Thứ Hai, 30/03/2026 10:28

Quán trọ Hoa Sở Trắng

Tôi tới nhà Tấn với một tâm trạng ngạc nhiên, hiếu kì bởi là chủ một doanh nghiệp có tiếng của thành phố, sao tự nhiên anh lại có hứng thú với sách vở, lịch sử...(Truyện ngắn của HOÀNG KIẾN BÌNH).

. HOÀNG KIẾN BÌNH
 

Khi biết tôi làm việc ở bảo tàng, được giao viết sách về lịch sử đấu tranh cách mạng của địa phương, Tấn - người bạn mới quen trên sân thể thao, rất quan tâm và hẹn tôi đến nhà.

Tôi tới nhà Tấn với một tâm trạng ngạc nhiên, hiếu kì bởi là chủ một doanh nghiệp có tiếng của thành phố, sao tự nhiên anh lại có hứng thú với sách vở, lịch sử. Trong không gian sang trọng, ấm cúng được trang trí bằng các vách gỗ hoa văn dùng làm thư phòng và cũng là nơi thờ tự của gia đình, tôi đặc biệt chú ý đến bức ảnh đen trắng chụp chân dung một người đàn ông còn trẻ treo trang trọng trên bức tường đối diện với bàn làm việc của Tấn. Người đàn ông trong ảnh nhìn phong trần và khá điển trai; đầu đội mũ phớt cùng tông màu với chiếc áo đại cán, khuôn mặt hơi nghiêng quay về bên trái, ánh mắt sắc lạnh sau vành mũ phớt với vẻ bí ẩn mà ai bắt gặp cũng khó có thể lướt qua.

Tấn giới thiệu người trong ảnh là ông nội của anh, bức ảnh được chụp năm ông ngoài ba mươi tuổi. Và mục đích mời tôi đến nhà ngày hôm nay là câu chuyện về người ông của mình...

Sau khi rót nước mời tôi, Tấn sửa lại dáng ngồi, vẻ hết sức trịnh trọng và bắt đầu câu chuyện.

*

*            *

Quán trọ Hoa Sở Trắng nằm ven đường, dưới chân ngọn đồi, liền kề là dãy Pạc Sủi trùng điệp - nơi có những đỉnh núi quanh năm ngủ vùi trong mây trắng. Trước mặt quán là ngã ba con đường cái quan. Một theo hướng tây vào khu mỏ Hòn Gai. Hướng ngược lại đi xe ngựa tầm một tuần trà thì tới thị trấn và ra vùng biên giới Móng Cái. Ngả còn lại đi Lạng Sơn.

Thực ra, còn có một con đường mòn phía sau quán dành cho cánh thợ sơn tràng và dân bản địa vào rừng chặt gỗ, săn bắt bẫy thú, lấy mật ong, kiếm măng nấm… nhưng từ khi có quán trọ người ta ngại qua rồi tìm lối đi mới, nên ít người biết tới.

Quán trọ được mở ra chủ yếu phục vụ người ngựa của những đoàn buôn chuyến đường dài. Hàng hóa đủ loại; vải vóc tơ lụa, gạo, muối, củi, than cùng các mặt hàng nông lâm, thủy hải sản... Họ thường đi thành từng đoàn gồm nhiều người và xe ngựa. Sau khi đã phải vất vả vượt qua cung đường dài với không biết bao nhiêu núi cao hiểm trở, rừng thẳm cùng các sông sâu suối dữ, những hiểm nguy cướp bóc dọc đường thì đây là nơi người ngựa cần phải nghỉ ngơi nạp năng lượng để tiếp tục hành trình.

