Trở lại với câu chuyện cộng tác viên, chung quy lại thì đây cũng là câu chuyện chính, vì tạp chí tồn tại được là nhờ họ. Nên điều tôi sợ không phải là mình có còn làm ở tạp chí nữa hay không, mà là sợ cộng tác viên không còn tìm đến với tạp chí nữa. Mà tạp chí nói thì tổng quát vậy, nó nằm nhiều ở biên tập viên. Khi mình tỏ thái độ “vai trên”, “ban ơn”, hoặc “thiếu khách quan trong xử lí bài vở” họ nhận ra ngay, người viết thường tinh và nhạy lắm. Chưa kể cái giới này cũng chẳng rộng gì, chỉ một vốc túm lại với nhau, hay dở gì chớp mắt đều biết hết. Tôi sợ cộng tác viên họ không còn tìm qua tạp chí để chơi, uống chén nước rồi chụp tấm ảnh hoa đại, mái cong mỗi khi có dịp ghé Hà Nội. Họ đi vì thấy “ngôi đền” chẳng còn thiêng nữa, mà người đẩy họ đi chính là người trông đền.
Những ngày đầu tiên
Tháng 7 năm 2017 từ giã Hội văn nghệ tỉnh Quảng Ninh nằm nép mình dưới chân núi Bài Thơ tôi về Ban văn xuôi, Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Thú thực, lúc mới về tôi vẫn chưa biết sợ là gì đâu. Cứ nghĩ mọi việc đơn giản như khi làm biên tập viên ở báo của hội, tức là truyện gửi về, đọc nhoáng nhoáng, biên tập ít nhiều cho có rồi đưa lên; chưa kể, nếu truyện lãnh đạo Hội đưa về là phải đi ngay số sau không cần bàn cãi ngược xuôi gì. Giờ về đây thì khác, công việc tháng đầu tiên là đọc tạp chí, đọc đúng nghĩa ba phần chứ không phải đọc láng quáng như khi chưa về, “đọc theo nghĩa học nghề chứ không phải thưởng thức”, trưởng ban Văn buổi bấy giờ - nhà văn Đỗ Tiến Thụy nói thế, tôi “vâng dạ”, nhưng tất nhiên tôi cũng chẳng nghe, đang vui mà.
Tháng đầu tiên tôi la cà hết các hiệu sách cũ ở Đường Láng, sang mấy hiệu sách bên đường Âu Cơ, xuống tận Lê Thanh Nghị, xuôi nữa xuống Thanh Trì. Số tiền vợ ở quê dành dụm đưa cho với lời dặn, “anh xem cần mua sắm gì thêm thì mua” nhanh chóng tiêu tùng. Bù lại, tủ sách be bé trong phòng ngách bắt đầu có những quyển đầu tiên. Trong đó thú vị nhất là bản đầu, tập một cuốn Rừng Nauy của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami, bản dịch Hạnh Liên và Hải Thanh, Bùi Phụng hiệu đính in năm 1996. Khi đó chỉ in tập một, vì sang năm 1997 sẽ in thành một tập đầy đủ luôn cả hai tập. Tôi ngấm ngầm báo tin này cho mấy anh bạn sách cuồng Haruki, niềm vui âm ỉ cứ thế mà lan. Trong khi công việc thực chất thì vẫn chưa thấy đâu, tôi vẫn thấy mình ở ngoài cái guồng quay bận rộn của mọi người. Đặc biệt, mọi người trong ban khi đi ăn, ngồi trà nước sau một hai câu nói về thời sự, thường quay lại bàn về truyện ngắn A, truyện ngắn B, bút kí C, ghi chép D ở số vừa làm (hoặc đang làm), cách xử lí các tình huống sao cho hợp lí, câu văn nào vụng, chữ nào dại…, thì tôi cứ ngớ ra, bởi đơn giản có làm gì đâu mà bàn.

