Shahrnush Parsipur, người có những tiểu thuyết và truyện ngắn xoay quanh cuộc đấu tranh của phụ nữ Iran trước và sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979 đã đưa bà trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất thế hệ của mình, vừa mới qua đời vào ngày 3 tháng 7 tại San Francisco (Mĩ).
Bà hưởng thọ 80 tuổi. Con trai bà, nghệ sĩ Ali Taghvai, cho biết mẹ mình qua đời tại bệnh viện do đột quỵ. Nói về sự nghiệp, nhà xuất bản Denise Rose Hansen tại Anh cho biết: “Di sản của Shahrnush trong lịch sử văn học thực sự không thể so sánh với bất kì ai. Tầm nhìn độc đáo, lòng dũng cảm phi thường của bà đã và sẽ tiếp tục là ngọn hải đăng dẫn đường cho nhiều thế hệ độc giả cũng như nhà văn. Khi liên lạc với bà chỉ vài ngày trước, nhà văn vẫn như mọi khi: hào phóng, ấm áp, thẳng thắn, nhanh nhẹn và xuất sắc. Chúng ta rồi sẽ vô cùng nhớ bà.”

Shahrnush Parsipur được xem là một trong những nhà văn lớn của văn chương Iran.
Trong sự nghiệp, Parsipur đã viết tác phẩm nổi tiếng nhất - một liên truyện có tính liên kết mang tên Women Without Men (tạm dịch: Những người phụ nữ không có đàn ông) vào cuối những năm 1970, nhưng mãi đến năm 1989 mới được xuất bản. Cuốn sách tập trung vào 5 người phụ nữ tìm nơi ẩn náu trong một khu vườn ở Tehran khi cuộc đảo chính vào năm 1953 nhằm củng cố quyền lực của Shah hiện đang diễn ra. Tại đó, mỗi người đều đã đấu tranh, chịu đựng hoặc thậm chí qua đời dưới bàn tay của chế độ gia trưởng hà khắc của đất nước mình. Mặc dù ban đầu các nhà kiểm duyệt đã chấp thuận cho xuất bản, nhưng vợ của một quan chức cấp cao trong chính phủ đã phàn nàn rằng những cuộc thảo luận thẳng thắn về tình dục nữ giới trong đây vi phạm quy tắc đạo đức nghiêm ngặt của chế độ Hồi giáo, vì vậy tác phẩm trở thành sách cấm. Parsipur sau đó đã bị bỏ tù hai lần vì cố gắng giữ cho tác phẩm tiếp tục lưu thông. Suốt quá trình đó, tập truyện ngắn này luôn có sức sống dù được lan truyền một cách ngầm ẩn, cũng như đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng. Năm 2009, nghệ sĩ người Iran Shirin Neshat chuyển thể thành phim điện ảnh, trong đó Parsipur đóng vai khách mời.
Women Without Men lần đầu được xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1998, sau đó được dịch lại và tái bản bằng tiếng Anh vào đầu năm nay. Vào tháng Hai vừa qua, bản dịch Anh ngữ mới của Faridoun Farrokh đã lọt vào danh sách đề cử dài cho Giải Booker Quốc tế vô cùng danh giá. Viết trên tờ The Times of London vào hồi tháng 3, nhà phê bình John Self cho rằng “xuyên suốt tác phẩm là một cảm giác hân hoan, nơi nỗi đau được xoa dịu và hóa thành những niềm vui sướng. Cuốn sách không chỉ mang tính khai sáng mà còn rất đỗi thú vị.” Trong khi đó, dịch giả Farrokh thì cho rằng đây là “những suy ngẫm vô cùng tinh tế về Iran đương thời, đặc biệt là cái nhìn sâu sắc của Shahrnush về mối quan hệ giữa nam và nữ”.
Trong suốt sự nghiệp, Parsipur không coi mình là người ủng hộ các phong trào bất đồng chính kiến dưới thời Shah hay chế độ Cộng hòa Hồi giáo hoặc là nhà nữ quyền theo tất cả mọi nghĩa. Nhưng bà khẳng định trách nhiệm của riêng bản thân như một cây viết phải có trách nhiệm vạch trần bất công vẫn đang hiện tồn. Chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2019 với Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Louisiana ở Đan Mạch, nhà văn cho biết: “Vai trò của văn học khá rõ ràng: Ta phải đối mặt với những thực tế và viết về cách giải nhằm quyết chúng.”
*
Shahrnush Parsipur sinh ngày 17 tháng 2 năm 1946 tại Khorramshahr, một thành phố ở miền tây Iran. Cha bà, Ali Parsipur, là một luật sư, trong khi mẹ bà, Samilah Fakhr al-Moluk Vala, làm việc nội trợ. Năm 13 tuổi, bà bắt đầu viết truyện và đến khi vào học tại Đại học Tehran đã thường xuyên đăng tải truyện ngắn của mình trên các tạp chí văn chương. Cuốn sách đầu tay của bà là truyện thiếu nhi có tên The Little Red Ball (Quả bóng đỏ nhỏ) được xuất bản năm 1969. Sau khi tốt nghiệp ngành xã hội học năm 1973, bà làm việc cho đài phát thanh quốc gia Iran, với công việc chính là sản xuất các chương trình phát thanh và viết các bài điểm sách sẽ đọc trên sóng. Tuy vậy bà đã từ chức vào năm 1974 để phản đối việc chính phủ dưới thời Shah Mohammed Reza Pahlavi tiến hành hành quyết hai nhà văn nổi tiếng và bỏ tù bốn người khác. Không lâu sau đó, bà bị bắt và bị buộc tội chống đối chính phủ.