Minh hoạ: Phạm Hà Hải

Chủ quán là một đôi vợ chồng còn trẻ, sàn tuổi nhau, trên dưới đầu băm. Chồng tên Tới, vóc người tầm thước hoạt bát nhanh nhẹn, gương mặt điển trai kiểu phong trần pha chút bất cần, bản lĩnh khiến cho những người mới gặp phần nhiều không dám xem thường. Cô vợ tên Lài, sắc vóc quá chênh lệch với người chồng. Lài cao gầy, da mặt sạm đen nhìn già trước tuổi lại thêm hàm răng hô, mỗi khi cười lộ ra phần nướu ở hàm trên nhìn rất kém duyên. Có lẽ Lài biết mình nhan sắc tằn tiện, chồng lại phong độ ngời ngời nên cam phận. Lúc nào cũng thấy Lài cung cúc tận tụy trước mọi yêu cầu của Tới, trong khi vẫn luôn tay luôn chân xào nấu đồ ăn trong bếp rồi chỉ đạo mấy bà già người Sán Dìu phụ giúp việc bếp núc, dọn dẹp phòng trọ và chuồng ngựa. Ngay cả ba đứa con, hai trai một gái mặc dù do chính mình sinh ra, nhưng nhìn cứ như Lài đẻ thuê cho Tới.

Quán trọ được xây dựng bề thế nhà ngang dãy dọc theo kiểu tứ hợp viện bao quanh một khoảng sân rộng ở giữa. Thiết kế kiểu nội công ngoại quốc này rất an toàn cho người và hàng hóa khi ngủ trọ qua đêm tại quán. Gần đây quán trọ Hoa Sở Trắng được đám buôn chuyến đường dài uy tín lựa chọn bởi nhà trọ cùng với chuồng ngựa rộng rãi thoáng mát sạch sẽ, thêm đó là các món ăn ngon và giá cả hợp lí.

Như thường lệ, cứ nghe tiếng con gà trống đầu đàn trong chuồng gáy vang núi ba hồi, báo hiệu tầm giữa canh năm thì vợ chồng Tới cùng dậy. Bóng tối ngoài rừng vẫn còn đậm đặc. Sương mù cùng khí lạnh cuối thu từ trên núi tràn xuống, giăng phủ rồi cuộn đuổi theo bước chân của Tới vào tận khu chuồng trại nơi mấy con ngựa vừa tỉnh giấc đang gõ móng. Trong lúc Tới chuẩn bị xe ngựa đi chợ thị trấn mua thực phẩm về sử dụng cho cả ngày thì Lài bắt đầu nhóm bếp. Khi ngọn lửa ấm áp sáng bừng lên hắt ra khoảng sân tối om thì cũng là lúc Tới cùng chiếc xe ngựa và ánh đèn bão lắc lư, lóc cóc rời đi. Món ăn chủ đạo buổi sáng của quán gồm xôi trắng ăn cùng thịt lợn khâu nhục, bánh bao hấp. Mọi thứ đã được Lài chuẩn bị từ tối hôm trước giờ chỉ cần đồ thêm và hấp lại. Mùi xôi chín bốc hơi thơm ngào ngạt kết hợp cùng mùi thịt khâu nhục tẩm các hương vị hấp nóng tỏa ra thơm nhức mũi thì khách nghỉ qua đêm bắt đầu tỉnh dậy. Sau khi vệ sinh cá nhân xong, việc đầu tiên của khách buôn là kiểm tra an toàn hàng hóa trên các xe kéo để qua đêm trong sân, sai người cho ngựa ăn uống rồi mới cùng vào dùng bữa, nạp năng lượng cho một ngày mới để tiếp tục dặm trường. Những khách chưa vội hoặc ăn uống cầu kì hơn thì có thể đợi món mì vằn thắn được nấu với thịt trâu tươi ngon lát nữa sẽ được chủ quán Tới mang nguyên liệu từ chợ sớm về.

Nhưng sáng nay, đám khách trong quán ngạc nhiên thấy Tới hớt hải đánh xe ngựa chạy ào vào trong sân sớm hơn thường lệ, vẻ ngang tàng thường ngày được thay bằng gương mặt hốt hoảng. Vừa bước vào nhà, Tới nói lớn:

- Đang bắn nhau to trong thị trấn. Có mấy người chết tươi giữa phố. Tôi may mắn mới chạy được về đây.

Tin tức mà Tới vừa đưa về loang nhanh trong các bàn ăn. Mọi người, ai nấy đều lo sợ, đoán già đoán non. Người bảo trận này là giữa quân Pháp và Việt Minh. Rồi kể mấy bữa trước, chính mắt thấy họ cắm cọc bêu đầu nhau giữa chợ! Người cho rằng bọn phỉ trong rừng lợi dụng lúc tình hình rối ren lao ra chợ cướp bóc… Có người nói như đinh đóng cột rằng lực lượng đồng minh, quân của Tưởng Giới Thạch đã điều sư đoàn 60 về đóng bản doanh ở Hòn Gai và Móng Cái… Tình hình này sẽ càng căng đây!

