Thứ Hai, 24/08/2026 00:40

Những người bảo vệ sự sống

Đó là quãng thời gian vô cùng ý nghĩa và nhiều kỉ niệm. Anh vẫn nhớ, ca cấp cứu đầu tiên của anh lại không phải về mắt theo đúng chuyên ngành, mà là ngoại khoa: mổ ruột thừa... (Bút kí dự thi của THÁI CHÍ THANH)

. THÁI CHÍ THANH
 

Đầu tháng 2, trong chuyến thực tế tại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức, đoàn chúng tôi được bố trí làm việc với các bác sĩ Bệnh viện Quân y 354. Với một người viết bút kí, đó thực sự là một địa chỉ đầy sức gợi. Sau những cánh cửa phòng bệnh luôn khép hờ, dọc những hành lang sáng đèn suốt ngày đêm và trong nhịp làm việc khẩn trương của bệnh viện, hẳn đang ẩn chứa biết bao câu chuyện về nghề nghiệp, về sự sống và những phận người đã đi qua lằn ranh mong manh giữa hiểm nguy và hi vọng…

Những bệnh nhân giữa trùng khơi

Thượng tá, Bác sĩ Vũ Cao Ngọc, Phó Chủ nhiệm Khoa mắt, Bệnh viện Quân y 354, trông trẻ hơn nhiều so với tuổi 40. Từ hành động đến lời nói của anh, đều toát lên vẻ nhẹ nhàng, nho nhã. Năm 2018, khi còn mang quân hàm Đại úy, Bác sĩ Vũ Cao Ngọc viết đơn xin tình nguyện ra đảo Sinh Tồn Đông. Với anh, đó là quãng thời gian vô cùng ý nghĩa và nhiều kỉ niệm. Anh vẫn nhớ, ca cấp cứu đầu tiên của anh lại không phải về mắt theo đúng chuyên ngành, mà là ngoại khoa: mổ ruột thừa. Khi đó, qua gần tháng nơi vùng đất mới, anh và kíp y tế đã nắm được sơ bộ tình hình sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 146, Vùng 4, Hải quân đóng quân trên đảo Sinh Tồn Đông và những ai hay có triệu chứng bệnh lí khác thường sẽ được để ý. Chiến sĩ Lê Nguyễn Tiến Dương, 19 tuổi - có triệu chứng ruột kích thích, cứ ăn đồ hộp là đau bụng. “Đã là lính đảo thì đồ hộp là chủ đạo chứ đòi đồ tươi như đất liền thì xung phong ra đảo làm gì?” Bác sĩ Ngọc hỏi. Vì yêu đảo, mong được ra đảo, Tiến Dương trả lời và xin bác sĩ đừng để cấp trên biết kẻo phải xa anh em trước thời hạn.

Thế rồi khoảng bảy giờ sáng ngày 3/1/2018, Tiến Dương thấy đau bụng âm ỉ, đau liên tục vùng thượng vị và quanh rốn, nhưng nghĩ đau bình thường nên cậu không đi khám. Mãi đến sáu giờ chiều cùng ngày, không chịu được, Dương mới đến bệnh xá. Ngay sau khi khám, Bác sĩ Ngọc chẩn đoán, Dương bị viêm ruột thừa cấp, cần phải tổ chức phẫu thuật ngay.

Phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa trong điều kiện như ở Bệnh viện 354 là chuyện nhỏ, chỉ mổ nội soi, rất ít xâm lấn. Nhưng ở đảo Sinh Tồn Đông này, lại là thách thức. Ở đây, chỉ có anh là bác sĩ… nhưng lại là bác sĩ chuyên khoa mắt. Phương tiện mổ, thuốc thang, cái gì cũng thiếu, làm sao phẫu thuật được. Mặt khác, chẩn đoán có thể sai, lỡ bệnh nhân không phải đau ruột thừa, mà viêm ruột non hay nội tạng nào đó thì phải khâu lại, mổ chỗ khác, e không đủ thời gian và bệnh nhân cũng khó đủ sức để vượt qua. Vả lại, trên đảo, cơ sở y tế chỉ là bệnh xá loại 3, chứ không không phải loại 1, loại 2 như các đảo lớn khác có bác sĩ nội, ngoại khoa và cơ sở vật chất đầy đủ hơn, đủ phương tiện cầm máu… Và nữa, kíp mổ của Ngọc không có chụp X-quang, không có máy siêu âm, chỉ dựa vào chẩn đoán lâm sàng của bác sĩ chữa mắt, nên rất có thể rủi ro, sai sót xảy ra. Đặc biệt phẫu thuật không có dao điện để cầm máu, nên mổ thủ công phải mổ phanh rộng hơn để có thể dùng những dây nhỏ, buộc cơ học từng mạch máu nhỏ các động mạnh chủ. Chuyển vào đất liền ư? Nếu thuận lợi cũng phải mất hai ngày hai đêm mới tới. Mà theo chẩn đoán thì bệnh nhân chỉ còn khoảng chục tiếng đồng hồ nữa sẽ vỡ ruột thừa, dẫn đến viêm phúc mạc, cũng có nghĩa là cơ hội sống bằng không. Không thể để đồng đội nằm đợi cái chết được báo trước. Phải tận dụng mọi điều kiện có thể để cứu Dương. Nếu ca phẫu thuật chưa hoàn hảo thì còn có tàu chuyển vào đất liền, nghĩa là Dương còn cơ hội sống…

Nghĩ vậy, Vũ Cao Ngọc liền trao đổi với tổ quân y rồi điện về lãnh đạo Bệnh viện 354 ở Hà Nội. Sau khi xin ý kiến chỉ đạo qua hệ thống Telemedicine và được Ban Giám đốc đồng ý, kíp phẫu thuật của bệnh xá đảo Sinh Tồn Đông do anh cùng các điều dưỡng An Viết Diệp, Nguyễn Duy Hoàn, Nguyễn Quang Huy đã khẩn trương chuẩn bị và tổ chức phẫu thuật, mổ phanh, dưới sự chỉ đạo chuyên môn của Đại tá Tạ Duy Dũng, Phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 354 và các bác sĩ Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Quốc Khánh.

