. PHAN VƯỢNG
Gần 5 tiếng xe khách từ Điện Biên vào Nghệ An, qua cầu Cấm, dưới cái nắng xiên xiên của đầu hè, tôi tìm lại ngôi nhà cũ.
Con đường xưa, cái xóm nghèo nhuốm bụi đất đỏ chỉ còn lại trong kí ức. Bước chân giữa phố xá lạ lẫm, tôi không thể nhận ra dấu vết của ngôi nhà có cái cổng tre và dậu cúc tần mỗi sáng sớm khi mở cửa sổ, nghe tiếng chim trong veo đâu đó trong bụi cây rậm rạp. Hơn hai mươi năm rồi, dù đã lường trước, lòng tôi vẫn trùng lại trước những ngôi nhà cao tầng mọc lên từ cái sân gồ ghề sỏi nâu, từ mảnh vườn nho nhỏ có hầm rơm phía sau tôi vẫn nô đùa trốn mẹ và chị Hai. Quay bước trở ra, tôi như lạc đường, lòng băn khoăn tự hỏi, chẳng biết mẹ tôi nếu còn sống, khi quay lại nơi này liệu bà có buồn. Đến trước lúc mất, bà vẫn trăn trở về ngôi nhà xưa chẳng giữ được. Lúc khó khăn nhất, gia đình tôi đã bán lại ngôi nhà để chuyển lên vùng kinh tế mới. Gió quét mặt đường bê tông trống trải đầy bụi, tôi như thấy có mùi cá phơi từ chợ gần cầu Cấm đưa vào. Hồi còn bé, mỗi khi có bà Hai ghé vào bán cá cho mẹ, thế nào tôi cũng được bà cho thêm mấy con cá ve nướng để ăn. Cá ve nướng chấm với nước mắm cốt quê. Đã mấy chục năm rồi nhưng tôi vẫn không quên được hương vị của nó. Bao năm qua đi, mỗi khi đi ngang chợ, nghe mùi cá nướng thân quen tôi lại nhớ đến bà bán cá rong vẫn thường gánh hàng ngang qua nhà, nhớ đến cái chợ con con đầu xóm xơ xác trong mưa đạn. Lòng dạ bồi hồi về những bữa cơm đạm bạc nơi quê nghèo, bữa cơm sang nhất cũng chỉ có cá ve với rau muống luộc. Những cọng rau muống non, to bằng chiếc đũa con, luộc lên đem chấm với nước cá ve kho đặc sánh màu mật mía.

Minh hoạ: Phạm Hà Hải
Chiếc điện thoại trong túi chợt rung lên khiến tôi bừng tỉnh.
- Anh Ba, anh đến nơi chưa. Anh nhìn bên đường xem đang ở đâu để em đến đón.
Sương vẫn như ngày nào, nôn nóng, tính cách mạnh mẽ, luôn thích soán vai trò đàn ông. Khi nhận được điện thoại của Sương sau hơn hai mươi năm, dù giọng em có méo mó đi vì tiếng nấc, vì những nghèn nghẹn, run rẩy đôi lúc phải dừng lại giữa chừng, tôi vẫn nghe ra giọng điệu của con bé làng chài dạn dĩ thuở xưa: “Anh ơi, anh cho em hỏi ... đây có phải số điện thoại anh Ba Thắng, nhà ở Nghi Long, có mẹ Tư và chị Hai Hòa, sau năm 1968 chuyển đi vùng kinh tế mới không?” “Trời ơi, em đi tìm anh lâu quá, khổ quá anh ơi...” Sương chẳng ngại ngần mà òa lên khóc. Chưa cần xưng tên, chỉ cần đến đó thôi, tôi đã như nhìn thấy trước mặt con bé tóc tém giống con trai, gầy nhẳng và táo tợn. Tôi chẳng biết mình đang nói gì, như bước hẫng xuống vực mênh mông. “Sương... cái Bé... Em còn sống sao?”