Những câu bàn luận trong quán càng lúc càng gây hoang mang. Ai cũng lo lắng không biết rồi thời cuộc sẽ dẫn dắt tất cả trôi về đâu, nhưng chờ đến lúc đó thì vẫn cứ phải mưu sinh, cơm vẫn cần ăn ngày hai bữa cùng hàng trăm thứ phải dùng đến tiền. Chả lẽ cứ đóng chặt cửa ngồi trong nhà, mà có thế đi nữa chắc gì đã thoát cảnh bom rơi lửa đạn.

Số khách đi về phía tây và Lạng Sơn khẩn trương ra xe ngựa lên đường.

Khách đi miền đông phải qua thị trấn ngồi lại lo âu chờ đợi. Đến non trưa khi nghe tin vụ bắn nhau đã được dẹp yên thì mọi người lần lượt trả phòng, đóng yên ngựa, tra càng xe vào ngựa rời quán cùng những xe chứa hàng đầy ắp.

Phía ngoài đường một con ngựa phi nước kiệu chạy vào sân quán.

Tới bước ra sân đón khách.

Đó là một người đàn bà, một khách hạng sang của quán. Ngồi nguyên trên ngựa, bà ta yêu cầu một khu yên tĩnh riêng biệt rồi quay đầu đi luôn.

Lúc này trong phòng ăn của quán trọ chỉ còn ba bàn khách. Ngồi ngay bàn phía cửa ra vào là người đàn ông cao to tên Lực, tuổi trạc ngoài băm. Không biết anh ta ở đâu và làm gì, mới đến thuê trọ ba ngày nay, ngày nào cũng uống rượu, mơ màng say tỉnh. Phía góc phòng, một bàn khác có ba người đàn ông; hai cậu thanh niên da ngăm đen tuổi chừng đôi mươi, không rõ là con hay cháu của người đàn ông đứng tuổi đi cùng. Cả ba cũng mới đến thuê trọ mấy ngày nay, ban ngày cưỡi ngựa ra chợ thị trấn mua bán gì đó, chiều tối mới quay về. Họ nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ rất khó nghe, ngay đến bộ trang phục cũng không rõ là người Dao hay Ngái. Còn cậu thanh niên trẻ đẹp trai ngồi gần quầy bếp kia tên Tam. Vừa học xong thành chung, ra trường Tam được nhận vào làm thư kí trong một hãng buôn gạo ở Hải Phòng. Đợt này hãng buôn giao việc cho Tam ra làm việc với mấy đại lí. Mới tiếp xúc được ít ngày, Tới thấy hợp tính và quý mến Tam. Chính Tam sau khi biết Tới đọc thông viết thạo được chữ quốc ngữ, đã tận tình hướng dẫn chỉ dạy Tới cách ghi chép sổ sách thu chi hàng ngày của quán.

Khi những tia nắng vàng nhạt cuối ngày vừa khuất sau dãy núi Pạt Cạp thì một đoàn người ngựa đông đúc rầm rộ tiến vào huyên náo cả sân quán. Cửa chiếc xe ngựa to đẹp nhất đỗ tại vị trí trung tâm bật mở. Một nam, một nữ bước xuống xe, họ được hai gia nhân tận tình giúp sức. Không khó để nhận ra người phụ nữ trạc tứ tuần xinh đẹp sắc sảo kia là người đàn bà xuất hiện lúc trước - Trịnh đại tẩu. Người đàn ông cao to, mắt xếch, tướng tá uy nghi đạo mạo. Cả hai nhanh chóng được đưa rước vào trong. Đèn nến trong các phòng đã được đốt lên sáng choang. Trong các bồn tắm gỗ, nước nóng cùng mùi lá thuốc xông bốc hơi nghi ngút. Dưới bếp, ngoài sân các gia nhân tất tả công việc. Mùi xào nấu bắt đầu bốc lên thơm lừng từ căn bếp, các món ăn chuẩn bị được phục vụ.