Ca phẫu thuật diễn ra trong sự tập trung cao độ, căng thẳng của kíp mổ. Dù không phải mùa nóng mà mồ hôi Ngọc cứ tứa đầy trên mặt, điều dưỡng viên liên tục thấm cho anh. Sau hai tiếng đồng hồ, ca mổ được tiến hành thuận lợi và thành công hơn cả mong đợi. Sau phẫu thuật, mạch, huyết áp của bệnh nhân dần ổn định, vết mổ nhanh khô, không thấm dịch, chỉ điều trị 7 ngày, chiến sĩ Lê Nguyễn Tiến Dương xuất viện, bắt đầu hoạt động nhẹ và sau đó trở nên nhanh nhẹn, khỏe khoắn hơn trước khi phẫu thuật.

Ngày hoàn thành nhiệm vụ trên đảo để về đất liền, lúc chia tay, Dương rơm rớm nước mắt, ôm lấy bác sĩ Ngọc và các điều dưỡng viên giọng xúc động: “Cảm ơn các anh chị đã cứu em, khai sinh cho em lần thứ hai…”

Sau ca mổ ấy, anh và tổ quân y còn cứu được một trường hợp viêm ruột thừa cấp là một quân nhân chuyên nghiệp với sự tự tin hơn, thời gian ngắn hơn nhờ kinh nghiệm mổ lần đầu…

Kể đến đây, nhìn ánh mắt thán phục của tôi, Bác sĩ Ngọc cười bảo: Nhưng vẫn chưa bằng ở đảo khác anh ạ, vì điều kiện giai đoạn đầu thiếu thốn, có bác sĩ phải mổ ruột thừa bằng dao cạo râu - panh xa lam để kịp cứu một ca đặc biệt. Thầy thuốc ở đảo xa, trong hoàn cảnh cái khó ló cái khôn thì không gì là không thể…

Không chỉ mổ ruột thừa, ở đảo còn trường hợp mà các bác sĩ hay gặp nữa là bệnh nhân bị sốc phản vệ do sứa đốt. Đó một chiều tháng sáu, biển yên ả. Ngọc cùng tổ quân y cũng vừa xong việc tưới mấy luống rau thì chợt nghe tiếng gọi gấp gáp từ phía bãi biển: “Bác sĩ! Bác sĩ ơi!”. Ngọc thấy từ bãi tắm, mấy chiến sĩ đang dìu một người đi nhanh về phía trạm quân y. Người đồng đội bị nạn gần như không tự đi được, đầu ngả ra sau, chân bước loạng choạng. Vừa tới nơi, họ đặt anh xuống chiếc giường cấp cứu. Ngọc cúi sát nhìn. Da người lính đỏ bừng, nổi từng mảng mề đay loang khắp ngực và cổ. Môi hơi tím, hơi thở gấp và nông.

Không chờ Ngọc hỏi, một chiến sĩ nói trong hơi thở dốc: “Báo cáo bác sĩ… đồng chí Hoàng Văn Huê đang tắm thì bị con sứa quấn vào người… mới đầu kêu rát… sau kêu khó thở, chóng mặt”.

Ngọc nhìn những vệt đỏ dài như sợi roi chạy dọc cánh tay và sườn, hiểu ngay người sốc phản vệ vì độc tố sứa. Nhưng điều khiến anh lo hơn là tình trạng toàn thân của bệnh nhân đã chuyển sang trạng thái tê liệt, mạch yếu dần, huyết áp tụt nhanh và bắt đầu thở khò khè vì phù đường thở… Hiện trạng bệnh nhân đang dẫn đến giai đoạn nguy hiểm là co giật, ngừng thở, ngừng nhịp tim. Ở đất liền, ca như thế này đã nguy hiểm, đảo xa, giữa trùng khơi, mọi thiết bị, thuốc thang đều thiếu thì càng nguy hiểm hơn. Khác với ca mổ ruột thừa, cấp cứu sốc phản vệ rất cấp bách, cần phải quyết đoán, chủ động, độc lập tác chiến để kịp cứu mạng sống của đồng đội. Ngọc lệnh cho điều dưỡng cấp cứu ngay.

