Thứ Năm, 04/06/2026 14:38

Sóng dưới bước chân

Tôi đi xuống bến vượt. Con đường bê tông dày cộp có độ dốc gần 20% lập tức bắt đôi chân tôi phải gồng lên, năm đầu ngón chân trong giày da bấm chặt để chống đỡ... (Bút kí dự thi. NGUYỄN MẠNH THẮNG)

. NGUYỄN MẠNH THẮNG
 

Xuống xe ở Trung tâm thao trường huấn luyện của Lữ đoàn Công binh 25, Quân khu 7, tôi cùng Thượng tá Phùng Danh Biền, Phó Lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng đi tham quan các phân đội đang huấn luyện chuẩn bị cho hội thao công binh toàn quân sẽ diễn ra vào tháng 3/2026. Đến bờ sông, tôi chợt sững người. Cảnh vật nơi này sao vừa lạ lẫm, vừa quen thuộc đến thế? Tôi quay sang anh Biền: “Em thấy nơi này… quen quá”. Thấy khuôn mặt ngây ra của tôi, anh Biền cười: “Bên kia là Trung tâm huấn luyện thực hành của Trường Sĩ quan Công binh, hay còn có tên khác hình thành hơn chục năm trước là Thao trường tổng hợp Binh chủng Công binh khu vực phía Nam đấy em!” À, thì ra là đây - một khúc sông Đồng Nai huyền thoại, nơi tôi và đồng đội đã có thời gian dài “trầm mình” gần ba mươi năm trước. Gió từ mặt sông thổi lên mang theo hơi nước mát lành và mùi hăng đặc trưng của bùn đất, thoảng đâu đó mùi dầu máy. Tiếng máy sà lan xa xa xen lẫn tiếng sóng vỗ vào bờ ì oạp, như bản nhạc nền không lời, trầm đục mà thân thuộc. Trên bờ bên kia, sau những vòm lá xanh dưới nắng chiều còn vương hơi ấm, những dãy nhà tầng lợp tôn đỏ, tường vàng chạy dài im lìm, gợi trong tôi cảm giác chông chênh khó tả.

Tôi đi xuống bến vượt. Con đường bê tông dày cộp có độ dốc gần 20% lập tức bắt đôi chân tôi phải gồng lên, năm đầu ngón chân trong giày da bấm chặt để chống đỡ. Cảm giác căng cứng cơ bắp toàn thân dồn xuống đôi bàn chân tựa ngày nào thật đến từng thớ thịt. Nó như một lời nhắc về nghề công binh “ăn no vác nặng”, “đi trước về sau”. Đến mép bến, tôi đưa mắt nhìn những đốt cầu phà PMP và ca nô nằm im lìm ven bờ chờ giờ huấn luyện. Chúng bình thản như những lực sĩ đang ngủ say. Phía dưới, dòng nước vàng nhạt nặng phù sa vẫn chảy không ngừng nghỉ, những chiếc tàu ngược xuôi băng băng chạy, bọt tung 2 bên mạn trắng xóa. Tôi chợt nghĩ, nhiệm vụ công binh giống như dòng nước cuộn chảy về hạ lưu không bao giờ ngưng nghỉ, và chúng tôi, những sĩ quan bước ra từ bến vượt này, cũng tựa những con tàu trên dòng chảy ấy, mang theo mình số phận khác nhau, nhưng đều chung một hành trình dấn thân trước những thử thách đầy gian khó. Chúng tôi có mặt ở mọi nơi, từ biên cương đến hải đảo xa xôi, trên những công trình trọng điểm trong thành phố, ven đô thị lớn với lửa hàn rực cháy xuyên đêm mà nếu không phải người trong nghề, không trực tiếp chỉ huy bộ đội hay nếm mùi dầu mỡ giữa nắng lửa thao trường, khó lòng thấu hiểu hết những gian truân.

