. VŨ MINH CHÂU
Cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật là sự tổ chức và gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành trong một tác phẩm. Thay vì tồn tại rời rạc, những yếu tố này đan xen, hòa quyện, tạo thành một mạng lưới liên kết, bổ trợ lẫn nhau, định hình một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ đặc thù. Cấu trúc duy trì tính chỉnh thể, đảm bảo sự logic, mạch lạc bên trong, đồng thời là cầu nối đưa độc giả đến những tầng ý nghĩa sâu hơn, hứa hẹn mang lại một trải nghiệm thưởng thức toàn vẹn.
Trong cái nhìn có tính chất thao tác luận, cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật còn được hiểu là sự thống nhất hữu cơ, toàn vẹn giữa nội dung (bao gồm đề tài, chủ đề, tư tưởng…) và hình thức (bao gồm kết cấu, ngôn từ, thể loại, giọng điệu, nhịp điệu, nhạc tính...). Đây là một hệ thống yếu tố liên kết nội tại mật thiết, không thể tách rời, cùng hướng đến mục tiêu bày tỏ thông điệp tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của tác phẩm. Nếu như các phương diện nghệ thuật như ngôn ngữ, biểu tượng, thể thơ, giọng điệu, nhịp điệu, nhạc tính… trong mức độ nào đó có thể tách ra để phân tích độc lập, thì cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật lại gợi lên sự tổng hợp, khi tất cả những yếu tố ấy được đặt vào trong một chỉnh thể thống nhất. Đây là tầng nghĩa cao nhất và cũng là nơi toàn bộ thế giới thơ Trương Đăng Dung hiện ra theo một dòng suy tưởng liên tục, một hành trình tinh thần được triển khai qua nhiều trang viết, nhiều năm tháng. Điều phân biệt một nhà thơ viết về các chủ đề hiện sinh một cách rời rạc, ngẫu hứng với một nhà thơ đã thực sự chuyển hóa ý niệm hiện sinh bền bỉ thành hệ mĩ học, thành nguyên tắc tổ chức thi giới của mình chính là ở chiều kích này. Ở Trương Đăng Dung, ý niệm hiện sinh vừa xuất hiện ở nội dung tư tưởng, vừa thấm sâu vào toàn bộ cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật của thế giới thơ. Cụ thể hơn là ở cách tổ chức ngôn ngữ, giọng điệu, biểu tượng, thể thơ, nhịp điệu, cấu trúc văn bản. Tất cả những yếu tố ấy luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau, cùng hướng tới việc biểu đạt trạng thái hiện hữu của con người giữa một thế giới bất ổn.
Sự thống nhất chỉnh thể trước tiên được hình thành từ mạng lưới hình ảnh và biểu tượng xuyên suốt trong thế giới thơ Trương Đăng Dung. Những biểu tượng như “dấu hỏi”, “mê cung”, “hố đen”, “chiếc cầu”, “dòng sông”, “ảo ảnh”, “chiếc gối thừa”, “cơn bão”, “bức tường”, “đêm”, “con tàu”, “quạ”… liên tục trở đi trở lại trong nhiều bài thơ khác nhau, là một hệ quy chiếu tinh thần thống nhất: sau chín tháng ngồi im tập xếp hình dấu hỏi (Tự bạch); Bạn biến bài thơ của tôi/ thành mê cung/ của sự tạo nghĩa không ngừng/ theo ý bạn (Sự phản bội ngọt ngào); Như thể bị ném ra từ các hố đen/ những cơn bão tìm nơi ẩn náu/ rồi giành lại quyền uy/ trên đổ nát (Như thể)… Ba bài thơ với ba hệ hình ảnh khác nhau nhưng lại luôn mang một ý nghĩa chung. “Dấu hỏi” là biểu tượng của nhu cầu nhận thức về bản thể; “mê cung” biểu hiện trạng thái lạc lối trong hành trình kiếm tìm ý nghĩa; “hố đen” và “cơn bão” lại mở ra cảm giác bị quăng vào một tồn tại đầy hỗn loạn, điều mà từ M. Heidegger đến J.P. Sartre đã luôn nhấn mạnh là “bị ném vào thế giới” - một trong những trải nghiệm căn bản nhất của thân phận người.