Anh trực tiếp tiêm mũi adrenalin vào bắp đùi rồi bảo các điều dưỡng viên chuẩn bị thuốc kháng dị ứng và truyền dịch. Sau khi đã thực hiện những bước quan trọng nhất, bệnh nhân vẫn chưa có biến chuyển, thậm chí có biểu hiện ngưng nhịp tim và thở đứt đoạn. Ngọc cho trợ tim và thở bằng ô xi. Chiến sĩ Huê vẫn thở khó, cổ họng khò khè như có gì chặn lại. Ngọc cúi xuống, áp tai gần miệng bệnh nhân, lắng nghe. Sau hơn chục phút, bệnh nhân bớt thở gấp. Tiếng khò khè nhẹ đi. Mạch đã rõ hơn, nhưng vẫn nhanh… Dẫu sao cũng qua cơn hiểm nghèo, Ngọc thấy đỡ căng thẳng hơn.

Ở ngoài trạm xá, mọi người lo lắng theo dõi hoạt động cấp cứu của tổ quân y. Mãi hơn tiếng sau, khi Ngọc bước ra, kéo khẩu trang xuống, để lộ khuôn mặt đầm đìa mồ hôi đang sáng lên với niềm vui của người chiến thắng, thông báo: “ổn rồi” thì những tiếng reo vang mới vỡ òa, hoà trong tiếng sóng mênh mang của biển…

Không chỉ chữa bệnh cho cán bộ, chiến sĩ trên đảo, Ngọc cùng anh em còn khám điều trị cho ngư dân bám biển bởi từ lâu đảo Sinh Tồn Đông là một địa chỉ tin cậy của ngư dân vùng ven biển miền Trung đi đánh bắt cá xa bờ. Không chỉ vào tránh trú bão tố hay gặp sự cố bất ngờ, đảo còn giúp đỡ lương thực, nước ngọt và nhất là chẳng may có người đổ bệnh hoặc bị chấn thương bất ngờ giữa đại dương.

Ngọc nhớ mãi lần cấp cứu cho một ca ngư dân, do huyết áp đột ngột tăng cao, đang cường tráng khỏe mạnh bỗng bị co giật, liệt nửa người rồi ngã từ trên tầng hai của tàu xuống. Nhận tín hiệu cấp cứu, Ngọc cùng ê kíp đã khẩn trương cứu chữa. Khi ổn định rồi còn hướng dẫn cho ngư dân trên tàu cách thay dịch truyền trong khi tàu tiếp tục vào bờ. Vài ngày sau bệnh nhân được cấp cứu tại bệnh viện Đà Nẵng. Bẵng đi đến nửa năm sau, bất ngờ Ngọc nhận được điện thoại của vợ ngư dân đó gọi cảm ơn, báo tin chồng chị đã khỏe lại…

Nghe chuyện của bác sĩ Vũ Cao Ngọc, tôi chợt nghĩ, khó khăn của nghề y trong những điều kiện ngặt nghèo, thiếu thốn, ở thời nào cũng có. Cái quan trọng nhất không phải là hoàn cảnh mà là đối diện một - một với bệnh nhân đau đớn trước mặt và chợt nhớ tới một kỉ niệm mà mình đã trải qua trong chiến tranh. Năm ấy, 1965, tôi vừa tròn mười hai tuổi. Cùng cha mẹ và các cô chú trong bệnh viện miền núi Quỳ Châu, tôi đi sơ tán khỏi thị trấn, xây lán trại ven rừng làm việc cho an toàn. Chiều hôm đó, một tốp máy bay Mĩ theo đường 48 bay tới rồi bất ngờ bổ nhào ném bom xuống làng Đò Ham, cách nơi sơ tán của bệnh viện gần chục cây số. Nhiều người chết và bị thương. Chẳng bao lâu sau, từng chuyến cáng nối nhau đưa nạn nhân về bệnh viện.

Khu điều trị vốn yên tĩnh bỗng chộn rộn khác thường. Người bị thương nằm kín các giường bệnh, những chiếc cáng đặt kín cả hành lang. Có người nằm bất động, mặt tái nhợt. Có người quằn quại vì đau đớn. Vài thi thể đã được phủ kín bằng những tấm vải trắng. Tiếng khóc của người thân, tiếng gọi nhau, tiếng bước chân chạy vội hòa lẫn thành một bầu không khí não nề. Ngày ấy chưa có điện. Các y bác sĩ cứu chữa bệnh nhân dưới ánh đèn dầu, đèn bão, chỉ riêng phòng mổ được trang bị một ngọn đèn măng-sông. Tò mò, tôi đến đứng ngoài cửa sổ nhìn vào. Dưới ánh sáng trắng xanh, tôi nhận ra bác sĩ Triêm cùng kíp mổ, trong đó có mẹ tôi, đang chăm chú quanh một bệnh nhân bị thương rất nặng. Không khí trong phòng căng như dây đàn. Bỗng chiếc đèn măng-sông đặt trên chiếc ghế kê chồng lên bàn gỗ phát ra tiếng xì xì rồi ánh sáng đỏ dần, tối sầm lại. Bác sĩ Triêm ngoảnh ra, nhìn thấy tôi vội nói to: “Cháu chạy gọi chú Chư đến bơm đèn! Nhanh lên!”. Tôi cuống quýt chạy đi tìm nhưng không gặp. Khi quay lại, một y tá đang định cầm bơm. Tôi mạnh dạn nói: “Để cháu bơm được không ạ?”. Người y tá nhìn bác sĩ Triêm chờ ý kiến. Ông khẽ gật đầu: “Thanh đứng hẳn lên bàn mà bơm cho chắc”. Tôi leo lên bàn, một tay giữ đèn, một tay đều đặn bơm.