Trịnh đại tẩu và vị khách quan trọng được bố trí ăn riêng một phòng.

Món canh phổi lợn Mán hầm cùng với lê rừng được mang lên. Vị thượng khách thư thái đỡ lấy tô canh. Men rượu ngán bốc lên thơm nồng, mùi canh thơm phức thảo dược ấm nóng quyện cùng mùi vị mĩ nhân trải đời trong quán trọ giữa núi rừng thơ mộng này mấy ai trong đời có phúc phần được hưởng.

Phía ngoài phòng ăn khu bếp, rượu thịt cùng hải sản ê hề được đưa lên bù đắp năng lượng cho đám người sau những ngày gian nan băng rừng vượt suối.

Bóng tối cùng sương núi mang hơi lạnh trong các thung khe đã lan ra bao trùm quán trọ từ lúc nào. Bên ngoài, từ phía đông một đoàn mấy chục người ngựa lặng lẽ khép vòng vây bao quanh ngôi quán. Bóng tối là đồng minh của đám người, không biết họ thuộc lực lượng quân sự nào, chỉ biết tất cả ngồi trên lưng ngựa trong trang phục tối màu cùng súng trường vắt chéo qua ngực…

Vòng vây dần dần khép, áp sát khu quán.

Bên trong phòng ăn chính, rượu tiếp tục được rót ra những bát lớn.

Đoàng! Đoàng! Đoàng!

Bất ngờ phía ngoài đường vang lên những tiếng súng. Như chỉ chờ có thế, hai tay súng từ một phòng trọ xô cửa lao ra. Nhưng cả hai bất ngờ bị ngã nhào xuống hành lang ngay cửa do bị sợi dây thừng căng ngang ngáng chân, họ vừa kịp định thần ngồi dậy thì nhận ra một họng súng đang chĩa về phía mình. Một tiếng nổ vang lên. Trước khi gục xuống, qua ánh đèn trong phòng hắt ra, gã trai trẻ tuổi không khỏi kinh ngạc khi nhận ra kẻ vừa nổ súng bắn mình là người đàn ông say rượu quen mặt trong quán trọ suốt mấy ngày qua.

Bên ngoài, hàng loạt tiếng súng từ các hướng bắn xối xả vào khu quán trọ. Đèn phụt tắt. Tiếng hét, tiếng bát đũa đổ vỡ, tiếng la thất thanh vang lên.

Đám người dò dẫm trong bóng tối xô nhau bỏ chạy tán loạn.

Tới hốt hoảng phi nhanh đến chụp vội lấy chiếc đèn bão trên bàn kéo cả nhà lách qua cửa bước ra ngoài. Tiếng súng bắn nhau càng lúc càng dữ dội do đám quân của đại tẩu sau phút bàng hoàng đã nhanh chóng chấn chỉnh đội hình bắt đầu chống trả.

Lúc này đám quân sĩ bên ngoài đã tràn được vào khu nhà ăn. Một thanh củi đang cháy được ném lên mái nhà lợp lá cọ. Ngọn lửa bùng lên soi sáng khoảng sân. Đám người phía đại tẩu lợi dụng ánh lửa, họ dàn quân nấp sau những xe ngựa chở hàng trong sân làm lá chắn bắn ra phản công lại.

Trong chuồng, lũ ngựa kinh động hí lên những tràng dài.

Vừa dẫn được vợ con ra đường mòn, Tới giật mình khi thấy một bóng đen đột ngột từ bụi rậm phía trước nhảy xổ ra chĩa súng nhằm vào mình. Một tiếng nổ chát chúa vang lên. Sau phút kinh hãi, định thần lại Tới nhận ra mình và vợ con không bị thương tích gì. Gần đó là xác gã đàn ông trung niên trọ trong quán mấy ngày qua. Tam và Lực đứng ngay đằng sau, cả hai lăm lăm tay súng. Tới hiểu tiếng nổ vừa rồi là của hai người đã kịp thời kết liễu tên giặc già cứu mạng cả gia đình mình.

Cái xác nhanh chóng được ném vào vạt rừng.

