.PHẠM MINH QUÂN
Tháng 5 năm 2026, Giáo hoàng Leo XIV công bố thông điệp đầu tiên trong triều đại của mình mang tên Magnifica Humanitas (Phẩm giá vĩ đại của con người). Điều gây chú ý là văn kiện ấy không xoay quanh chiến tranh, nghèo đói hay khủng hoảng môi trường, mà tập trung vào một chủ đề tưởng như thuộc về thế giới công nghệ: trí tuệ nhân tạo (AI). Theo Giáo hoàng, đây là một trong những thách thức quan trọng nhất mà nhân loại đang phải đối diện. Ông nhiều lần nhấn mạnh rằng mọi tiến bộ kĩ thuật chỉ thực sự có ý nghĩa khi phục vụ phẩm giá con người, công lí xã hội và lợi ích chung. Điều đáng quan tâm không phải công nghệ có thể làm được gì, mà là con người sẽ trở thành ai dưới tác động của những công nghệ do chính mình tạo ra. Những suy tư ấy không chỉ dành cho giới kĩ thuật. Chúng đang hiện diện ngày càng rõ trong lĩnh vực nghệ thuật.
Chỉ vài năm trước, việc sáng tác một bức tranh, một bản nhạc hay một tác phẩm văn chương vẫn gắn với hình dung quen thuộc về người nghệ sĩ miệt mài bên giá vẽ, cây đàn hoặc trang giấy trắng. Bản thân việc viết một bài phê bình nghệ thuật cũng là một quá trình nghiệm sinh và lắng đọng thẩm thấu lâu dài với nhiều tầng bậc về thị giác lẫn ý nghĩa. Hôm nay, nhiều người có thể tạo ra những hình ảnh, giai điệu hay văn bản khá hoàn chỉnh chỉ bằng vài dòng mô tả gửi tới một mô hình ngôn ngữ lớn. Những công cụ như Midjourney, DALL-E, Stable Diffusion, Suno AI hay ChatGPT đang khiến sáng tạo nghệ thuật trở thành một hoạt động dễ tiếp cận hơn bao giờ hết.
Sự thay đổi ấy không đơn thuần là câu chuyện công nghệ. Nó chạm tới những câu hỏi sâu xa hơn như: Nghệ thuật là gì? Ai là tác giả của một tác phẩm? Và khi cỗ máy ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình sáng tạo, con người sẽ giữ vai trò nào trong thế giới nghệ thuật tương lai?
Từ cây cọ đến thuật toán
Như một quán tính của lịch sử nghệ thuật, mỗi bước tiến của công nghệ đều kéo theo những chuyển dịch trong cách sáng tạo và cảm thụ. Khi nhiếp ảnh xuất hiện vào thế kỉ XIX, đã có người lo ngại hội họa sẽ mất đi vai trò của mình. Điện ảnh ra đời mở ra một phương thức kể chuyện hoàn toàn mới. Máy tính và internet tiếp tục làm thay đổi cách con người sản xuất, lưu trữ và chia sẻ hình ảnh. AI đang tạo nên một bước ngoặt tương tự. Nếu như trước đây máy tính chủ yếu hỗ trợ nghệ sĩ thực hiện ý tưởng, thì nay nhiều hệ thống AI đã có khả năng tự tạo ra hình ảnh, âm thanh hoặc văn bản dựa trên những kho dữ liệu khổng lồ. Người nghệ sĩ ngày càng làm việc nhiều hơn với dữ liệu, thuật toán và các mô hình học máy bên cạnh những chất liệu quen thuộc của nghệ thuật.
Nghệ thuật số (digital art) cũng vì thế thay đổi hình hài. Bức tranh treo trên tường hay pho tượng đặt trong bảo tàng từng là hình ảnh quen thuộc của tác phẩm nghệ thuật. Ngày nay, tác phẩm có thể tồn tại như một dòng dữ liệu đang vận động, một không gian tương tác, một môi trường thực tế ảo hoặc một chương trình liên tục sinh ra những hình ảnh mới. Nó không còn đứng yên mà luôn trong trạng thái biến đổi. Nhiều nghệ sĩ đương đại không còn tạo ra một tác phẩm duy nhất. Họ xây dựng những hệ thống có khả năng tạo sinh tác phẩm. Người nghệ sĩ dần chuyển từ vị trí người trực tiếp làm ra từng hình ảnh sang vị trí người kiến tạo những nguyên lí vận hành của hình ảnh.