Ca mổ tiếp tục. Căn phòng đặc mùi ê-te, mùi cồn và mùi dầu hỏa. Tiếng đèn măng-sông cháy đều, phát ra âm thanh ro ro rất khẽ, nghe như tiếng dế trong đêm. Từ vị trí cao hơn mọi người, tôi nhìn thấy các thầy thuốc đang khẩn trương làm việc. Những chiếc panh, kéo, kẹp liên tục được chuyền từ tay người phụ mổ sang bác sĩ. Thỉnh thoảng bệnh nhân lại khẽ rên lên dưới lớp khăn phủ. Mọi động tác đều nhanh nhưng tuyệt đối cẩn trọng.

Một lúc sau, bác sĩ Triêm lại ngước lên: “Cháu xuống khoa dược báo cô Ba chuyển thêm một đơn vị máu”. Tôi “vâng” rồi lao đi như một chú liên lạc nhỏ đang nhận nhiệm vụ khẩn cấp. Giờ nhớ lại, lúc ấy tôi không có chút cảm giác sợ hãi nào. Trong lòng chỉ thấy háo hức vì mình cũng góp được chút việc vào cuộc chạy đua giành lại sự sống cho người bị thương.

Khi cô Ba mang máu lên, tôi nhìn những giọt đỏ sẫm đang chậm rãi chảy qua ống truyền trong suốt vào cơ thể bệnh nhân tiếp thêm sự sống lòng thấp thỏm âu lo…

Rồi bất ngờ, tiếng kẻng báo động vang lên. Máy bay địch lại tới.

Ngoài sân bệnh viện nhốn nháo. Bệnh nhân được dìu xuống hầm trú ẩn. Các ngọn đèn đều được che kín để khỏi lộ ánh sáng. Nghe tiếng động cơ ù ù trên đầu, mẹ nhìn tôi, khẽ ra hiệu xuống hầm. Tôi nhìn quanh, không một ai trong kíp mổ rời vị trí. Những đôi tay vẫn miệt mài bên bàn mổ như không biết có tiếng máy bay trên bầu trời. Nếu các bác sĩ còn ở đây để cứu người thì tôi cũng không thể bỏ chạy.

Lúc lâu, tiếng kẻng báo yên vang lên. Cùng lúc ấy, bác sĩ Triêm dùng kẹp gắp được mảnh bom ra khỏi cơ thể bệnh nhân. Mảnh gang nhỏ rơi xuống khay inox phát ra một tiếng “keng” khô và lạnh. Mọi người nhìn nhau. Một hơi thở phào nhẹ nhõm lan khắp căn phòng. Lúc ấy đã hơn mười giờ đêm, ca mổ thành công. Nhưng vẫn còn nhiều bệnh nhân nguy kịch đang chờ cấp cứu. Và mãi đến khuya, bác sĩ Triêm mới cho kíp mổ về nhà “tập đoàn” - khu bếp ăn tập thể của bệnh viện. Ở đó, chị cấp dưỡng đã nấu sẵn một nồi cháo gà nóng hổi. Mẹ tôi múc cho mỗi người một bát rồi kính cẩn đặt bát đầu tiên trước mặt bác sĩ Triêm. Ông mỉm cười, đẩy bát cháo sang phía tôi: “Công của cháu không ít đâu. Cảm ơn nhóc nhé!”. Tôi lặng người vì xúc động, lặng lẽ thưởng thức bát cháo gà ngon nhất cuộc đời mình. Ngồi chờ tôi ăn xong, bác sĩ Triêm bảo mẹ đưa tôi về, còn mình thì cùng mấy người trở lại khu điều trị. Trong lúc chờ mẹ đang nán lại giúp mấy cô cấp dưỡng dọn bàn ăn thì lại một tốp y bác sĩ khác tranh thủ về “tập đoàn” ăn cháo gà sau những giờ phút chạy đua với tử thần cứu người. Cũng như tốp bác sĩ trước đó, ai cũng ngồi thừ ra, như buông lỏng, như tận hưởng những giây phút yên tĩnh quý báu giữa hai ca mổ căng thẳng để cứu người. Đó là kí ức đầu tiên để tôi hiểu những khoảng lặng bình yên, đẹp đẽ của cuộc đời.

Sau này, tôi còn chứng kiến bao khoảng lặng khác. Có những khoảng lặng trong chiến trường như khi pháo địch chuyển làn rồi câm bặt, trời không một tiếng động cơ máy bay, ấy là lúc quân địch chuẩn bị dồn tổng lực xông lên chiếm lĩnh trận địa. Đó là khoảng lặng chết chóc. Nhưng cũng có những khoảng lặng rất bình yên xuất hiện ở những nơi tưởng như không thể như ở trên. Trả lời câu hỏi của tôi về một “khoảng lặng đẹp đẽ” của mình nơi đảo tiền tiêu, Bác sĩ Ngọc khẽ mỉm cười rồi kể. Một lần, sau cơn mưa trưa bất chợt tháng tư nơi đảo Sinh Tồn Đông, Ngọc ngồi trên tảng đá nhỏ, khuất sau mấy cây bàng vuông và bể nước ngọt - nơi mát nhất của đảo để hóng gió biển. Bỗng có ba chiến sĩ xuất hiện, nhìn quanh, vẻ lén lút. Thấy lạ, anh nép vào thân cây bàng theo dõi. Ba chiến sĩ bước đến nhẹ nhàng, một người trên tay cầm một chai nước lọc chỉ còn đôi đốt ngón tay, đổ vào một hốc đá san hô gần đấy, rồi lẳng lặng lui ra, nấp sau bể nước. Để làm gì chứ? Ngọc thấy lạ vì đang thời kì khan nước ngọt nhất, tiêu chuẩn mỗi người chỉ 2 - 5 lít một ngày, đến việc giặt giũ, tắm rửa cũng phải dùng nước biển, chỉ được tráng nước ngọt. Vậy mà…