- Tình hình rất nguy hiểm, cứ đà này đám người của Trịnh tẩu sẽ không chống cự nổi. Hai người quay lại nhà trọ, đưa đại tẩu cùng đám đàn bà con gái rút chạy vào rừng ngay. Tôi đưa cô Lài và các cháu đến nơi an toàn rồi quay lại hỗ trợ - Tiếng Lực vang lên chắc nịch như ra lệnh.

Tới vội vàng cùng Tam chạy ngược lối mòn chui qua kho chứa cỏ, trườn về phía phòng đại tẩu.

May mắn đại tẩu cùng vị khách vẫn an toàn trong phòng, còn có thêm đám nữ nhân súng ống nai nịt gọn gàng bảo vệ. Tới nói lớn:

- Xin đại tẩu và mọi người theo tôi thoát ra ngoài rừng ngay. Tình hình này chỉ lát nữa bọn địch ngoài kia sẽ đánh vào tới đây.

Vị thượng khách vẫn bình tĩnh hỏi:

- Đã tìm hiểu được xem bọn người ngoài kia là ai mà dám manh động vậy?

Tiếng súng đùng đoàng bên ngoài càng lúc càng rộ. Tiếng lửa cháy lép bép trên mái càng lúc càng gần. Đại tẩu quay ra giục vị khách:

- Có chú em đây dẫn đường. Chúng ta cứ tạm lánh ra ngoài rừng rồi tính.

Tất cả theo Tới ra ngoài, chạy men theo hành lang của dãy nhà. Có những tiếng nổ đuổi theo. Trước khi chui vào kho chứa cỏ thoát ra ngoài rừng, Tới vẫn kịp nhìn thấy Tam đứng phía đầu nhà tay lăm lăm khẩu súng yểm trợ.

Tới quyết định quay lại quán trọ sau khi vợ con và đám đại tẩu đã an toàn trong hang Cáo. Chui qua ngách nhỏ chỗ kho chứa cỏ rồi trườn vào tới sân, Tới ngạc nhiên khi thấy quán trọ im ắng tiếng súng. Khu bếp và phòng ăn chính đã bị lửa thiêu rụi đổ sập hoàn toàn, những tàn lửa vùi mình trong đống đổ nát thỉnh thoảng vẫn cố bùng lên mấy đám cháy yếu ớt. May sao ngọn lửa không cháy lan sang những dãy nhà bên cạnh. Trên sân ngổn ngang xác chết bên những vũng máu. Im lặng một cách đáng ngờ.

- Có ai ở đây không?

Nhận ra tiếng Tới, lập tức mấy bà già làm công run rẩy chui ra từ gầm xe ngựa, tiếp đó đám người của đại tẩu cũng thận trọng bước ra. Tới nhìn quanh, rùng mình ứa nước mắt; thiếu mất non nửa, như vậy những xác chết ngoài sân kia phần lớn là anh em của mình, họ rất trẻ, mới hôm qua đây còn nói cười chào hỏi và có lẽ anh Lực, Tam cũng trong số đó. Tới thấy cổ họng như nghẹn lại, dò dẫm trong bóng tối theo trí nhớ đến trước cửa phòng Tam với một hi vọng mong manh. Đẩy cửa bước vào, căn phòng im lặng như tờ.

Quay trở lại khoảng sân, đoán chắc bọn tấn công lúc trước đã rút đi, Tới liều mình cầm cây đèn bão vừa đốt đi vòng ra phía ngoài đường xem xét.

Bất chợt, Tới nghe tiếng gọi từ lùm cây phía trước:

- Anh Tới!

Là tiếng gọi của Tam. Tới mừng rỡ lao đến, sững người khi nhìn thấy Lực đang bị thương rất nặng ở đùi trái, vết thương khá rộng và đã bị mất nhiều máu. Lực gần như lả đi trên gò đất nhỏ. Tam vẫn đang loay hoay cầm máu. Kinh nghiệm tìm lá thuốc, băng bó trầy xước trong những lần đi rừng giúp Tới nắn chỉnh lại chỗ xương bị gẫy, đắp thuốc rồi băng bó vết thương cầm được máu cho người bị nạn.

Lực tỉnh táo lại sau khi được uống nước, cố nén cơn đau nhờ Tới lấy xe ngựa đưa ra khu bến cá.