Sương một mực đòi lên Điện Biên để gặp tôi. Em bảo, ngày mai thôi, em sẽ lên trên đó luôn, cùng với chồng của em. Tôi im lặng hồi lâu rồi bảo, lâu rồi anh chưa về quê. Giá biết em vẫn ở đó. Thôi, để anh về.
Mất hơn tuần thu xếp công việc, cùng với sự thúc giục của Sương, tôi trở về quê như một ước muốn âm thầm bấy lâu nay. Với đôi mắt giảm thị lực còn ba phần và cái chân giả tập tễnh sau ngày trở về từ chiến trường Tây Nam thì chuyến đi vài trăm km không hề đơn giản với tôi. Tôi muốn gặp lại Sương, gặp lại quê nhà.
- Anh ghé qua nhà cũ một chút.
- Anh ở đó, ở yên đó nhé. Em lên đón anh...
Không chờ tôi trả lời, Sương vội vã cúp máy.
Gió từ cầu Cấm đưa vào và cái nắng bỏng rát khiến mắt tôi buốt mờ đi. Lòng tôi trào lên cuộn cuộn như sóng biển, những kỉ niệm ngày nào êm đềm mà cũng đầy bất trắc...
Ngày ấy, nhà đông nên đến bữa, khẩu phần của mỗi người hôm nào sang lắm cũng chỉ được một con cá ve. Tôi là con út nên được mẹ ưu tiên cho con nhỉnh hơn. Gia đình tôi hồi đó cũng nghèo như bao hộ nông khác. Nhà tranh vách nứa. Nền nhà đắp bằng đất sét. Để có cái nền nhà bằng phẳng mịn màng thì phải đầm, phải nện công phu lắm. Đầm càng chặt thì mùa hè nắng nóng, nền nứt càng to, càng dài. Người dân quê tôi thường gọi những đường nứt ấy là hang nẻ. Có những hang nẻ dài hàng mấy mét, chiều ngang có thể bỏ lọt cả bàn chân nằm nghiêng. Một hôm, trong bữa ăn mẹ gắp cho anh chị em chúng tôi mỗi đứa một con cá. Như thường lệ tôi vẫn là người được mẹ cho con to nhất. Tôi kiêu hãnh gắp lên như một ưu ái đặc biệt mẹ dành riêng cho mình. Chị Hai ngồi cạnh bực mình hất một cái, con cá bay tung lên rồi rơi tọt xuống hang nẻ… Tôi khóc hu hu. Thấy cảnh ấy, mẹ xót xa: “Thôi, mai mẹ bù cho em con to hơn. Được không?” Tôi dằn mạnh đôi đũa xuống mâm rồi chạy lại giường nằm úp mặt khóc nức nở. Biết tính tôi hay hờn nên chẳng ai chạy lại dỗ dành. Cả nhà nháy mắt nhau tiếp tục bữa cơm. Một lúc sau chị tôi lại vỗ về: “Chị xin lỗi, em lại ăn cơm, chiều chị đưa em ra đợi bà Hai bán cá”. Nhắc đến bà, nghĩ đến những món ăn hấp dẫn khác ngoài cá ve từ đôi quang gánh cũ mèm, tôi liền ngồi vọt dậy, mặt tươi roi rói hỏi dồn: “Chị nói thật nhé!” Tôi rụt rè quay lại mâm cơm và ngạc nhiên khi nhìn thấy một con cá nằm ngang trên bát mình. Mắt tôi sáng lên sung sướng. Nhưng nhìn sang bát của chị chẳng thấy con cá đâu. Tôi bẻ đôi cá và gắp cho chị một nửa.