Chưa tìm ra câu giải đáp, thì thật bất ngờ, có hai con cò trắng bay đến đậu cạnh bể nước lớn của đảo rồi thủng thẳng đến bên một hốc đá san hô để uống chút nước mà cậu chiến sĩ vừa đổ vào. Đôi cò trắng, chắc chắn là cặp vợ chồng hoặc đôi uyên ương, Ngọc nghĩ vậy, đang trú ngụ đâu đấy gần đảo, thèm nước ngọt nên mới đến tìm. Dường như đã qua cơn khát, đôi cò đập đập cánh mấy lần như khoan khoái lắm rồi tung cánh bay xa, lẫn vào những áng mây trắng đang lênh bênh trên mặt biển… Ngọc khẽ bước lại, giật mình vì bị bắt quả tang, ba chiến sĩ thú thật, họ gặp cặp cò trắng hay đến uống nước ở hốc đá kia lâu rồi. Nên cả ba bàn nhau bí mật hàng ngày chia sẻ cho chúng đôi ngụm nước uống của mình. Tất nhiên, Ngọc rất cảm động, và xin được góp cùng họ mỗi ngày một ngụm cho đến lúc qua mùa nắng hạn…

 

Những nhiệm vụ “đột xuất”

Không chỉ bảo đảm y tế cho đảo Sinh Tồn Đông, y bác sĩ viện Quân y 354 còn tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tham gia cứu hộ cứu nạn động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar, phòng chống dịch bệnh Covid -19…

Ngồi trước mặt tôi là bác sĩ, Thiếu tá Nguyễn Duy Tân, sinh năm 1991, hiện công tác tại Khoa Cấp cứu ban đầu. Dáng người nhanh nhẹn, gương mặt hiền và ánh mắt luôn ánh lên vẻ cởi mở, Tân còn khá trẻ so với những gì anh đã trải qua trong nghề. Nếu chỉ gặp anh trong phòng cấp cứu của bệnh viện, hẳn ít ai nghĩ rằng người bác sĩ ấy đã từng có mặt ở những nơi khốc liệt nhất của thiên tai, dịch bệnh trong và ngoài nước.

Tân vốn là học sinh chuyên Toán của Trường THPT Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội. Con đường đời có thể đã đưa anh đến nhiều lựa chọn khác, nhưng cuối cùng anh chọn khoác lên mình màu áo lính quân y. Và bước ngoặt lớn đầu tiên trong nghề của Nguyễn Duy Tân đến vào mùa hè năm 2021. Thành phố Hồ Chí Minh khi ấy đang ở những ngày căng thẳng nhất của đại dịch Covid-19. Những con hẻm vốn đông đúc trở nên im lìm sau lớp rào chắn. Tiếng còi xe cấp cứu nhiều khi vang lên giữa đêm khuya như một tín hiệu báo động về cuộc chiến giành giật sự sống.

Trong kí ức đồng đội, người bác sĩ quân y trẻ ấy thường xuất hiện trong bộ đồ bảo hộ kín mít, vừa đặt vội bát cơm xuống đã lập tức vác bình oxy lao vào những con hẻm sâu để cấp cứu bệnh nhân chuyển nặng. Những bước chân tất tả ấy không chỉ mang theo oxy mà còn mang theo niềm hi vọng của nhiều gia đình đang đứng trước ranh giới sinh tử.

Chính những tháng ngày ở tâm dịch đã tôi luyện bản lĩnh của Nguyễn Duy Tân. Và rồi, vào tháng 2/2023, sau trận động đất kinh hoàng tại Thổ Nhĩ Kỳ, anh là một trong những quân nhân lên đường tới tỉnh Hatay. Giữa cái lạnh cắt da và những đống đổ nát còn tiềm ẩn nguy cơ sập xuống bất cứ lúc nào, anh cùng đồng đội ngày đêm chăm sóc nạn nhân, hỗ trợ lực lượng cứu hộ và thực hiện công tác y tế dã chiến. Ở nơi xa Tổ quốc hàng nghìn cây số, hình ảnh người lính quân y Việt Nam tận tụy, nhân hậu đã để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người dân sở tại…

Chưa hết, hai năm sau, tháng 4/2025, anh lại tiếp tục có mặt trong đoàn công tác sang Myanmar tham gia cứu trợ sau động đất. Thêm một lần nữa, đôi chân của người bác sĩ trẻ bước qua biên giới, mang theo tinh thần nhân ái và trách nhiệm của người lính Việt Nam đến với những con người đang cần giúp đỡ.

Vẫn câu chuyện người lính Bệnh viện Quân y 354 từng tham gia nhiệm vụ quốc tế, tôi đã gặp bác sĩ, Thiếu tá Hồ Vinh Hiển. Anh tâm sự, trong quãng thời gian tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở Nam Sudan, anh chỉ mong sao ngày trở về đất Việt được ngụp lặn trong con sông trong xanh nơi quê nhà. Nỗi nhớ trở thành sự thèm khát đó bởi trên đất bạn khô cằn mọi thứ đều liên quan đến nước, bắt đầu từ nước.