Để hiểu nghệ thuật AI hôm nay, có lẽ cần nhìn lại những nghệ sĩ đã sớm bước vào cuộc đối thoại giữa nghệ thuật và công nghệ từ nhiều thập niên trước. Một trong những gương mặt tiên phong là Vera Molnar, nghệ sĩ người Hungary sống tại Pháp. Ngay từ thập niên 1960, khi máy tính vẫn còn là thiết bị hiếm hoi trong các viện nghiên cứu, bà đã thử nghiệm sử dụng thuật toán để tạo ra những biến thể hình học trên mặt phẳng. Điều bà quan tâm không phải là khả năng tính toán của máy móc, mà là những khả thể sáng tạo mới nảy sinh từ sự kết hợp giữa trực giác nghệ thuật và logic toán học. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu xem bà là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật tạo sinh và nghệ thuật AI.
Nếu Vera Molnar đại diện cho giai đoạn sơ khai của nghệ thuật thuật toán, thì Casey Reas là người mở rộng cánh cửa ấy cho cả một thế hệ nghệ sĩ trẻ. Cùng với Ben Fry, ông phát triển ngôn ngữ lập trình Processing, thứ công cụ đã trở thành nền tảng của vô số dự án nghệ thuật số trên toàn thế giới. Với Casey Reas, mã lệnh không đơn thuần là công cụ kĩ thuật. Nó là một ngôn ngữ biểu đạt. Viết thuật toán cũng có thể mang ý nghĩa tương tự như vẽ một bức tranh hay sáng tác một bản nhạc.
Một trong những nghệ sĩ được nhắc đến nhiều nhất hiện nay là Refik Anadol. Sinh ra tại Thổ Nhĩ Kỳ và hoạt động chủ yếu tại Hoa Kỳ, ông sử dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để xây dựng những không gian thị giác quy mô lớn. Trong nhiều dự án, Anadol khai thác hàng triệu hình ảnh từ kiến trúc, thiên nhiên, bảo tàng hay các kho lưu trữ văn hóa rồi chuyển hóa chúng thành những dòng chảy ánh sáng liên tục biến đổi. Khi đứng trước các tác phẩm ấy, người xem có cảm giác như đang bước vào một giấc mơ được tạo nên từ dữ liệu.
Một hướng đi khác được thể hiện qua các tác phẩm của Rafael Lozano-Hemmer. Nghệ sĩ người Mexico này nổi tiếng với những dự án tương tác quy mô lớn. Nhịp tim, giọng nói, chuyển động hay sự hiện diện của người xem trở thành một phần cấu thành tác phẩm. Công nghệ ở đây không nhằm thay thế con người mà làm nổi bật sự hiện diện của con người trong không gian nghệ thuật. Nhắc đến nghệ thuật số cũng không thể bỏ qua Nam June Paik, người được xem là cha đẻ của video art. Từ rất sớm, ông đã nhận ra rằng truyền hình và công nghệ điện tử sẽ trở thành chất liệu nghệ thuật của tương lai. Nhiều dự án của ông từ thập niên 1970 đến nay vẫn khiến người xem ngạc nhiên bởi khả năng dự báo về một thế giới kết nối bằng hình ảnh và dữ liệu.
Trong những năm gần đây, nhóm nghệ thuật teamLab của Nhật Bản tiếp tục đẩy xa giới hạn của nghệ thuật số. Những không gian triển lãm nhập vai của họ kết hợp ánh sáng, cảm biến, dữ liệu và tương tác trực tiếp với người xem. Hoa có thể nở dưới bước chân, dòng nước có thể đổi hướng theo chuyển động của cơ thể. Tác phẩm không còn là vật thể để quan sát mà trở thành một môi trường để trải nghiệm. Điều thú vị là phần lớn những nghệ sĩ tiên phong ấy không xem công nghệ là đích đến cuối cùng. Lí tưởng họ theo đuổi vẫn là những câu hỏi rất cũ của nghệ thuật, rằng kí ức là gì, con người cảm nhận thế giới ra sao, cộng đồng được hình thành như thế nào và điều gì tạo nên ý nghĩa của đời sống.