Phải khó khăn lắm, Tới mới đánh được chiếc xe ngựa ra khỏi khoảng sân chết chóc.

Sau khi đưa được người bị thương lên xe, con ngựa ô phi nước đại rời khỏi quán trọ. Đi được một đoạn khá xa, Tam bảo Tới dừng xe nghe ngóng thấy an toàn liền nhảy xuống đường cầm theo chiếc đèn bão đi về phía chân đồi, bỏ tập giấy mang theo châm lửa đốt. Ngọn lửa rụt rè bùng cháy. Qua ánh lửa, Tới kịp đọc những dòng chữ to chưa kịp cháy và hiểu đây là truyền đơn mà Việt Minh kêu gọi diệt trừ Việt gian bán nước hại dân. Nhưng tại sao Tam lại đem đốt bỏ?

Xong việc, chiếc xe ngựa tiếp tục phi nước kiệu trên đường cái quan rồi rẽ vào một đường đất nhỏ hơn, cây rừng rậm rạp hai bên. Tới hãm dây cương ngựa cho xe đi chậm lại, giải thích đường này khó đi hơn nhưng sẽ tránh được kẻ địch truy đuổi. Lúc này Tới mới quay lại cảm ơn rồi rụt rè:

- Có phải các anh là người của Việt Minh?

Không có tiếng trả lời. Tới tiếp tục:

- Tôi hiểu thêm Việt Minh từ hồi đi học bình dân học vụ. Họ đã đánh Pháp, đuổi Nhật giành được chính quyền về tay nhân dân, còn dạy cho mình và đồng bào biết cái chữ, biết nhiều điều mới lạ…

Rừng đêm vắng lặng, nghe rõ cả tiếng lá khô vỡ vụn dưới bánh xe, thỉnh thoảng là tiếng ngựa thở phì phò khi gồng mình kéo cỗ xe vượt qua những ổ gà lồi lõm trên đường.

Bất chợt Tam lên tiếng:

- Anh Tới có biết lai lịch vị thượng khách đi cùng Trịnh tẩu không? Ông ấy chính là một lãnh đạo cao cấp của khu tự trị - do người Pháp lập ra để đối phó với chính quyền cách mạng. Ông ta chủ quan khi cho rằng khu vực quán trọ là địa bàn của quân Pháp nên đã cho trung đội tùy tùng trung thành của mình rút đi để muốn yên tĩnh hưởng lạc cùng tình nhân. Còn bọn người tấn công vào quán trọ đêm nay là đối thủ cạnh tranh của ông ta do quân Tưởng đứng sau hỗ trợ. Chúng muốn trừ khử ông ta hòng lăm le thế chỗ, nhưng lại muốn một mũi tên trúng hai đích: sau khi trừ khử xong sẽ rải truyền đơn giả danh Việt Minh thực hiện để thoát tội. Khi ấy quân Pháp sẽ càng có cớ để đàn áp chống phá cách mạng. Chúng tôi đã theo dõi, truy vết và đập tan âm mưu của chúng.

Ngừng một chút, Tam tiếp:

- Nếu không tiêu diệt được đám người dân tộc Ngái thì không biết hậu quả sẽ thế nào. Bọn chúng là những tay súng được cài cắm vào quán. Tập truyền đơn mà tôi vừa đốt được lấy từ trong người của chúng. Khi tôi cùng anh Lực vòng thoát được ra đường, tổ chức tấn công ngược vào bên trong làm chúng tưởng có quân cứu viện tới, liền hốt hoảng rút lui. Không may là anh Lực bị thương.

Im lặng.

Con ngựa ô vẫn cần mẫn bước trong đêm vắng.

Đã ngửi thấy mùi vị mặn mòi của biển thoảng trong gió. Đi hết con đường với các tàng cây phi lao loang loáng lướt qua, bất chợt Tam vỗ vai bảo Tới dừng xe lại. Chỗ này biển ăn vào sát bờ, nghe rõ cả những con sóng xô. Tam xuống xe nhìn ra mặt biển đen sẫm, cầm chiếc đèn bão vẽ thành một vòng tròn trong không gian ba lần rồi căng mắt dò tìm. Phía ngoài khơi bỗng lóe lên ánh đèn ba lần đáp trả. Tam giơ cao đèn vẫy lại. Lát sau một chiếc thuyền buồm tiến lại. Nghe Tam trao đổi, mấy người dưới khoang lên xúm vào giúp sức đưa Lực xuống thuyền.