Nhà văn Đinh Phương và nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ, nguyên Trưởng ban Văn xuôi Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ảnh: TL
Chưa kể đến thứ khó nữa là việc đi đơn vị viết kí, trước đây tôi rất ngại viết những gì ngoài sáng tác, ngay kể cả cách giao tiếp, gặp gỡ người lạ cũng thường bị “sượng”. Tôi thường đổ cho tuổi, vì là tuổi rắn (Kỷ Tỵ) đẻ đêm nên ngại gặp người. Nhưng giờ về tạp chí thì khác, tức là phải biên tập đúng nghĩa: tham gia trực tiếp vào văn bản, đồng hành cùng người viết để tác phẩm tốt hơn lên, nôm na là đưa một tác phẩm từ điểm bốn lên năm (ít nhất là mức in được), còn bảy hay tám thì quá tốt chưa mơ được. Rồi việc viết kí, hiển nhiên phải đi, viết về lĩnh vực quân sự, điều mà một người từ dân sự vào chưa hiểu gì. Thế thì viết thế nào? Rồi từ viết mới tự tin biên tập bài cộng tác viên được. Điều ai cũng có thể nói nhưng để thực hành là thăm thẳm tầng không…
Dần dần, qua tháng đầu tiên, tháng thứ hai rồi thứ ba, từ niềm vui ban đầu biến thành nỗi sợ. Trước mỗi số tạp chí, vào hạn nộp bài mùng năm và hai mươi hàng tháng là mồ hôi vã ra như tắm, đi lên đi xuống cầu thang gỗ, ăn chẳng muốn ăn, ngủ chẳng dám ngủ, vì chưa nghĩ được mình sẽ nộp truyện gì nên số tới. Nộp cho đủ số lượng thì dễ, nhưng bị trả về, lại còn thêm quà tặng đính kèm là “tâm sự” của “mẹ chồng” thì cũng sợ.
Có lúc khó quá tôi đã nghĩ đến việc nghỉ, về lại quê nhà Mạo Khê.
Nhưng bước chân đi cấm kì trở lại. Đúng, đã đi rồi thì phải đi đến cùng, rắn còn cắn kể cả khi ngâm rượu mười năm. Lại bắt đầu quay trở lại với việc đọc, đọc đúng nghĩa, để hiểu được cái “gu” của tạp chí. Dù trước đây, ba phần tư truyện ngắn của tôi khi ra trường đi làm đều in nơi tạp chí, được giải nữa, nhưng thú thực tôi chưa từng tìm hiểu “gu” của tạp chí là gì; vì chỉ nghĩ đơn giản có chỗ cho mình in truyện năm, sáu nghìn từ không bị giới hạn số chữ, viết sao cho thỏa rồi in, minh họa màu khoe facebook là được. Giờ đọc mới thấy “gu” của tạp chí đơn giản, là tạp chí của bộ đội nên bài vở đề tài chiếm ba phần tư, còn lại đề tài dân sự đảm bảo sự nhân văn. Hiểu (hay thực sự hiểu) điều đó cũng chẳng phải ngày một ngày hai, nhưng ít nhất tôi thấy mình đã thấy tia sáng le lói cuối đường hầm…
Chia sẻ cùng bạn văn
Thấy tia sáng là một chuyện, còn đi được đến đoạn đường nơi tia sáng bắt đầu lại là chuyện khác. Bài vở dù có hai người anh trong ban viện trợ ít nhiều nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Bởi, hàng viện trợ là hàng có gì dùng nấy, không đòi hỏi, không ý kiến. Mà tâm lí viện trợ là được chăng hay chớ, không bị cưỡng ép như khi là hàng sản xuất của mình. Thế nên, phải có nguồn hàng riêng, để vừa nhàn vừa tự tin trong các cuộc họp ban. Chẳng có gì hơn là quay lại với bạn văn. Lục lọi mọi vốn liếng từ ngày chập chững viết, nhờ bạn văn trong Nam ngoài Bắc giới thiệu, vào facebook đọc, rồi bình luận làm quen, kêu gọi họ có viết gì mới gửi cho mình. Những ngày này tôi dần nhận ra được hai chữ “chân thành”, tức là chân thành chia sẻ suy nghĩ của mình với bạn viết, đừng khen vống lên, tức khen lấy có, chê thì chê đúng, góp ý tận tình. Điều này sau cũng là điều sẽ dẫn đến việc trả lời in hay không in với từng tác giả gửi bài đến, nhất là tác giả đã có tiếng. Theo người dạy viết sẽ gọi nó là kĩ năng, nhưng tôi vốn chẳng có chiêu gì mấy nên thường sẽ có gì nói nấy, dù mất lòng đấy nhưng rồi họ sẽ quay lại, hoặc ít nhất mình đã dám nói ra suy nghĩ của mình. Có thể mình nhận xét sai, sau đọc lại thấy có điểm mình nói chưa đúng, biên tập chưa thấu đáo thì xin lỗi. Văn nghệ mà, ai trách gì…

Nhà văn Đinh Phương trong chuyến đi về Thuỷ điện Rào Trăng viết bài năm 2020. Ảnh: NVCC
Nên khi tôi bỏ truyện, nhiều cộng tác viên từng in nhiều hỏi tại sao?
