về, Thiếu tướng Trần Chí Tâm, Phó Chính ủy Quân khu 7, Trưởng Ban Chỉ đạo tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Quân khu 7 đã cho dừng một cuộc họp quan trọng, chạy thẳng đến hiện trường. Trước những di vật và bộ hài cốt đầu tiên của đồng đội được trở về sau hơn nửa thế kỉ nằm im trong lòng đất, vị tướng đầy tâm huyết với việc đi tìm hài cốt liệt sĩ bao nhiêu năm qua đã không cầm được nước mắt. Ông chia sẻ: “Ngày đầu tiên triển khai, chúng tôi đã rất lo lắng… Như vậy, những thông tin và công sức trong thời gian qua là rất chính xác”.
Đến sáng ngày mùng 6/7, khi Thủ tướng Chính phủ chủ trì lễ triển khai tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng đã có một rãnh mộ với chiều dài 25m, chiều rộng 3m, độ sâu 2,5m và bảy bộ hài cốt liệt sĩ được tìm thấy. Trong những lớp đất đen trộn lẫn xám trắng mềm nhũn nằm giữa những tầng vải mục, những chiếc xương nhỏ li ti như lóng tay chỉ cần chạm nhẹ vào đã tan thành bùn ấy, bàn tay những người lính hôm nay lần tìm được nhiều di vật của chiến sĩ đã hi sinh: Ba hộp tiếp đạn AK hết đạn, một chiếc cưa tay hoen rỉ, một cuốn sổ nhỏ ghi chép, một chiếc thắt lưng bộ đội... Đặc biệt, bên mình “bộ hài cốt liệt sĩ số 2” là một chiếc bút bi, một chiếc ví, một chiếc lược gãy nhiều răng, một lọ dầu gió thủy tinh màu trắng nắp màu xanh trống không và đặc biệt các anh còn tìm thấy một tờ quyết định xếp gọn cỡ bàn tay bọc trong túi ni lông. Tuy giấy đã ố vàng nhưng kì lạ thay, nhiều dòng chữ vẫn còn đọc được khá rõ: “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam/ Do nhu cầu công tác… khả năng/ Đạo đức của cán bộ có đề nghị của… 962/ Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định/ Đồng chí Huỳnh Văn Quên/ Tiểu đội bậc phó/… Trị Ban chỉ huy 962/ Đồng chí Quên”.
(Còn nữa)
N.H