Từ ba giờ sáng, khi bóng tối còn phủ kín doanh trại và phần lớn thế giới vẫn đang ngủ, bác sĩ Hiển đã thức dậy cùng đồng đội. Trên vùng đất khô khát này, ngày mới không bắt đầu bằng tiếng gà gáy hay ánh bình minh mà bằng một hành trình đặc biệt: đi tìm nước. Chiếc xe chở những bồn chứa chậm rãi lăn bánh trên con đường bụi đỏ. Hơn hai chục cây số đến điểm lấy nước. Đến nơi lại tiếp tục xếp hàng chờ đợi giữa những đoàn xe của các lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Nước mang về chưa thể sử dụng ngay mà còn phải qua nhiều công đoạn xử lí để giảm độ mặn, loại bỏ các khoáng chất dễ gây kích ứng da và bệnh tật.

Là bác sĩ chuyên khoa da liễu, Hiển cùng đồng đội đi đến các làng mạc, trường học, khu dân cư và cả những trại giam xa xôi để khám chữa bệnh cho người dân địa phương. Ở đâu có những người lính quân y Việt Nam xuất hiện, ở đó dường như cũng có thêm niềm tin và sự gần gũi, gắn kết. Hiển nhớ, có lần sau buổi khám bệnh, một cụ già mang đến tặng vài quả ớt đỏ và ít rau xanh. Món quà nhỏ bé ấy gần như chẳng có giá trị vật chất, nhưng với những người lính xa quê, nó thật quý giá, giống như một dòng nước mát bất ngờ chảy qua vùng đất khô cằn của nỗi nhớ nhà vậy.

Giờ ngồi đây, trong ánh mắt xúc động, Hiển không thể nào quên anh đã tham gia rất nhiều vào những cuộc chiến giành giật từ tay thần chết đưa người bệnh trở về cõi sống ở bên nước bạn. Như có lần, các anh gặp trường hợp sản phụ 36 tuổi, mang thai đôi trong tình trạng nguy kịch. Trên quãng đường chuyển viện đầy ổ gà và hiểm trở, mỗi cú xóc đều khiến các nhân viên y tế nín thở. Khi nhận được tin cả người mẹ và hai đứa trẻ đều an toàn, mọi căng thẳng mới thực sự tan biến. Hay như trường hợp bệnh nhân bị đứt rời cánh tay được cứu chữa trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Rồi những ca sốt rét ác tính, những trường hợp xuất huyết nặng, những bệnh nhân viêm phúc mạc do ruột thừa vỡ được cứu sống bằng trình độ chuyên môn và sự tận tụy của các bác sĩ Việt Nam.

Và không chỉ chữa bệnh, các chiến sĩ Việt Nam còn cải tạo đất, trồng rau, hướng dẫn người dân cách chăm sóc cây trồng. Những luống rau xanh dần hiện lên giữa vùng đất bạc màu. Rồi khi lũ trẻ quanh doanh trại thường tìm cách trèo qua hàng rào để hái rau hoặc nhặt vài món đồ nhỏ, những người lính Việt Nam không bao giờ quát mắng. Các anh gọi các em bé lại, nhẹ nhàng giải thích rồi cho thêm bánh kẹo mang về. Từ những cử chỉ giản dị ấy, những ánh mắt dè dặt dần trở thành những nụ cười thân thuộc…

Ngày trở về Việt Nam, điều bác sĩ Hồ Vinh Hiển mang theo không phải là những tấm bằng khen hay những con số thống kê. Mà đó là kỉ niệm về những chuyến xe đi lấy nước trong đêm, là những bệnh nhân được cứu sống, là nụ cười của trẻ nhỏ bên hàng rào doanh trại. Bởi cuối cùng, công việc của người thầy thuốc cũng giống như hành trình tìm nước giữa vùng đất hạn, đó là hành trình đi tìm, gìn giữ và trao lại sự sống cho con người…

Quả thật, nếu không có lòng nhân ái, trách nhiệm, sự hi sinh của các bác sĩ quân y thì chính tôi - một cựu binh thời chống Mĩ và nhiều đồng đội khác nữa trên khắp miền đất nước, đã chẳng có ngày trở về nhìn thấy hòa bình, tiếp tục mơ ước còn dở dang trên giảng đường đại học của mình… Lúc này đây, nhìn các khuôn mặt y bác sĩ trẻ xung quanh, tôi chợt nhớ đến anh Hưng, y tá tiểu đoàn tôi ngày xưa…

Đận đó, vào tháng 9/1972, quân địch mở những đợt lấn chiếm dữ dội, đẩy các đơn vị của ta lùi dần về phía tây bắc tỉnh Thừa Thiên. Đơn vị tôi đang đứng chân bên sông Ô Lâu nhận lệnh rút về phía bắc sông Mỹ Chánh. Lúc ấy tôi vừa qua cơn sốt rét ác tính, người gầy rộc, thừa sống thiếu chết, bước đi không vững. Y tá tiểu đoàn là anh Hưng cùng hai đồng đội khác nhận nhiệm vụ dìu đỡ tôi đi sau cùng đội hình. Gần tới trục đường tuyến thì pháo địch bất ngờ dội xuống cấp tập. Giữa khoảng đất trống chỉ có một hầm chữ A bị sập mất một đầu, bùn đất tràn vào ngập nửa hầm. Bốn chúng tôi lao tới, chui đầu vào trú ẩn. Hầm quá nông, chỉ đủ che phần thân trên, còn cả bốn đôi chân vẫn lộ ra ngoài.