Tôi trả lời nó vẫn giống mấy truyện trước in trên tạp chí. Từ nhân vật, đến cấu trúc, cách kể cũng một kiểu khai thác thế. Mà mấy truyện trước tính ra về thời gian là cũng đôi ba năm rồi. Đôi ba năm với một người viết mà vẫn viết thế thì là dừng lại. In thì in được, nhưng để làm gì? Mình phải có cái gì mới hơn chính mình chứ. Về điều này khi chưa ra trường, cộng tác với nhà văn Phong Điệp ở Văn Nghệ Trẻ tôi đã học được. Số là khi mới cộng tác với báo tôi viết nhiều, in nhiều. Tôi cứ tưởng kiểu viết đó là được, là mới nên cứ viết, đắm mãi, nó như cơn cuồng viết không ngừng vậy. Cho đến khi truyện mới được gửi đi, nhận về phản hồi truyện vẫn lặp lại, cần tìm cách kể mới thì tôi hoang mang, chẳng biết làm gì tiếp theo. Nhưng ít nhất nó đã chấm dứt cơn cuồng chữ, giúp mình giãn ra khỏi chính mình ở thời điểm hiện tại để tìm con đường khác, cách thể hiện văn bản khác đi, hay dở tạm chưa bàn, nhưng trước nhất cứ phải là khác đã…
Còn có những cộng tác viên gửi mãi không in được, cũng hỏi tại sao.
Tôi thường chỉ ra cái được cái không của truyện, thế nào mới đạt mức in được. Nhưng vẫn mong có gì mới họ lại gửi cho mình. Để như hai bạn văn cùng chia sẻ tác phẩm, cứ đọc nhau trước đã. Vì biên tập ví von lên cũng là nghề đi câu. Ở đâu có cá là ta buông cần. Cái hồ này không có cá to chưa chắc nó mãi mãi sẽ không có cá to. Chỉ cần mùa mưa ngập cánh đồng nước khắp nơi đổ về là có cá. Nó như biến cố (biến số) của người viết vậy, biết đâu ngày mai. Hoặc con cá trong hồ mãi rồi cũng lớn, cái quan trọng của người đi câu là kiên trì…
Còn trong quá trình biên tập khi không hiểu chi tiết nào (đặc biệt các tác phẩm đề tài chiến tranh) thường tôi sẽ hỏi lại cộng tác viên, ngại gì đâu, bởi kiến thức mỗi con người đâu phải vô hạn, cái mình không biết còn nhiều lắm. Đồng thời, kĩ lưỡng đến từng câu chữ trong tầm của mình. Bởi tôi nghĩ, mình nhà văn quý chữ thế nào thì khi làm văn bản cho bạn văn cũng vậy. Mà nhà văn chỉ có chữ, không quý chữ thì quý gì…
Ở đây, trở lại với câu chuyện cộng tác viên, chung quy lại thì đây cũng là câu chuyện chính, vì tạp chí tồn tại được là nhờ họ. Nên điều tôi sợ không phải là mình có còn làm ở tạp chí nữa hay không, mà là sợ cộng tác viên không còn tìm đến với tạp chí nữa. Mà tạp chí nói thì tổng quát vậy, nó nằm nhiều ở biên tập viên. Khi mình tỏ thái độ “vai trên”, “ban ơn”, hoặc “thiếu khách quan trong xử lí bài vở” họ nhận ra ngay, người viết thường tinh và nhạy lắm. Chưa kể cái giới này cũng chẳng rộng gì, chỉ một vốc túm lại với nhau, hay dở gì chớp mắt đều biết hết. Tôi sợ cộng tác viên họ không còn tìm qua tạp chí để chơi, uống chén nước rồi chụp tấm ảnh hoa đại, mái cong mỗi khi có dịp ghé Hà Nội. Họ đi vì thấy “ngôi đền” chẳng còn thiêng nữa, mà người đẩy họ đi chính là người trông đền.