Ở mảng tiểu thuyết, cuốn sách đầu tiên của bà mang tên The Dog and the Long Winter (Con chó và mùa đông dài) ra mắt vào năm 1974. Đây là một trong những tác phẩm hư cấu đầu tiên của một nữ tác giả được xuất bản ở đất nước này. Năm 1967, bà kết hôn với nhà làm phim Nasser Taghvai và rồi li dị vào năm 1974. Ngoài con trai, bà còn một người anh trai Shahbaz Parsipur và một chị gái Miryam Parsipur. Rời khỏi đất nước, bà đã trải qua những năm cuối thập niên 1970 ở Paris, học tiếng Trung Quốc và lịch sử tại Đại học Sorbonne. Bà trở về Iran sau cuộc cách mạng 1979. Năm 1981, bà lại bị bắt, lần này vì tàng trữ giấy tờ bất hợp pháp trong xe. Dù chứng minh được những tài liệu này không bất hợp pháp, nhưng bà vẫn phải ngồi tù trong bốn năm rưỡi.
Trong thời gian này, có những tháng liền bà bị giam hãm trong phòng biệt giam cũng như bị ép phải nghe giảng giải tôn giáo. Cũng trong quãng này, bà bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết mới Touba and the Meaning of Night (Touba và Ý nghĩa của Đêm), kể về cuộc đời của một người phụ nữ tên Touba lấy bối cảnh Iran thế kỉ 20 đầy rẫy biến động. Theo đó sau khi cha qua đời, Touba 14 tuổi kết hôn với một người đàn ông 52 tuổi nhưng ông ta nhanh chóng li dị với cô vì quan điểm phóng khoáng. Sau đó, cô đã thành thân với một hoàng tử và có bốn người con, nhưng khi người này phản bội, hôn nhân của họ đi đến tan vỡ. Touba cuối cùng trở thành một người phụ nữ trụ cột của gia đình. Được biết tiểu thuyết sẽ được Random Penguin House phát hành bản dịch tiếng Anh tại Vương quốc Anh vào năm 2028 tới.

Trong nhiều tác phẩm, Women Without Men là tập truyện nổi tiếng nhất, có đời sống mới khi lọt vào vòng chung khảo tại giải Booker Quốc tế 2026.
Sau khi hoàn thành bản thảo của tiểu thuyết này, bà cho biết lính canh đã tịch thu và yêu cầu mình tiến hành sửa đổi. Nhưng thay vì tuân theo, bà chọn tiêu hủy những gì đã viết. Bà được thả tự do năm 1986 và ngay lập tức viết lại Touba. Cuốn sách được xuất bản năm 1989, cùng năm với Women Without Men. Bà cũng dịch một số tác phẩm từ tiếng Trung sang tiếng Ba Tư, trong đó có cả Kinh Dịch. Theo bà, đây là trước tác đã thay đổi mình như “sự khai sáng, nói về bản chất hai mặt của thế giới này”.
Vào năm 1993, bà đã dành vài tháng để thuyết giảng tại Hoa Kì và châu Âu sau đó trở về Iran một thời gian ngắn, nhưng nhận ra mình sẽ không thể tiếp tục xuất bản dưới chế độ Hồi giáo đương thời. Một năm sau đó, bà chuyển hẳn đến Hoa Kì, dạy học tại Đại học Brown vào đầu những năm 2000 và định cư tại Richmond, California, phía bắc Berkeley, bên vịnh San Francisco. Trong quãng đời mới, bà viết một cuốn hồi kí về thời gian ngồi tù mang tên Kissing the Sword (Hôn thanh kiếm, ra mắt năm 1996 bằng tiếng Ba Tư và 2013 bằng tiếng Anh) cũng như tiểu thuyết khoa học viễn tưởng dài gần 1.000 trang mang tên Shiva (1999) mà cho đến nay vẫn chưa được dịch.
Tuy vậy, bà thừa nhận sự tự do mà bản thân tìm thấy ở Hoa Kì đã làm tiêu hao một phần năng lượng từng thúc đẩy mình viết tại quê nhà dưới sự đàn áp chính trị của cả Shah lẫn nền cộng hòa Hồi giáo. Bà nói với tờ The Guardian vào tháng Ba năm nay rằng 20 năm qua bản thân sống trong một cộng đồng người Iran gần San Francisco, nơi bà hiếm khi nói tiếng Anh nhưng thường chơi bài bridge và đón năm mới của người Ba Tư với bữa ăn truyền thống haft-sin. Trong khi đó “những suy nghĩ và ý tưởng của tôi đang dần phai nhạt. Tôi không ở Iran nên không thể viết điều gì đó mới. Tôi đã viết hết chuyện của mình rồi. Sẽ là bất khả để sáng tạo thêm về California”. Dù không nhận mình là một nhà văn nữ quyền, nhưng Shahrnush cho biết: “Phụ nữ Iran đã thay đổi rất nhiều, giờ đây có rất nhiều người không còn đội khăn trùm đầu nữa. Họ không quan tâm nền Cộng hòa Hồi giáo hiện đang nghĩ gì” và rất tin tưởng họ “sẽ gây ra sự sụp đổ của Cộng hòa Hồi giáo khắc nghiệt”.
Về nguồn cảm hứng, bà cho biết mình muốn trở thành nhà văn từ khi còn nhỏ, thường lấy cảm hứng từ kí ức cũng như những gì diễn ra xung quanh, trong khi việc đọc 36 lần liên tiếp Những kỳ vọng lớn lao bằng tiếng Ba Tư của Charles Dickens đã giúp bà học cách viết. Bên cạnh đó, bà cũng xem Dostoevsky cũng như Kafka là những nhà văn ảnh hưởng đến mình một cách mạnh mẽ.
NGÔ MINH dịch từ The New York Times và The Guardian