Sau này lớn lên một chút, được mẹ kể cho nghe nhiều chuyện làm ăn vất vả của người dân kẻ bể, tôi mới hiểu có được chút hương vị mặn mòi ấy của biển cả. Người đàn ông kẻ bể phải vật lộn với sóng gió biển khơi, nhiều khi phải đổi cả tính mạng. Hồi bố tôi còn sống, ông cũng thường xuyên vắng nhà với những chuyến đánh bắt dài ngày trên biển. Ngày bệnh sắp mất, nằm thoi thóp trên giường, ông mơ sảng thấy mình biến thành con cá được ở lại với biển khơi. Bố gầy rộc, nằm thẳng đuột trên chiếc giường mẹ lót chăn cẩn thận để bố đỡ đau khi trở mình. Mắt ông dại, trắng dần, miệng há ra thở dốc, hai bên hàm bạnh ra. Tôi nhìn bố mà chợt nghĩ đến một con cá bị mắc cạn. Còn bố vẫn nghĩ mình đang ở giữa biển khơi. Hai ngày đầy đau đớn, khổ sở thì bố tôi đi. Bố mất, mẹ tôi cũng thôi những ngày chờ đợi thuyền cập bến, cùng những người phụ nữ khác mang sàng, rổ đứng trên bãi đợi. Mẹ tôi mở cửa hàng tạp hóa nhỏ để lo cho chị em tôi, nhưng vẫn không quên cuộc sống của người phụ nữ xứ biển. Vất vả, nhọc nhằn mà chẳng ai hay mình vất, mình khổ, bởi nó là cuộc sống từ khi sinh ra. Họ dậy từ lúc nửa đêm để nướng cá, chuẩn bị cho phiên chợ sáng hôm sau. Hành trình len lỏi khắp thôn cùng ngõ vắng mới bán hết hàng, đến khi mặt trời lặn mới về đến nhà. Người kẻ bể có câu ca: “Ăn với chồng một bữa, ngủ với chồng nửa đêm”.
Mỗi khi bà Hai gánh hàng ngang qua, mẹ tôi vẫn thường nhìn theo bà, như nhìn theo những bước của mình thuở trước, vừa nhớ, vừa thương. Bà bán cá thân hình gầy guộc, nhỏ thó, khuôn mặt và đôi tay đen sạm thường thấy của những người bán hàng rong bôn ba, dãi dầu mưa nắng. Bà quẩy gánh hàng nhanh thoăn thoắt, cái dáng nhỏ xiêu xiêu về một phía. Cứ độ ba bốn ngày, tầm gần trưa bà xuất hiện ở đầu làng với tiếng rao ngọt lịm: “Ai mua cá, mua mắm, mua ruốc… khô...ôông?” Tiếng rao như gánh cả sự giàu có của biển khơi trên đôi vai gầy cơ cực, thả sự nhọc nhằn vất vả vào thinh không.
Mỗi khi ngang qua hàng tạp hóa nhà tôi, bà thường dừng chân trước cái hàng rào cúc tần, nói với mẹ đôi ba câu chuyện. Cứ vậy thành thân quen. Có lần, gần đến nhà tôi thì tiếng rao bị đứt quãng “ai… cá không?” Chị em tôi chạy về phía khu chợ gần nhà chơi, thấy bà Hai, chúng tôi sà vào đôi quang gánh của bà. Trời nắng chang chang. Bầu không khí ngột ngạt bỗng chốc im phăng phắc như gió đã bị chặn lại. Tất cả đều lặng lẽ ngóng lên trời, cảm nhận điều bất an đang đến gần. Tôi và chị Hai vừa cầm trên tay những con ốc vặn, chợt thấy không khí nồng lên. Bầu trời trưa hè của xứ biển không một gợn mây, xuất hiện một chấm đen từ phía xa. Tiếng động cơ rú mơ hồ rõ dần, sáp gần dần. Không khí ngột