Mặt trời đã lên cao. Cái nắng trưa miền Đông hầm hập dội xuống mặt bến bê tông, hắt lên mắt tôi những quầng lóa. Trong khoảnh khắc ấy, thực tại nhòe đi. Tôi thấy mình của tuổi hai mươi, da đen nhẻm, mồ hôi quyện với dầu máy thành một thứ mùi đặc trưng không thể lẫn, ngồi trong máy lu, máy húc, máy xúc, máy gạt, máy cẩu, máy đào hào giữa tiếng động cơ gầm rú…

Giảng đường trong lòng đất

Trường Sĩ quan Công binh được xem là lò đào tạo sĩ quan công binh cấp phân đội cho toàn quân. Một kỉ niệm khó quên với tôi trong thời kì mang cầu vai đỏ - học viên sĩ quan (tôi học khóa 1994 - 1999, đào tạo đại học đầu tiên) đó là đi thực tập chức danh Trung đội trưởng ở Đại đội 3, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 550, Quân đoàn 4. Lúc ấy, nhiệm vụ của Đại đội 3 có hai trung đội thiếu là tổ chức thi công hầm bộ binh cũng ở huyện Tân Uyên, cách nơi chúng tôi học thực hành khoảng 30km đường chim bay.

Sáng ấy, khi bình minh rải những tia nắng vàng xuống cánh rừng lóng lánh hơi sương thì chúng tôi rời nhà tạm mái tôn cót ép để lên hầm. Đi trên con đường mòn nhỏ hẹp nằm giữa những bụi sim, mua và cỏ tạp tốt um tùm, uốn lượn quanh co, tôi hồi hộp vô cùng. Lần đầu đi chỉ huy bộ đội làm hầm cơ mà, háo hức, oai lắm chứ. Nhưng tôi cũng lo lắng vì chưa biết bắt đầu công việc thế nào. Bộ đội toàn anh em người Chợ Gạo, Tiền Giang, có người kém tuổi tôi, và cũng có người hơn tuổi đã có vợ con. Họ đã làm hầm đến hai năm trời, kinh nghiệm đầy mình. Quả khó ứng xử, chỉ sợ không khéo lại ten ngay trước mặt họ.

Lần đầu tiên được vào lòng núi thi công hầm bộ binh tôi không khỏi choáng ngợp. Đi hết một đoạn đường thông đã đổ bê tông với nước bùn nhão nhoét trong ánh điện vàng ệch, tôi đến nơi thi công. Lúc ấy các chiến sĩ đang tập trung đào mở rộng để chuẩn bị cho ghép cốp pha và sau đó là đan sắt, đổ bê tông. Không khí trong hầm ngột ngạt, nóng bức và cực khó chịu. Những âm thanh từ máy rung dội như tiếng nổ trung liên đập vào tai, lộng óc. Mùi ẩm mốc, mùi của cây tươi ngâm nước, mùi ngai ngái của bê tông vừa đổ ở ca trước và bụi đồng loạt xộc vào mũi, mồm cực khó chịu khiến tôi như ngộp thở. Cảm tưởng bên trong lồng ngực bị một khối sắt ép xuống.

Sau khi để tôi quen mắt, quen tai và quen với hoàn cảnh mới, anh Khoái, trung đội trưởng mới giới thiệu, đây là giai đoạn thi công phức tạp vì nguy cơ mất an toàn cao. Anh phân tích, để thi công được đường hầm, các đơn vị sẽ đào đường thông trước để hai cửa thông nhau đón không khí. Tùy từng đặc điểm kết cấu địa chất mà các đơn vị áp dụng phương pháp đào đường thông khác nhau, cụ thể ở đây thì đào bằng thuốc nổ. Khi đánh thuốc nổ xong phải bốc xúc và vận chuyển đất đá ra ngoài bằng xe cải tiến hoặc cút kít đi trên các ván vệt. Tiếp đó là chống tạm. Ở nơi địa chất yếu thì phải chống xít. Có nghĩa là phải đóng các khung bằng cây gỗ tạp thành hình chữ nhật rồi xếp khít vào nhau. Ở các góc của khung được giằng với nhau bởi các thanh chéo chống xô. Ở chân và giữa khung chống tạm cũng có thân để cố định…

Những thông tin mà anh Khoái cung cấp, đa phần chúng tôi đã học ở môn công sự đường hầm, không có gì khó hiểu. Tôi bắt đầu lơ đãng, mắt nhìn hết chỗ nọ chỗ kia, liên tưởng đến những chiến sĩ biệt động trong các phim mình đã xem. Giọng anh Khoái lẫn trong tiếng máy, bập bõm tiếng được tiếng mất. Hình như anh nói về an toàn trong thi công. Thì cũng như những gì mình đã học thôi… Tôi nghĩ, nên cũng không hỏi lại.