Đợt pháo kích kéo dài tưởng như vô tận rồi cũng qua đi. Tôi cùng hai đồng đội bò ra trước. Riêng Hưng vẫn nằm quằn quại trong hầm. Chúng tôi kéo anh ra, gột lớp bùn nhầy nhụa lẫn máu mới phát hiện một mảnh pháo đã cắm sâu vào ống chân phải. Lúc ấy tôi quên mất mình đang là bệnh nhân. Cả ba người hợp sức cõng Hưng rời khỏi tọa độ vừa bị pháo kích. Mặt Hưng tái nhợt vì đau đớn. Một đồng đội mở túi cứu thương của anh lấy bông băng và thuốc. Dù đang đau vật vã, Hưng vẫn tỉnh táo hướng dẫn chúng tôi ga-rô cầm máu, chặt cây làm nẹp cố định. Chỉ nhìn qua vết thương, anh đã biết mảnh đạn làm gãy xương ống chân. Sau khi sơ cứu, chúng tôi lấy võng làm cáng, thay nhau khiêng Hưng men theo những lối mòn ngoằn ngoèo dưới tán rừng. Địch vừa chiếm được nhiều cao điểm, chỉ cần lộ mục tiêu là pháo binh hoặc máy bay sẽ lập tức trút lửa xuống.

Quãng đường chưa đầy hai chục cây số, vậy mà chúng tôi phải đi mất hai ngày mới tới được bờ nam sông Mỹ Chánh. Lúc ấy chân Hưng đã sưng vù, tím đen và có dấu hiệu hoại tử. Khi tỉnh, anh thường dặn chúng tôi rằng nếu cần thì cứ cắt bỏ chân để cứu mạng. Nghe vậy, tôi chỉ biết quay mặt đi. Người đã cứu chữa cho biết bao đồng đội nay lại bất lực nằm đó chờ người khác cứu mình.

Lúc này đang giữa mùa mưa, trời đất đặc quánh nước. Con sông Mỹ Chánh mà chúng tôi vẫn thường lội qua nay biến thành dòng nước lũ đục ngầu, cuồn cuộn chảy. Hàng trăm thương bệnh binh ùn lại ở bờ nam, không thể vượt sông. Trong trạm thu dung lúc ấy có một bác sĩ ngoại khoa đi theo đoàn thương binh của Sư đoàn 2 từ Động Chuối ra tuyến sau. Ông là người Nghệ An, đồng hương với tôi. Sau khi thăm khám cho Hưng, ông lặng người rất lâu rồi khẽ lắc đầu: “Hoại tử rồi. Không cắt bỏ phần chân dưới thì khó giữ được tính mạng”. Hưng nghe rõ từng lời. Đôi mắt anh nhắm lại, nhưng thoáng qua anh bỗng như người khác, hướng về phía bác sĩ, nói rất rõ ràng: “Thưa bác sĩ, nếu vậy thì cắt thôi!” Vị bác sĩ thở dài: “Tôi có thể làm. Nhưng lấy gì để cắt? Tôi không mang theo cưa xương, cũng không có thuốc mê…” Không gian như đặc lại. Hưng lại lên tiếng. Giọng anh tuy yếu nhưng rành rọt: “Bác sĩ cứ cắt đi. Tôi chịu được. Chỉ mong còn sống về với vợ con...” Bác sĩ nhìn anh rất lâu rồi buồn bã nhắc lại lí do không cưa chân được: “Nhưng lấy đâu ra cưa xương?”. Bỗng mắt Hưng sáng lên. Anh chỉ về phía tôi: “Đồng chí ấy có cưa”. Tôi ngớ người, hỏi lại: “Sao tôi có được?”. Vẫn giọng đầy lạc quan, Hưng nói tiếp: “Cái dây kéo lửa ấy!”. Tôi lục trong ba lô, lấy sợi dây, chẳng biết làm bằng chất gì, nhưng giúp chúng tôi “làm lửa” để nấu cơm, dù trời mưa gió, chỉ cần kéo vào bất cứ vật gì cũng nóng dẫy lên, dí mẩu thuốc TNT, hay lá khô là có lửa. Sợi dây này tôi lấy từ dây pháo sáng của địch sau một trận đánh. Tôi chưa kịp hiểu ý của Hưng thì bác sĩ đồng hương reo lên: “Hiểu rồi!”. Ông cầm sợi dây, lấy một đoạn tre làm cần, căng sợi dây như cánh cung để làm cưa.

Rồi cuộc phẫu thuật bắt đầu. Hưng yêu cầu chúng tôi trói chặt tay chân anh vào chiếc giường tre trong lán. Anh còn bảo lấy một khúc gỗ rửa sạch để anh cắn giữa hai hàm răng. Không thuốc mê. Không thuốc tê. Chỉ có ý chí sinh tồn của một người lính.