Chuyến đi thực tế đầu tiên
Cùng năm tôi về đã có chuyến đi viết bài đầu tiên. Tức là cầm giấy giới thiệu và một mình bắt xe đi. Nơi tôi chọn đi là đảo Cô Tô. Nhớ lại, những ngày tháng mười hai năm đó cái lạnh đến sớm. Gió cắt thịt luồn qua những thân bàng trơ khấc trụi lá, như ngàn vạn cánh tay vươn lên trời. Ngồi trong xe khách, ôm khư khư ba lô máy ảnh, quần áo, tôi vẫn chưa biết mình sẽ viết gì, hỏi gì. Bởi nói là đi viết bài cho số Tết, nhưng đi là đi thế thôi, đi để chứng minh mình mới về và làm được việc. Con đường 18A vốn chẳng xa lạ gì nhưng hôm ấy tôi lại thấy lạ quá. Xe qua Mạo Khê tôi cũng chẳng buồn rẽ vào thăm nhà. Đầu cứ ong ong với ngàn vạn câu hỏi làm sao để dựng được một bài kí ít nhất năm nghìn rưỡi chữ, vì tính tôi cẩn thận, hay trừ hao, nên khi viết truyện cũng vậy, cứ viết phứa ra hết rồi cắt lại là vừa vặn, chứ nếu viết ít đến lúc cắt đi rồi bù vào còn mệt hơn.
Nhưng lấy gì để bổ, cắt, chế biến ra được tưng ấy chữ? Chưa kể kí hay ghi chép trên tạp chí thường nghiêng về hướng văn học, là những câu chuyện cụ thể, mang đậm tình cảm của người viết chứ không phải bài báo phản ánh khô khan. Nếu đi chuyến này về mà không được một bài năm điểm in được thì còn dám nhìn ai nữa.
Trong lúc ngồi trên xuồng cao tốc từ Vân Đồn ra đảo tôi vẫn chưa nghĩ được mình sẽ đến gặp, làm việc với Ban Chỉ huy Quân sự huyện Cô Tô, rồi Tiểu đoàn đảo Cô Tô, thuộc Lữ 242, Quân khu 3 như thế nào. Rồi cái khó ló cái khôn, tôi nhớ cậu bạn thân cùng làm ở hội văn nghệ có bố xưa làm chỉ huy ở ban quân sự đảo gọi điện, nhờ kết nối, được ngay. Gọi là kết nối nhưng chính xác là có câu chuyện về một người quen để dẫn dắt ra các câu chuyện khác, khiến cuộc gặp làm việc nhẹ nhàng hơn. Mà thật, sau này tôi đi thêm vài chuyến nữa, cũng một mình, nhưng tự tin vào đơn vị. Chứ chuyến đó, vẫn công nhân viên quốc phòng, chưa quân hàm quân hiệu gì, cảm giác vào doanh trại bộ đội là thấy choáng ngợp, thiếu tự tin.

Nhà văn Đinh Phương với các chiến sĩ Sư đoàn 390, Quân đoàn 12 năm 2026. Ảnh: NVCC
Khi vào gặp đặt vấn đề tìm hiểu, rồi viết tôi vẫn chưa biết bắt đầu từ đâu. Mỗi nhân vật khi được hỏi đều kéo câu chuyện ra rất dài. Tôi kiên nhẫn ngồi nghe, ghi chép, lấy phương châm cần cù bù thông minh. Sang đến cặp vợ chồng nhân vật thứ ba: anh Điệp - chị Măng, tôi cảm thấy có lỗi vì hai cặp nhân vật trước là anh Mừng - chị Diên, anh Úy - chị Thanh đều gợi lại chuyện năm tháng đói khổ đầu chín mươi khi mới ra đảo, thiếu nước, lương thực thực phẩm, đi lại khó khăn, nên đến cặp này, khi vào chuyện được ít đầu, tôi bèn bẻ lái: “Hay anh chị kể chuyện khác đi.”, nhưng anh Điệp gạt phăng đi, bảo: “Đời chúng tôi còn gì đáng giá hơn câu chuyện lúc mới ra đảo đâu…”. Một câu nói thôi đã giúp tôi xâu chuỗi tất cả, hiểu rằng đời con người ta tưởng dài đẵng thế mà ngắn lắm, quãng đầu khó khăn mới nhớ, mới nhiều sự kiện. Anh Điệp kể cho tôi nghe về trận bão lớn năm xưa ập vào đảo, hằng hà sa số mìn sót lại sau chiến tranh bị gió nước đẩy lên sân, nằm lóc nhóc như bưởi. Hay chuyện người Hoa