Những ngày sau tôi bắt đầu học việc chỉ huy bộ đội thi công đường hầm của anh Khoái. Cuối cùng tôi rút ra được bài học bổ ích, đó là phải nắm chắc tim và cốt. Bởi đây là hai thông số chính rất cơ bản quyết định đến đào mở rộng, dựng lắp cốp pha, đan cốt thép và đổ bê tông. Nắm tim, cốt sẽ định hình được khối lượng bốc xúc, vận chuyển và các công việc khác để điều chỉnh tốc độ thi công từng phần cho hợp lí. Tôi hí hửng khoe với anh như vừa lập được một chiến công xuất sắc. Tưởng anh sẽ động viên, ghi nhận sự sáng dạ của tôi, nào ngờ anh nói như gội gáo nước lạnh vào đầu: Cái đó ai cũng làm được. Có cái khác quan trọng hơn nhiều mà không học được ngay đâu.

- Nó là cái gì hả anh? - Tôi nhanh nhảu hỏi.

- Chú cứ làm đi rồi tự rút ra kinh nghiệm. Bây giờ anh mà nói sẽ mất thiêng.

Anh Khoái cười đầy ẩn ý và rút ra cửa hầm, nơi có khoảng sáng bé nhỏ mà ai trong chúng tôi cũng mong muốn. Bởi nơi ấy có không khí trong lành, có ánh sáng mặt trời, chứ chẳng bí bách, tù túng, tăm tối và hăng hắc, thum thủm khó chịu như trong này.

Những ngày sau tôi lao vào công việc. Lúc đầu anh Khoái còn đứng sau quan sát. Sau thấy tôi thuần thục, anh để tôi lại một mình. Những lúc đó, tôi như một trung đội trưởng chính thức chỉ huy thi công. Một hôm, khi tôi đang đứng trên mô đất trong phần đào mở rộng để quan sát, cảnh giới cho chiến sĩ bảo dưỡng bê tông vừa đổ hôm trước thì nghe tiếng ầm ở phía sau. Tôi phi thân lọt qua khe cốp pha và chui tọt vào bên trong vòm bê tông vừa đổ. Cậu chiến sĩ bảo dưỡng bê tông cũng nhanh nhẹn víu tay vào thanh chống, rồi quăng người vào bên trong. Chúng tôi luồn qua dãy cây chống ra phần hầm đã đổ bê tông, mặt cắt không còn giọt máu. Phải vài phút sau, khi đã tĩnh tâm, tôi mới sờ nắn người của đồng chí chiến sĩ xem có bị sao không. Tôi cũng kiểm tra thân thể của mình, nhất là phần đầu xem có bị chấn thương không, may mắn đến lạ kì, chúng tôi không hề hấn gì. Tôi thở phào vì pha chết hụt. Một lúc sau quay trở lại hiện trường, trong ánh điện vàng vọt, tôi thấy đất phủ kín đến gần nóc bê tông, chỉ để lại một khoảng hở nhỏ xíu. Đất xô đổ một vài cột chống phía ngoài và ào vào bên trong phần bê tông đã đổ. Tôi đi ra ngoài và nói với đồng chí chiến sĩ cùng về doanh trại để báo cáo chỉ huy đại đội sự cố vừa rồi.

Anh Khoái đi vào hiện trường. Anh đứng lặng hồi lâu trước đống đất đá vừa sụt xuống, khuôn mặt vốn hay cười cợt bỗng trở nên trầm mặc lạ thường. Nhìn anh, tôi chợt nhớ ra cái khoảng lơ đãng trong hầm hôm nào. Bữa đó, hình như anh đã lưu ý việc khi đào mở rộng thì phải tháo bỏ chống tạm nên đất ở bên vách dễ bị lở hông do kết cấu bị nước ngầm rửa trôi gây sạt lở. Hình như anh lưu ý khi sử dụng các máy đào liên tục khiến đất bị rung động cũng phá vỡ kết cấu và có nguy cơ sụt, rơi vào đầu người thi công…. Còn tôi, ngựa non háu đá, hệt kẻ “biết tuốt”, không chịu nghe, không chịu hỏi, nên suýt nữa đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình và đồng đội…

Đêm ấy, trong lán của đại đội, bên bình trà đặc quánh và ánh đèn dầu leo lét, anh nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi bảo:

- Chú thấy chưa? Tim hay cốt hầm có sai một vài li thì còn sửa được, chứ con người mà sai một giây phản xạ là không có cơ hội làm lại.