Và cả đời này tôi không bao giờ quên được hình ảnh vị bác sĩ cúi gập người, hai tay kéo đi kéo lại sợi dây pháo sáng trên phần xương chân đã hoại tử. Máu đen rỉ ra. Mùi thịt cháy khét quyện với hơi đất ẩm. Và sau đó là những hạt bụi trắng từ xương bắn lên theo từng nhịp cưa. Mỗi lần lưỡi cưa chạm sâu vào xương, toàn thân Hưng lại cong bật lên. Những sợi dây trói căng cứng. Các bắp cơ nổi cuồn cuộn. Tiếng rên bị chặn lại sau khúc gỗ chỉ còn thành những âm thanh nghẹn đặc trong cổ họng. Rồi đến một lúc, Hưng không còn giãy nữa. Anh đã lịm đi.

Ca phẫu thuật kết thúc. Vị bác sĩ ngồi phệt xuống đất, mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt hốc hác. Ông nhìn chúng tôi rồi nói, giọng lạc hẳn: “Tôi chưa từng thấy ai chịu đựng được như thế. Bái phục!”. Khi tỉnh lại, Hưng xin nhìn lần cuối phần chân vừa bị cắt bỏ. Chiếc giày bộ đội vẫn còn nguyên trên bàn chân ấy. Chúng tôi lặng lẽ mang đi chôn bên cạnh lán.

Đêm hôm đó, công binh căng được hai sợi dây vượt sông Mỹ Chánh. Tình hình vô cùng khẩn cấp vì quân địch đã áp sát khu vực. Nhưng Hưng chưa thể ngâm mình trong nước lũ. Theo chỉ dẫn của bác sĩ, chúng tôi chặt cây chuối, ghép thêm khúc gỗ làm thành một chiếc bè nhỏ rồi buộc vào hai sợi dây vượt sông.

Mờ sáng hôm sau, chiếc bè chở người thương binh cụt chân lặng lẽ trôi sang bờ bắc.

Hưng đã sống. Sau đó, anh được chuyển về trại thương binh ở Quỳ Hợp, Nghệ An điều trị rồi xuất ngũ. Đơn vị mất liên lạc với anh từ đó…

Mãi nhiều năm sau, khi tìm lại được đồng đội cũ, chúng tôi mới lần ra địa chỉ của Hưng. Cả nhóm cựu chiến binh hẹn nhau đến thăm. Nhưng chúng tôi đã đến muộn. Hưng vừa qua đời không lâu. Đón chúng tôi là người vợ hiền của anh. Sau khi thắp hương trước phần mộ bạn mình, chúng tôi được chị kể rằng những năm tháng còn lại, Hưng sống rất thanh thản bên gia đình. Người con trai duy nhất của anh tiếp nối nghề y của cha, hiện đang là nghiên cứu sinh tại một bệnh viện lớn ở Hoa Kì và chuẩn bị trở về nước làm việc. Nghe câu chuyện ấy, tôi thấy sống mũi cay cay. Ngày nào, trên bờ nam sông Mỹ Chánh mưa trắng trời, người y tá ấy đã giành giật sự sống từng giờ từng phút. Có lẽ anh không ngờ rằng sự sống mình giữ lại được năm ấy sẽ tiếp tục nảy nở qua một người con nối nghiệp cứu người.

Chợt trong nhóm cựu chiến binh chúng tôi có người đề xuất, làm cuộc hành trình về lại chiến trường xưa, thăm lại nam sông Mỹ Chánh. Cả nhóm hào hứng đồng ý ngay. Vợ của Hưng xin nhóm chờ người con từ Mĩ về đi cùng, vì biết đâu nó tìm lại được chiếc chân của cha chôn ngày nào bên bờ sông ấy. Nghe vậy, cả lũ chúng tôi ớ ra, mắt dồn vào người vợ của đồng đội như những kẻ có lỗi. Tất nhiên rồi, phải tổ chức một chuyến về thăm chiến trường xưa, thăm dòng sông Mỹ Chánh với bao kỉ niệm vui buồn. Phải có vợ và con Hưng đi cùng. Và chúng tôi sẽ đi vào mùa khô, khi dòng trong lành, êm dịu nhất…

*

*          *

Buổi chiều hôm ấy, khi rời Bệnh viện Quân y 354, tôi còn ngoái nhìn những dãy nhà trắng thấp thoáng sau hàng cây xanh. Nơi ấy, những bác sĩ mà tôi vừa gặp lại trở về với công việc thường ngày của mình. Có người chuẩn bị bước vào ca trực đêm. Có người đang ở phòng cấp cứu. Có người lại tất bật với những hồ sơ bệnh án còn dang dở. Nhìn họ, tôi chợt nhớ đến những khuôn mặt của một thời đã xa. Đó là bác sĩ Triêm dưới ngọn đèn măng-sông giữa núi rừng Quỳ Châu năm 1965. Đó là người y tá Hưng trên bờ nam sông Mỹ Chánh mùa mưa năm 1972. Những con người mà tôi từng gặp từ thuở thiếu thời, giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất.

Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua. Chiến tranh đã lùi xa. Những phòng mổ dã chiến ngày nào đã được thay bằng những bệnh viện hiện đại. Những chuyến tải thương dưới bom đạn được thay bằng những chuyến bay nhân đạo vượt đại dương. Nhưng có một điều dường như không hề thay đổi. Đó là trách nhiệm và lòng nhân ái của người thầy thuốc quân y. Ở đâu có sự sống cần được bảo vệ, ở đó có những người lính mang áo blouse trắng lặng lẽ lên đường...

T.C.T