dời đi trấn yểm nhà, chẳng biết chuyện thật hư thế nào nhưng khi lật mái nhà lên thấy ba lưỡi cuốc ở hai đầu hồi và giữa thật. Rồi anh tìm được cả kho bát đĩa chôn giữa nhà, chẳng biết có yểm tả gì không, những năm ấy huyện đội cũng khó, anh mang phần lớn bát đĩa lên nhập vào tài sản đơn vị. Anh đùa, chẳng biết có phải bị ếm không mà bao nhiêu cặp chồng bộ đội, vợ giáo viên hoặc làm nghề tự do, lấy nhau đưa nhau ra đảo chẳng cặp nào bỏ nhau, cũng chẳng cặp nào về lại đất liền nữa. Nếu ếm thì là ếm cho không thể bỏ mảnh đất phên dậu này mà đi…
Chia tay vợ chồng anh Điệp - chị Măng, cũng là lúc tôi tìm được sợi dây nối các sự kiện lại với nhau. Mạch dẫn đã có, lúc ấy tôi mới yên tâm mượn xe máy đi chơi quanh đảo. Đã vài ba lần đến Cô Tô, nhưng lần này lạ nhất, vì đi một mình (đã đành), vì biết mình cần phải làm gì ở một bài kí, từ khai thác nhân vật, đến tìm sợi dây dẫn dắt và viết bài.
Từ bài kí đầu tiên với tên gọi Người Cô Tô ấy, tôi tự tin về gặp, triển khai lại ý tưởng viết bút kí Nhớ lắm thuyền xưa, về làng nghề truyền thống đóng thuyền ở Quảng Yên. Điều đặc biệt ở đây là những thuyền buồm cánh dơi chạy được ngược nước ngược gió, đã từng bôn ba trên khắp các hải cảng trong và ngoài nước. Tương truyền “thuyền nhẹ” này đã góp phần vào chiến thắng của quân dân nhà Trần trong chiến thắng giặc Nguyên Mông, ở các trận Cửa Lục và Bạch Đằng. Vì với tính năng nhẹ, nhanh, lướt được trên mặt sóng nên thuyền hẳn sẽ được ưa chuộng ở các thế trận phục kích bất ngờ, nơi thuyền to, nặng nề của địch là một trở ngại.
Và giờ…
Tôi đã gắn bó được gần mười năm nơi tạp chí. Tạp chí trong mười năm cũng có người đến, người đi. Nhưng hình bóng của các bác nhà văn đi trước như vẫn hiện diện quanh đây. Chúng tôi trong các câu chuyện vẫn nói về nhà văn Nguyễn Chí Trung “dựng” Trại viết Quân khu V quy tụ người viết những năm sau giải phóng. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã ở trong căn phòng nào khi viết những truyện ngắn “búa bổ” như Khách ở quê ra, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam… Dòng chữ Adieu Hà Nội - Vĩnh biệt Hà Nội nhà văn Nguyễn Thi viết trên cánh cửa nào khi vào Nam chiến đấu, dòng chữ ấy còn đến thời điểm nào. Câu thơ “ngã xuống rồi, em ơi, vẫn đất” là câu thơ của nhà thơ Duy Khán vẫn được chúng tôi nhắc trong mỗi lần quá chén dắt nhau về thấp cao trên phố. Phố thì vẫn thế, phố Lý Nam Đế thì vẫn thế, Văn nghệ Quân đội vẫn nằm đầu phố nơi số chẵn, số 4. Hai cây đại già vẫn tỏa hương hằng đêm. Những chú sóc “người nhà” vẫn đảo qua ăn quả bốn mùa: nhãn, hồng xiêm, trứng gà và khế.
Lớp nhà văn chúng tôi về sau, lại dân sự vào quân đội, chất chồng bao nỗi sợ. Nhưng rồi, cái sợ nhất vẫn là sợ với lớp nhà văn đi trước, chẳng bằng được một phần các cụ. Còn cái nỗi sợ nữa lớn hơn, là sợ trong cơn sóng gió đời sống này chẳng biết thế nào, sẽ không còn tạp chí nữa. Nhưng dẫu vậy, có sao đâu, khi mỗi ngày làm việc là thấy mình ở đây, lúc này, và là chính mình không xấu hổ.
Nhà văn ĐINH PHƯƠNG, Ban Văn xuôi Tạp chí Văn nghệ Quân đội