Anh nhấp một ngụm trà, giọng trầm xuống:

Ngoài những lưu ý an toàn mà tôi đã dặn cậu hôm trước, trong thi công công trình ngầm, người chỉ huy không chỉ nhìn bằng mắt mà phải nghe bằng tai, cảm nhận bằng cả da thịt mình. Cái này phải làm nhiều, trải nghiệm nhiều thì mới hình thành được. Đất đá nó cũng có linh hồn, trước khi đổ xuống nó luôn “báo” cho mình qua một tiếng răng rắc của thớ gỗ, hay một tia nước ngầm rịn ra bất thường. Kĩ thuật là cái nền, nhưng sự mẫn cảm và lòng yêu nghề, lo cho bộ đội mới giữ cho cái hầm này không trở thành nấm mồ. Chú biết “đọc” được những tín hiệu ấy, thì mới đủ tư cách đứng ở cửa hầm chỉ huy bộ đội.

Tôi ngồi lặng đi. Hóa ra, bấy lâu nay tôi mải mê với những bản vẽ A0 bóng bẩy mà quên mất rằng, dưới cái nóc hầm tối tăm kia, tính mạng của hàng chục con người đang nằm trong sự tỉnh táo của mình. Đó là bài học đầu đời về trách nhiệm, một thứ “cốt thép” vô hình nhưng bền vững hơn bất cứ loại mác bê tông nào tôi từng học ở trường.

Kết thúc đợt thực tập, tôi rời Tân Uyên với một hành trang mới: Không chỉ là kinh nghiệm thi công, mà là cái “tâm thế” của người lính công binh trước những thử thách nghiệt ngã. Đây là hành trang rất quan trọng cho những bước đường tương lai phía trước.

 

Sóng dữ mép xanh

Tháng 8/1999, sau khi tốt nghiệp, tôi và các đồng đội tỏa đi muôn nơi. Trong đó chủ yếu là về các đơn vị công binh quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng và một số học viện, nhà trường. Riêng tôi về Quân chủng Hải quân. Mãi cuối tháng 11 năm ấy, tôi và Nguyễn Đức Thu, Vũ Quốc Tuấn, Cấn Anh Tài, Nguyễn Thanh Bình mới được điều động về công tác tại Trung đoàn Công binh 131. Nhiều đồng đội của tôi về đơn vị chưa ấm chỗ đã lên biên giới thi công công trình quốc phòng, rà phá bom, mìn vật nổ còn tồn sót sau chiến tranh và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác.

Nếu những ngày thực tập ở Tân Uyên là nơi tôi học cách “nghe” hơi thở của đất, thì những ngày ở Trung đoàn 131 lại dạy tôi cách “đọc” những cơn giông và sóng dữ. Gần Tết Tân Tỵ năm 2001, chúng tôi nhận lệnh vào Bà Rịa - Vũng Tàu làm công tác huấn luyện bổ sung và chuẩn bị mọi mặt đi thực hiện nhiệm vụ ở Trường Sa. Với tôi, đây là thử thách đầu tiên trong cuộc đời làm cán bộ ở nơi khó khăn, gian khổ. Khi ấy, Trường Sa là nơi tiềm ẩn những yếu tố khó lường. Tàu “lạ” vẫn lởn vởn trên biển, thậm chí “cặp kè” với các tàu Hải quân ta, lúc lại di chuyển chậm xung quanh các đảo, điểm đảo của ta như có ý răn đe.