Biểu tượng “bức tường” cũng là một ví dụ điển hình về sự vận hành xuyên suốt của thi ảnh hiện sinh qua nhiều bài thơ: Anh và em đi trên mặt đất này/ giữa những bức tường ta xây và phá/ nhưng tất cả đều bị bao quanh/ bởi những bức tường không nhìn thấy… Giữa những cái bắt tay/ có một bức tường/ giữa em và người em thấy trong gương/ có một bức tường/ giữa hai chiếc gối nằm kề nhau/ có một bức tường (Những bức tường). Nỗi cô đơn hiện ra ngay trong những khoảnh khắc tưởng chừng thân mật nhất. Sự chia lìa nội tâm không thể hàn gắn dù hai con người đang ở cạnh nhau. Và, “bức tường vô hình” ấy còn vang vọng theo những cách khác nhau, trong những tình huống hiện sinh khác nhau: Tất cả áp sát tôi/ tôi nói, họ không hiểu/ họ nói, tôi không hiểu (Ác mộng)…
Biểu tượng “đêm” cũng xuất hiện với tần suất dày đặc và nhất quán trong thế giới thơ Trương Đăng Dung, trở thành một trong những thi ảnh trung tâm của toàn bộ cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật. “Đêm” là bóng tối siêu hình đặt con người đối diện trực tiếp với sự trống rỗng của tồn tại, tước bỏ mọi điểm tựa quen thuộc, có thể nhận diện. Bản thể chìm trong sự che khuất, sự im lặng tuyệt đối và chính trong sự im lặng ấy, ý nghĩa của đời sống bắt đầu lung lay, phân rã, tan vỡ thành từng mảnh: Nếu một đêm/ một chiếc gối thừa/ một sợi tóc rụng/ một tiếng lá rơi/ một lời dang dở/ một nỗi nhớ ai/ không còn ý nghĩa? (Lưu ý); Tôi nghe đêm đêm tiếng bước chân người, tiếng trẻ khóc đòi ăn, tiếng mèo kêu ma quái, tiếng mưa rơi da diết gọi bình minh. Bóng những người cha lặng lẽ vô tình, như vết máu đổ dài trên vách, những người mẹ ôm bụng trào nước mắt, sung sướng lo âu nghe nhịp đạp con người (Tự bạch); Những người đàn bà đêm đêm vẫn đến/ mắt nhìn vào cây đàn/ những lo toan/ mưa giăng từ mái nhà của họ (Trong quán cafe Pianô)...
Biểu tượng “quạ” cũng tham gia vào cấu trúc chỉnh thể này theo một cách rất đặc biệt. Từ lâu là biểu tượng của cái chết và điềm gở trong nhiều nền văn hóa, “quạ” khi bước vào thơ Trương Đăng Dung đã được nâng lên thành biểu tượng của sự tha hóa hiện sinh: Anh không còn gì ngoài bàn tay em/ vuốt lên tóc anh trước cả ánh mặt trời/ thời gian rơi/ qua từng kẽ ngón tay em vất vả/ không giữ được đâu em/ anh nghe ngày một gần hơn tiếng lũ quạ (Anh không còn gì ngoài em); Đã lâu rồi quạ cũng bay đi/ có lẽ một ngày kia chúng sẽ trở về mang theo nhiều xương ống (Những kỉ niệm tưởng tượng); Đêm đêm anh vẫn nghe lũ quạ/ cười nói huyên thuyên trên những bức tường này (Những bức tường)… Sự hiện diện ám ảnh của loài quạ như một thứ “ngôn ngữ bóng tối”, một tín hiệu của điềm dữ, rủi ro, hiểm họa bao trùm đời sống. Chúng vừa “bay đi”, vừa hứa hẹn trở về “mang theo nhiều xương ống”, biểu đạt sự lặp lại của định mệnh chết trong vũ trụ. Tiếng “cười nói huyên thuyên” của quạ trên “những bức tường này” lại gợi ra cảm thức tha hóa. Ngay cả ngôn ngữ cũng trở thành trò nhạo báng, phơi bày sự vô nghĩa và bất lực của con người trong thế giới bất an và phi lí. Khi đặt tất cả các biểu tượng này trong sự liên kết chỉnh thể, ta nhận thấy rằng đời sống không có sẵn ý nghĩa tuyệt đối, con người phải tự bước đi giữa những khoảng tối của tồn tại để nhận diện chính mình, để kháng cự, để sống, dù là sống trong nỗi âu lo tuyệt vọng.