Có lẽ thay đổi dễ nhận thấy nhất mà AI mang lại là khoảng cách giữa người làm nghề và người không chuyên đang thu hẹp rất nhanh. Những công việc từng đòi hỏi nhiều năm học tập nay có thể được thực hiện phần nào bằng vài câu lệnh ngắn. Một người chưa từng học vẽ vẫn có thể tạo ra hình ảnh đẹp mắt. Một người không biết nhạc lí có thể sở hữu một bản nhạc tương đối hoàn chỉnh. Nhiều khâu kĩ thuật vốn tiêu tốn rất nhiều thời gian đã được rút ngắn đáng kể. Cánh cửa sáng tạo được mở rộng hơn bao giờ hết. Nhiều người lần đầu tiên có cơ hội hiện thực hóa những ý tưởng mà trước đây họ không đủ kĩ năng để thực hiện.
Song, chính sự thuận tiện ấy lại khiến nhiều người băn khoăn. Nếu ai cũng có thể tạo ra một bức tranh đẹp hoặc một đoạn nhạc hấp dẫn, điều gì sẽ làm nên giá trị riêng của một tác phẩm nghệ thuật? Có lẽ câu trả lời không nằm ở công cụ. Bởi, đằng sau mỗi tác phẩm luôn có một hành trình sống. Người nghệ sĩ quan sát thế giới, va chạm với thực tại, tích lũy kí ức và trải nghiệm rồi mới chuyển hóa tất cả thành hình ảnh, âm thanh hay ngôn từ. Những điều ấy không dễ dàng được tạo ra từ dữ liệu. Một bức tranh có thể được sinh thành trong vài giây. Nhưng những năm tháng tạo nên cách nhìn của người nghệ sĩ thì không.
Những khoảng tối phía sau diệu kì
Cùng với sự háo hức trước công nghệ mới là hàng loạt câu hỏi vẫn đang chờ lời giải. Trước hết là câu chuyện bản quyền. Các hệ thống AI hiện nay được huấn luyện từ lượng dữ liệu khổng lồ thu thập trên internet, trong đó có tác phẩm của vô số nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia và người viết. Khi một mô hình có thể tạo ra hình ảnh rất gần với phong cách của một họa sĩ nổi tiếng, tranh luận về quyền sở hữu trí tuệ lập tức xuất hiện.
Bên cạnh đó là nguy cơ đồng dạng hóa thẩm mĩ. Các hệ thống AI vận hành dựa trên xác suất và những mẫu dữ liệu phổ biến. Vì vậy, chúng thường tạo ra các hình ảnh dễ nhận biết, dễ tiếp nhận và phù hợp với thị hiếu thẩm mĩ số đông. Trong khi đó, lịch sử nghệ thuật lại được kiến tạo nên bởi những dị biệt, những thử nghiệm táo bạo và cả những sai lệch so với chuẩn mực đương thời. Thuật toán có thể dự đoán điều đám đông yêu thích. Nghệ thuật nhiều khi lại bắt đầu từ những điều chưa ai từng nghĩ tới, hay là sự lệch chuẩn.
Một thách thức khác nằm ở vấn đề xác thực. Khi hình ảnh, âm thanh và video do AI tạo ra ngày càng giống thật, ranh giới giữa thật và giả trở nên mong manh hơn. Đây không còn là câu chuyện của riêng nghệ thuật mà đã trở thành vấn đề của toàn bộ đời sống xã hội lẫn tính minh bạch và chân xác của thông tin.
Có lẽ đây cũng là lí do khiến Giáo hoàng Leo XIV xem AI trước hết là một vấn đề nhân học và đạo đức. Trong các phát biểu gần đây, ông nhiều lần cảnh báo rằng thách thức lớn nhất của AI không nằm ở năng lực tính toán hay tốc độ xử lí dữ liệu, mà ở nguy cơ con người dần đánh mất khả năng tự nhận thức về chính mình. Công nghệ có thể mô phỏng nhiều năng lực của con người, nhưng không sở hữu lương tri, trách nhiệm đạo đức, lòng trắc ẩn hay khả năng yêu thương. Nhận định ấy đặc biệt đáng suy ngẫm đối với nghệ thuật.