Trước khi đi Trường Sa làm nhiệm vụ dài ngày, chúng tôi được về nghỉ Tết Nguyên đán gần hai tuần. Khi lên đơn vị để chuẩn bị đi đảo, hành trang mà chúng tôi mang theo ngoài đồ dùng cá nhân thì còn có lưỡi câu, cước, vợt lưới để đánh bắt cá và nến thắp sáng. Người nào kĩ càng thì chuẩn bị thêm dầu gió và chai nước tỏi để phòng cảm cúm ở nơi dễ có gió chướng hoặc khi trở trời.

Khác với nhiều cán bộ đã từng đi làm nhiệm vụ tại Trường Sa, hành trang mà tôi mang ra đảo còn có cuốn Sổ tay Trường Sa do Nhà xuất bản Lao động ấn hành từ năm 1995. Cuốn sách khổ 13x19cm, khá mỏng nhưng chứa nhiều thông tin cơ bản, rất bổ ích với những người trực tiếp làm việc trên mặt biển như chúng tôi, nhất là các thông tin về thời tiết, khí hậu, thủy triều, dòng chảy và cả các loại hải sản quanh các đảo, điểm đảo. Cuốn sách cũng chỉ dẫn những thông tin về xử lí các tình huống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe như cấp cứu người đuối nước, kĩ năng đi trên san hô rêu trơn trượt ở các bãi cạn, cách nhận biết các loài hải sản mang độc tố có khả năng tấn công hoặc cách xử trí khi bị các loại hải sản có nọc độc tấn công…

Trước ngày ra Trường Sa Đông, chúng tôi háo hức nhận tàu và tổ chức nhận xuồng hàng. Sân cảng Đoàn 129 nhộn nhịp người, xe, hàng cùng những tiếng lợn, gà, vịt được nhập lên tàu Trường Sa 02 của Lữ đoàn 125. Tàu Trường Sa 02 kéo ba hồi còi từ từ tách khỏi thành cầu cảng và hướng cửa biển rồi tiến về bãi Trước thơ mộng. Tôi biết rằng những hiểm nguy, khó khăn, vất vả đang đón đợi mình ở phía trước.

Trên toàn quần đảo, chỉ có duy nhất đảo Trường Sa Lớn là có cầu cảng nên công việc chuyển hàng từ tàu lên đảo là nhẹ nhàng và đỡ vất vả hơn cả. Các đảo và điểm đảo khác không có bến cập xuồng và càng không có cầu cảng nên việc chuyển tải chủ yếu dựa vào sức người là chính. Chúng tôi cẩu hàng từ hầm tàu rồi xếp xuống xuồng chuyển tải và dùng xuồng máy đẩy kéo xuồng chuyển tải đưa hàng vào đảo. Xuồng máy đẩy cấu tạo đơn giản như những chiếc xuồng vẫn thấy trong thực tế nhưng có lắp thêm động cơ nổ Đông Phong. Xuồng chuyển tải đặc biệt hơn vì đáy bằng phẳng để tạo sức nổi tối đa. Đuôi xuồng cũng phẳng, mũi hơi vát để giảm sức cản của nước. Thành xuồng cao hơn một mét và hơi nghiêng ra ngoài. Nó có khả năng chứa từ một đến hai tấn vật liệu tùy loại.