Sự liên kết chỉnh thể còn tiếp tục được thiết lập và duy trì trong cách Trương Đăng Dung sắp xếp các biểu tượng về thời gian: Tôi muốn tìm tôi của những năm bảy mươi/ mười tám tuổi/ ngơ ngác bước đi trên những nẻo đường Budapest (Những nẻo đường Budapest). Chính câu thơ “Tôi muốn tìm tôi” tự nó đã là một biểu tượng chỉnh thể. Chủ thể và đối tượng của hành trình tìm kiếm đều là “tôi”, nhưng lại là hai “tôi” khác nhau, cái tôi của hiện tại đang đi tìm cái tôi của quá khứ đã mất, cái tôi của hôm nay đang cố kết nối với cái tôi của “mười tám tuổi” ngày xưa. Cảm giác xa lạ với chính mình, cảm giác rằng mình đã trở thành một người khác mà không biết từ khi nào chính là điểm hiện ra của ý niệm hiện sinh trong cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật thơ Trương Đăng Dung. Ở những lần hé sáng khác, thời gian lại hiện lên qua những khoảnh khắc nhỏ bé: một chiếc gối thừa/ một sợi tóc rụng/ một tiếng lá rơi/ một lời dang dở/ một nỗi nhớ ai (Lưu ý). Thời gian xuất hiện trong trạng thái phi tuyến tính: Như thể chỉ có thời gian hiện tại/ không quá khứ, tương lai/ bắt đầu trong kết thúc/ sống như là thói quen (Như thể). Trong sự bất an, và có phần hoang mang, thời gian bị xóa nhòa, bị tước bỏ các quy ước thường định, để hiện ra vẻ nguyên sơ của nó là sự vô tính: Có thể em quên rằng anh đã gặp em/ hai mươi ba ngàn năm về trước/ ở một bến sông (Có thể)… Tình yêu được đặt vào trục thời gian vĩnh hằng khiến mọi sự gặp gỡ đều trở nên phi lí. Trạng thái “…em quên” đồng nghĩa với sự xóa bỏ, sự tan biến của kí ức trong dòng hư vô bất tận. Bi kịch nằm ở chỗ, dù có sự hiện diện của tình yêu, cái tôi vẫn không thể vượt thoát khỏi nỗi cô đơn bản thể - nỗi cô đơn trong thời gian. Đặt các hình ảnh thời gian ấy cạnh nhau, người đọc có thể nhận ra thời gian trong thơ Trương Đăng Dung có xu hướng bị giải trừ các quy ước, các định tính, để trở về với bản chất “luôn là hiện tại” (M. Heidegger), dù ba mươi năm, hai mươi ba ngàn năm hay ba triệu năm… Một lần nữa, chúng ta lại thấy ý niệm hiện sinh trong dáng dấp của thao tác “giảm trừ hiện tượng luận” mà Trương Đăng Dung hẳn nhiên là không xa lạ.
Dù viết về chiến tranh, kí ức, sự đổ vỡ hay cái chết, giọng thơ của Trương Đăng Dung luôn giữ được độ trầm và sự tiết chế đặc biệt. Điều đó cũng thể hiện sự nhất quán giữa giọng điệu và ý niệm hiện sinh ở cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật trong thơ ông. Nhà thơ để cảm giác cô đơn, bất an lan sâu vào tâm thức người đọc một cách chậm rãi, thấm thía và không thể cưỡng lại: Thành phố đã bao lần không bình yên/ bên dòng sông Đanuyp/ nham nhở những vết đạn trên tường (Những nẻo đường Budapest). Thực tại chiến tranh được tái hiện qua những câu thơ rất bình thản, như thể nó chỉ là một nhân chứng đứng nhìn và ghi lại với tất cả sự điềm tĩnh. Sự điềm tĩnh, thản nhiên ấy khiến câu thơ nặng hơn mọi tiếng gào thét, phẫn nộ. Ở một trường hợp khác, câu thơ Vậy là tôi/ cũng dự đám tang mình (Như thể) nói về cái chết theo cách bình thản đến mức người đọc bị chấn động vì sự tỉnh táo, lạnh lùng của nhận thức, bằng giọng điệu của một người đã đứng ra ngoài chính cuộc đời mình để nhìn vào nó với con mắt của kẻ quan sát. Hay trong Độc thoại, lời cầu nguyện “Xin cho tôi sức mạnh để có thể nuôi giữ đốm lửa cuối ngày trong trái tim này như một niềm tin” cũng được thốt ra bằng giọng điệu của người đứng trên bờ vực mà vẫn giữ bình tĩnh - cái bình tĩnh không-thể-khác. Khi đối diện với thực tại chiến tranh đau đớn nhất, định mệnh lưu đày và ám ảnh không thể cứu rỗi, không thể đào thoát khiến thi nhân bật lên những dòng thơ tỉnh lạnh đến đáng sợ: Tôi lại nhìn thấy họ/ những xác người được tìm thấy/ trong lớp đất bom vùi/ Những người mẹ/ chết vẫn ôm con, những đứa con chết/ mặt úp vào ngực mẹ (Tôi lại nhìn thấy họ). Không một tiếng khóc nào xuất hiện trong những câu thơ trên, chỉ có sự ghi lại lạnh lùng và chính xác khiến người đọc bật khóc.