Trước khi rời đi, Tam quay lại siết chặt tay Tới:

- Nhất định chúng tôi sẽ trở lại. Anh ở lại quán quan sát, phát hiện ra những đối tượng chống phá hoặc làm điều gì bất thường không có lợi cho Việt Minh thì ngầm báo lại cho chúng tôi, sẽ có người liên lạc với anh sau. Chốn ba quân, anh và gia đình bảo trọng nhé!

Chiếc thuyền buồm căng gió từ từ rời bến. Thoáng cái mất hút trong màn đêm đen.

Tới cho ngựa phi nước đại quay lại quán, kịp lúc trời vừa sáng.

Hơn một năm sau.

Lúc này quán trọ đã được sửa chữa khang trang. Công việc kinh doanh tại quán trở lại bình thường như chưa từng xảy ra cái đêm biến cố kinh hoàng ấy.

Một sáng mùa đông, núi rừng im lìm chìm trong mây mù và cái lạnh cắt thịt da. Như thường lệ Lài vẫn dậy đúng giấc lúi húi nhóm lửa, Tới chuẩn bị xe ngựa đi chợ sớm. Bỗng Lài giật mình bởi một toán người ngựa từ bên ngoài phi vào, tiếng hô hét đuổi bắt vang lên, đồ đạc bị khám xét vất tung tóe, cả quán trọ náo loạn. Lài choáng váng khi nhìn thấy chồng mình bị bọn lính khố xanh nhét giẻ vào mồm, trói giật cánh khuỷu xốc nách lôi đi. Lài hốt hoảng đuổi theo, bất lực đứng khóc khi nhìn toán lính đưa người chồng đi xa dần và mất dấu trong trong màn sương mù đặc quánh…

*

*            *

Tấn dừng câu chuyện, đứng dậy đến ban thờ thắp hương, mắt rơm rớm, quay ra bảo tôi:

- Hi vọng câu chuyện về gia đình mà tôi vừa kể sẽ được ghi lại để không bị mai một và biến mất cùng những gì đã diễn ra ở vùng đất này, từ đó biết đâu lại tìm ra một manh mối nào đó về người ông của tôi.

Tấn tiếp:

- Sau cái hôm ông bị bắt, bà tôi đã đi dò tìm khắp nơi nhưng không có kết quả. Trịnh tẩu qua vị thượng khách, biết tin ông tôi bị Tây bắt vì tội làm Việt Minh. Và đó cũng là tin tức cuối cùng của ông mà gia đình tôi được biết. Bà tôi sau những năm tháng nhọc nhằn gánh vác gia đình và mòn mỏi đợi chờ đã ra đi trong dằn vặt, nhỡ đâu chồng về mà không thấy mình.

Tấn lấy trong ngăn kéo đưa cho tôi xem một cuốn sổ nhỏ cũ đã ngả vàng, trong đó ghi chép rất đầy đủ các thông tin hữu ích về phong trào cách mạng của địa phương thời kì những năm 1950. Cuốn sổ này là kỉ vật của ông, trước lúc mất bà nội Tấn mới trao lại cho bố. Tấn bảo giá như bố anh biết được cuốn sổ này sớm hơn thì có lẽ công việc tìm tung tích cho ông nội những năm trước đây sẽ nhiều thuận lợi vì có thể tìm gặp được các nhân chứng còn sống, dù biết rằng rất khó do việc sử dụng bí danh hay thay tên đổi họ để hoạt động bí mật. Đến bây giờ con cháu vẫn tiếp tục tìm kiếm.

Tôi hiểu tâm tư đau đáu trong gia đình Tấn.

Tôi xin phép lại gần ban thờ, các bức di ảnh của những người trong gia đình Tấn lung linh huyền ảo qua làn khói hương mỏng. Ngước sang bức chân dung của ông nội Tấn, hình như người trong ảnh cũng vừa lắng nghe câu chuyện và tôi không biết ông đang suy nghĩ điều gì.

H.K.B