Để chuyển hàng vào đảo, chúng tôi thường phân chia thành ba bộ phận. Lực lượng bốc và cẩu hàng lên xuồng khoảng năm đồng chí có nhiệm vụ xếp hàng trong hầm tàu vào võng rồi các cẩu điện của tàu sẽ đưa hàng xuống xuồng. Lực lượng vận chuyển hàng vào đảo gồm một nhân viên lái xuồng máy đẩy và một chiến sĩ có kinh nghiệm thực hiện đỡ hàng vào xuồng và xếp hàng. Mỗi xuồng máy đẩy có thể kéo theo hai xuồng chở hàng nếu thời tiết thuận lợi và mức nước lớn, không có sóng to. Lực lượng giải phóng hàng từ xuồng chuyển tải lên đảo thường được bố trí từ hơn một tiểu đội trở lên. Khi xuồng hàng về đến chân bờ kè, sẽ tập trung thật nhanh để giải phóng hàng. Lực lượng bốc hàng lên vai bộ đội mà chúng tôi vẫn gọi vui là “bốc lò” là mệt nhất. Tất nhiên, phải chọn người khỏe, sức chịu đựng dẻo dai, bởi tốc độ chuyển tải nhanh hay chậm phụ thuộc cả vào việc giải phóng hàng ở các xuồng khi cập bến. Vấn đề chi phối đến toàn bộ công tác chuyển tải không đến từ con người mà từ con nước thủy triều. Nước càng lớn thì xuồng chạy càng nhanh và bộ phận giải phóng hàng ở đảo càng phải làm việc cấp tập. Nếu nước cạn, xuồng máy đẩy phải kéo xuồng chuyển tải đi theo luồng đã khảo sát từ trước để tránh đá san hô, thời gian chờ đợi sẽ tăng lên rất nhiều và hiệu suất lao động thường không cao. Chúng tôi được cung cấp một bảng nhật triều để căn cứ vào đó có thể xác định thời điểm con nước lên xuống mà tổ chức cho bộ đội thực hiện nhiệm vụ một cách dễ dàng và mang lại hiệu quả cao nhất.

Theo lời kể của anh Nguyễn Xuân Ba, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 884, trước đây, khi chưa được trang bị xuồng máy đẩy, việc chuyển hàng ở Trường Sa thực hiện theo phương pháp cổ điển và tốn kém công sức, dễ mất an toàn. Trước khi chuyển tải, bộ đội rải dây xuồng to như cổ tay em bé từ tàu vào đến vị trí người có thể đứng và đẩy được xuồng. Các chiến sĩ sẽ vịn vào dây để đưa xuồng đi vào trong đảo. Việc này rất dễ gây lật xuồng dẫn tới mất hàng ở nơi mép xanh, vị trí có sóng to.

Chuyển tải hàng vào đảo theo các con nước rất gian khổ. Dù là 12 giờ trưa nắng gay gắt hay vừa sáng, trong lúc chiến sĩ của đảo còn đang tập thể dục thì lính công binh đã vác hàng. Có khi vừa ăn cơm xong, mới ngồi nghỉ vài phút là cả phân đội lại ào ra mép đảo để lội biển và đi trên cát san hô lạo xạo để thực hiện nhiệm vụ. Hàng chục tấn hàng được bộ đội vác trên vai vận chuyển vào trong đảo. Nước mặn khiến ống chân chiến sĩ đen óng như trát bồ hóng. Nắng Trường Sa bỏng rát khiến da gáy chiến sĩ bóc từng mảng loang lổ. Mồ hôi túa ra ướt đầm cả lưng áo, gặp nắng gió thốc qua tạo thành những đường gân trắng trên áo chiến sĩ hải quân màu xanh thẫm.

Sáng ấy, khi ăn cơm xong thì chúng tôi bắt đầu thực hiện chiến dịch chuyển tải từ tàu vào đảo. Tối hôm trước, Phó Đại đội trưởng chính trị Vũ Quang Khoát đã phát động phong trào thi đua “Vai tăng cân, chân nhanh bước” trong chuyển tải. Hằng ngày, sau khi thống kê, tôi tổng hợp số liệu về chỉ huy đại đội, phân đội nào đạt năng suất cao trong chuyển tải sẽ được thưởng. Khi các phân đội quán triệt thêm chỉ tiêu thi đua, ai cũng tỏ rõ quyết tâm. Vì đây là chuyến hàng đầu tiên trong chiến dịch nên chúng tôi rất muốn phải giành thắng lợi tuyệt đối, tạo trớn (đà) cho những ngày tiếp theo. Ấy nhưng điều không mong muốn đã xảy ra gây thiệt hại không hề nhẹ. Chúng tôi đã mất một chiếc xuồng chuyển tải và gần một tấn hàng. Rất may, Hạ sĩ Phúc - một Tiểu đội trưởng quê Kinh Môn, Hải Dương đã thoát kịp khi xuồng bị lật. Trước đó, đúng lúc Phúc đang lúi húi kê hàng thì một con sóng to đập vào thành tàu Trường Sa 02. Sóng đập ra khiến xuồng chuyển tải bị nghiêng và lật úp. Phúc cùng hàng hóa trên xuồng chìm xuống. Sau đó không lâu Phúc ngoi được lên. Phúc kể, khi xuồng lật, dép rọ mắc vào hàng kẹt cứng. Phúc co người và lấy hết sức giật đứt quai dép, thoát khỏi sức nặng của gần một tấn hàng đang từ từ chìm xuống đáy biển.