Một phương diện khác góp phần làm nên cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật là sự tương ứng giữa hình thức văn bản và trạng thái tồn tại mà thơ Trương Đăng Dung biểu đạt. Hình thức trực tiếp tham gia biểu đạt ý niệm hiện sinh bằng chính cấu trúc của nó. Ở bài Lên cao, điệp khúc “lên cao lên cao” lặp đi lặp lại là nỗi hoang mang ngày càng lớn dần: Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố? Nhà chọc trời bóng đổ, sông oằn mình trôi như thể đã lâu rồi trời với sông không muốn nhìn nhau nữa. Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố? Những hàng cây lá đỏ trong gió lạnh chơi vơi, như thể đã lâu rồi gió với cây không muốn nhìn nhau nữa. Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố? Một cánh chim không tổ trên lớp lớp sóng người, như thể đã lâu rồi người với chim không muốn nhìn nhau nữa. Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố? Những mặt người khốn khổ chen chúc dưới mặt trời, như thể đã đến thời người với người không muốn nhìn nhau nữa. Lên cao lên cao lên cao… Càng lên cao, tầm nhìn càng mở rộng, con người lại càng nhận ra sự bất ổn và phi lí của thế giới bên dưới. Chủ thể vươn lên để tìm kiếm sự rõ ràng nhưng chính sự rõ ràng ấy lại phơi bày thêm những hỗn loạn đang ẩn chứa bên trong. Cấu trúc lặp là cách nhà thơ mô phỏng trực tiếp nhận thức ấy bằng ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu. Mỗi lần “lên cao lên cao…” là một lần con người thử lại, hi vọng lại và lại thất vọng theo cùng một vòng lặp không thể thoát ra.
Bắt đầu trong kết thúc/ sống như là thói quen (Như thể), nỗi đọa đày nơi cõi sống/ như một chịu đựng dấn thân (Ba anh em) có lẽ là sự mô tả cô đọng nhất cho toàn bộ cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật thơ Trương Đăng Dung. Mỗi bài thơ là một khởi đầu, đồng thời cũng là sự tiếp nối của những ám ảnh hiện sinh, ý niệm hiện sinh xuyên suốt và bao trùm hơn. Như thế, hành trình thơ của Trương Đăng Dung là một sinh thể nghệ thuật, một hành trình tinh thần mà ở đó ý niệm hiện sinh đan cài vào từng hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ, giọng điệu, nhịp điệu, các thủ pháp cụ thể và trong cấu trúc chỉnh thể của mỗi thi phẩm (với Trương Đăng Dung, ông còn lưu ý đến tính chỉnh thể của tập thơ, thậm chí là hoạch định những chặng đường thơ gắn với ý niệm sống của mình). Các yếu tố này vừa biểu đạt ý niệm hiện sinh, vừa luôn soi chiếu lẫn nhau để truy vấn ý nghĩa tồn tại. Với thơ Trương Đăng Dung, đọc một đôi câu, một đôi bài, hay cả hành trình sáng tạo cho đến thời điểm hiện tại, người đọc tinh ý sẽ nhận ra, một sợi dây bền bỉ, gắn kết, xuyên suốt, duy trì mĩ cảm, thủ pháp của ông, đó chính là ý niệm hiện sinh. Ý niệm ấy tỏa ra năng lượng, vừa khắc khoải dằn vặt, vừa duy trì sự sống đời, sống thơ, và dẫn ông qua những bất an của tồn tại.
V.M.C