Mối quan tâm ấy không chỉ xuất hiện trong các diễn đàn tôn giáo hay giới học thuật. Những năm gần đây, nhiều tổ chức quốc tế cũng đã lên tiếng về các vấn đề đạo đức của AI. UNESCO ban hành Khuyến nghị về Đạo đức của Trí tuệ nhân tạo vào năm 2021, Liên hợp quốc và nhiều quốc gia xây dựng các bộ nguyên tắc nhằm bảo đảm công nghệ phát triển theo hướng an toàn, minh bạch và tôn trọng các giá trị con người. Dù cách tiếp cận có khác nhau, điểm chung của các văn kiện này là lời nhắc nhở rằng AI không phải đích đến của tiến bộ. Đích đến vẫn là con người, với phẩm giá, quyền tự do sáng tạo và sự đa dạng văn hóa vốn làm nên bản sắc của nhân loại.
AI có thể tạo ra hình ảnh về chiến tranh, nhưng không biết thế nào là chờ đợi một người thân trở về. AI có thể viết về nỗi nhớ, nhưng không mang trong mình kí ức. AI có thể mô phỏng cảm xúc, song không thực sự sống trong cảm xúc ấy. Điều khiến một tác phẩm có sức sống lâu dài thường nằm ở khả năng chạm đến những trải nghiệm rất người, những cung bậc hỉ nộ ái ố, niềm vui, nỗi buồn, sự mất mát, hi vọng, kí ức hay những day dứt trước cuộc sống. Bởi vậy, câu hỏi quan trọng không nằm ở việc AI thông minh đến đâu. Điều đáng quan tâm hơn là con người sẽ sử dụng công nghệ như thế nào và lựa chọn gửi gắm điều gì vào những sản phẩm mình tạo ra.
AI triển nở và xâm lấn các địa hạt nghệ thuật
Những gì đang diễn ra trong nghệ thuật thị giác có lẽ mới chỉ là phần mở đầu. Trong âm nhạc, các nền tảng như Suno AI hay Udio đã có thể tạo ra những ca khúc hoàn chỉnh với lời hát, giai điệu và phối khí tương đối thuyết phục. Một người không biết nhạc lí vẫn có thể tạo ra một bản ballad, một khúc dân ca hay một bài hát mang phong cách giao hưởng chỉ sau vài phút. Ở lĩnh vực văn chương, các mô hình ngôn ngữ lớn đang hỗ trợ ngày càng nhiều cho quá trình viết lách. Chúng có thể gợi ý ý tưởng, xây dựng cốt truyện, biên tập văn bản, thậm chí tạo ra những bài thơ hoặc truyện ngắn mang dáng dấp của nhiều phong cách khác nhau. Chẳng xa vời gì khi một cuốn tiểu thuyết sẽ được viết với sự hỗ trợ của AI. Một bản nhạc sẽ là kết quả của cuộc đối thoại giữa cảm xúc con người và năng lực xử lí dữ liệu của thuật toán. Một bộ phim có thể được tạo dựng bởi sự cộng tác của biên kịch, đạo diễn và những hệ thống trí tuệ nhân tạo ngày càng tinh vi. Nhưng dù công nghệ tiến xa đến đâu, nghệ thuật vẫn sẽ quay trở lại với những câu hỏi nguyên sơ mang tính chất bản thể vốn có từ rất lâu trước khi máy tính ra đời: Con người là ai? Chúng ta cảm nhận thế giới như thế nào? Điều gì làm nên ý nghĩa của một cuộc đời?
Những năm tới, AI chắc chắn sẽ còn tiến rất xa. Nó sẽ vẽ nhanh hơn, viết nhanh hơn, sáng tác nhanh hơn với đa dạng hình thức hơn nữa. Nhưng tốc độ chưa bao giờ là thước đo duy nhất của nghệ thuật. Người ta đến với một bài thơ đâu phải để thưởng thức kĩ thuật của trò chơi sắp đặt ngôn từ. Người ta nghe một bản nhạc đâu chỉ vì giai điệu. Điều còn đọng lại thường là cảm giác mình được tương thông chia sẻ một điều gì đó rất người, có thể là một kí ức, một nỗi buồn, một niềm hi vọng hay một câu hỏi chưa có lời giải. Có thể rồi đây nhiều tác phẩm sẽ được tạo ra với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo. Nhưng phía sau mọi thuật toán, nghệ thuật vẫn cần hiện diện một lương tri nhân bản, một trái tim thấu cảm, một đôi mắt thấu thị thế giới, và kể lại câu chuyện ấy bằng phương tiện biểu đạt của chính mình.
P.M.Q