Đến giai đoạn cuối của đợt chuyển tải, trong lúc bộ đội tập trung trên mặt đảo để chuẩn bị thi công thì tôi được giao nhiệm vụ đi chuyển tải nước. Xuồng chuyển tải chở theo các téc nước hình ô van áp sát mạn tàu và nhận nước bơm ra từ tàu. Khoảng 15 phút sau téc đầy thì rút vòi và tháo dây neo để xuồng máy đẩy kéo vào đảo. Với thời gian đi trên mặt biển, tôi tha hồ ngắm, nghĩ và thỏa sức thả hồn theo những con sóng đùa giỡn trên mặt biển xanh biếc.

Trong một lần chuyển tải nước như thế tôi đã suýt bị làm vật tế đại dương. Chuyện là, khoảng hơn 10 giờ, tôi áp xuồng chuyển tải nước vào mạn phải của tàu để nhận nước. Khi tôi đang miên man nhìn theo những con sóng đùa giỡn trên mặt biển thì bỗng tàu Trường Sa 02 báo động nhổ neo. Tôi vừa định leo lên thành boong tàu thì thủy thủ đã rút thang. Họ đề nghị tôi đưa dây đáy để cố định xuồng chuyển tải nước vào mạn tàu và bảo tôi lên xuồng máy đẩy để chạy vào đảo rồi cho tàu chạy ra khỏi vị trí. Một lúc sau cơn dông biển từ xa ào tới. Mặt biển đen kịt, tối sầm và kèm theo mưa lớn. Nếu lúc trước khi chưa có dông, tầm nhìn trên mặt biển có khi đạt tới 12km thì nay đã không nhìn thấy gì, dù đứng cách nhau 10m. Sau này tìm hiểu tôi mới biết khi giông chuẩn bị đến, các tàu phải nhanh chóng nhổ neo để di chuyển vì nếu ở lại sẽ dễ đứt neo. Tàu bị gió đẩy mắc cạn, dễ gây nguy cơ vỡ vỏ.

Xuồng máy đẩy do Cường người Hà Tĩnh điều khiển chở tôi nhằm đảo thẳng tiến nhưng đã quá muộn. Dông biển trùm lấy xuồng khiến nó như bị nuốt chửng. Hai tay tôi bám chặt thành xuồng mà đầu mường tượng đến cảnh tàu bị chìm. Tiếng máy xuồng phành phạch bên tai nhưng chẳng giúp chiếc xuồng tới được nơi định tới. Thời gian trôi đi chậm chạp, đặc quánh trong mưa mịt mùng. Những hạt mưa lao xuống xối xả như những mũi lao đập vào mặt, đập vào áo phao tôi mặc. Bất chấp mưa lớn và gió to, Cường vẫn tập trung cao độ để lái chiếc chân vịt cố đưa xuồng cắt sóng, đè sóng. Khoảng 15 phút sau, khi dông đã hết và nhường chỗ cho ánh nắng mặt trời từ từ hé lộ trên mặt biển, cũng là lúc chúng tôi không còn nhìn thấy đảo, thấy tàu đâu nữa. Tôi và Cường xác định hướng và đi bừa trên mặt sóng. Thì ra, trong thời gian vật lộn với cơn giông biển quái ác, chúng tôi những tưởng chiếc xuồng vượt lên được sóng và đi vào đảo nhưng thực tế là xuồng bị đẩy đi rất xa. Sau dông lốc, mặt biển bình yên như chưa có gì xảy ra. Mặt trời lên cao, nắng gay gắt khiến quần áo ướt sũng nước của chúng tôi nhanh chóng được hong khô. Với tốc độ không hơn 3km/h, cuối cùng tới tận 15h chiều, chúng tôi cũng về được tới đảo và lại áp vào mạn tàu Trường Sa 02 đã thả neo nằm đợi sẵn. Thời gian ấy, thủy triều đã gần xuống mức thấp nhất nên tôi và Cường phải cố gắng lái chiếc xuồng chuyển tải ì ạch luồn tránh những hòn đá san hô trên bãi cạn để di chuyển vào đảo. Vào được tới nơi, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy mình đã an toàn trong sự vui mừng của anh em đồng đội.

Cuối năm 2002, Đảng ủy Trung đoàn ra quyết định điều tôi sang Đại đội 2 của Tiểu đoàn 881 làm Phó Đại đội trưởng chính trị. Đến tháng 8/2003 thì tôi có quyết định đi Học viện Hải quân trong Nha Trang học chuyển loại cán bộ chính trị tàu hải quân. Cuối năm 2004, sau khi học xong, tôi trở về Trung đoàn và được điều động sang làm Phó Đại đội trưởng Đại đội 7 của Tiểu đoàn 883. Trước tết năm 2005, tôi nhận lệnh đưa 10 đồng chí vào công trường xây dựng đường hầm quan sự ở Quảng Bình.

Những ngày làm hầm ở Quảng Bình là thời gian rất vất vả chống chịu với những cơn gió Lào và cái lạnh mùa đông thấu xương.

Ngày đó, chúng tôi thường mang cơm ra sân ăn. “Mâm cơm” thực chất là cái đĩa quân dụng bằng nhôm 3 ngăn, đường kính chắc hơn 30cm đựng các món rau, cá, thịt và 2 nồi nhôm quân dụng 60 đựng canh, cơm. Một trận gió Lào bỏng rát mang theo cát ập tới. Sáu tấm lưng trần trai trẻ đen bóng không thể khép kín che “mâm cơm” bé tí teo khỏi “cát tặc”. Cát bay vào cơm, vào thức ăn, vào rau, vào canh lạo xạo trong miệng, rồi trôi tuột xuống dạ dày trong tiếng cười đùa tếu táo và khuôn mặt đen bóng của lính...

Trong thi công, thông thường, chúng tôi đi ca sáng từ 6h đến 14h chiều và ca tối từ 14h đến 22h đêm. Rất may, nhờ có kinh nghiệm đã tích lũy từ thời học viên thực tập ở Tân Uyên nên tôi không bị bỡ ngỡ. Ở đây, căng nhất là tiếp phẩm và nước sạch sinh hoạt. Trung đoàn đặt hàng người dân đi mua thực phẩm. Hàng ngày, họ phải đi xe máy qua đường đồi núi vòng vèo dài tới hơn 30km để ra thị trấn Cồn mua thực phẩm rồi đem về. Món chủ đạo trong các bữa ăn của chúng tôi khi đó là cá chim. Ban đầu còn thấy ngon, nhưng ăn mãi rồi cũng chán; rồi dần dần thấy ngấy, chỉ cần nhìn thôi đã phát sợ.

Nước sinh hoạt là vấn đề nan giải. Chúng tôi toàn bơm nước từ suối vào téc để ăn. Tất nhiên là tắm giặt thì cũng là nước suối rồi. Mùa đông, trời lạnh buốt có lúc xuống đến 5-7 độ C. Nhiều bận, đi ca về đến doanh trại đã 24h đêm, người đầy bụi đá. Trời lạnh buốt, chúng tôi phải tợp vội mấy ngụm nước mắm cho ấm người, chạy ra suối tắm thật nhanh rồi trở lại nhà ăn cơm và đi ngủ. Cái khổ nhất với tôi lúc này là thiếu điện để đọc sách. Lúc ấy, Trung đoàn làm dân vận, kéo điện từ nhà dân về doanh trại cách đó tới 3km. Buổi tối, bóng điện dây tóc 100w như con đom đóm đực. Do điện yếu nên trung đoàn chỉ cho điện ở những nơi trọng yếu. Chiếc đèn bàn và gần một bao tải sách tôi mang theo đành bỏ xó, mất tác dụng. Thói quen đọc sách trước khi ngủ bị gác lại. Nhưng đúng là “Tái ông thất mã”. Giữa đêm rừng Quảng Bình tĩnh mịch, trong tôi bỗng nảy nở một nhu cầu khác - nhu cầu được viết...

(còn nữa)
N.M.T