ngạt oi bức bị nén lại như một quả bóng, rồi đột ngột vỡ bung bởi tiếng nổ uỳnh uỳnh từ phía cầu Cấm. Tiếng người dân, kẻ chợ chạy táo tác từ khu gần cầu, la hét: “Mĩ ném bom phá cầu rồi”. Người ta cố thu vén hàng hóa, ôm thúng ôm mẹt chạy, rồi đành bất lực bỏ lại tất cả. Rau cỏ bị hất tung, rơi lả tả bầm nát. Tiếng trẻ con khóc ré lên đâu đó. Tiếng rơi đổ loảng xoảng. Mạnh ai nấy tìm đường thoát. Những thân hình bé mọn, tơ tướp, rách rưới hoảng loạn trong mưa đất đá dội xuống, ngã chúi bởi sức ép của bom. Phía gần cầu có người ngã xuống, bụng áo tốc lên, bầm đỏ máu giữa đống rau quả dập nát. Cạnh đôi quang gánh bị hất đổ lỏng chỏng, chiếc mâm nhôm cũ móp méo, bà bán cá khốn khổ loay hoay giữa những con cá ve phơi khô, những con ốc gai, ốc len như những nắm sỏi bị ném văng ra. Tôi và chị hốt hoảng chạy về nhà. Cuối cùng bà đành vứt lại cả đôi quanh gánh, gọi với chúng tôi. “Chờ tôi với” rồi sấp ngửa chạy theo. Chúng tôi cứ chạy, trong khói và bụi đỏ. Vừa đến được nhà tôi, bà bán cá ngã xuống, mặt trắng nhợt. Tôi gọi với vào trong nhà, tiếng gọi bị át đi bởi những âm thanh rung chuyển dội lại. Mẹ tôi vừa chạy ra ngoài tìm chúng tôi, thấy vậy, mẹ dìu bà vòng ra sau vườn, nơi có căn hầm phủ rơm phía trên. Chúng tôi lo lắng ngồi nghe tiếng bom dội lại từ phía cầu. Không biết làm gì khác ngoài cầu khấn bom đừng rơi trúng căn nhà nhỏ và cái hầm. Bà Hai đã tỉnh dần lại. Bà chỉ kiệt sức chứ không bị thương. Chúng tôi ngồi im ngập tràn lo lắng. Rồi bên ngoài cũng yên ắng dần. Khi bom đạn hết, bà mang quang gánh và cái mâm móp méo đã được mẹ tôi nhặt lại vội vã trở về. Trước khi đi, bà đứng trước mặt mẹ con tôi mà rơm rớm nước mắt. Người đàn bà nghèo khổ chẳng biết nói lời cảm ơn sao cho phải, chỉ biết nắm lấy tay mẹ tôi mà xiết chặt.

Minh hoạ: Phạm Hà Hải
Sau ngày ấy, khi nào đi bán cá ngang qua, bà cũng ghé vào chào mẹ con tôi. Dăm bữa một lần, bà vẫn dúi vào tay chúng tôi mớ cá ve. Những con cá khô cong, đượm mùi nắng gió từ biển. Mẹ cũng lấy từ sạp hàng tạp hóa nhỏ của nhà, gói mì gạo hay gói đường cất nhanh vào quang gánh của bà. Bà bán cá liêu xiêu gánh hàng khuất dần vào con đường nắng của xứ biển. Tiếng rao của bà vẫn trong, vang vọng. Đáp lại tiếng rao ấy là tiếng reo của của bọn trẻ xóm tôi. Như không hề có bom đạn. Chúng tôi ngồi bên những hố đất chênh vênh. Tiếng cười nói ríu rít quây tròn đôi quang gánh. Món quà mà bà hay cho chúng tôi là ốc vặn. Bà bốc cho mỗi đứa một nắm. Đứa thì lấy gai khều, đứa thì cắn trôn ốc để mút... Tiếng cười nói râm ran cả một góc sân.
Mùa hè năm 1967, vào một buổi sáng, bà Hai dắt theo một đứa con gái tầm trạc tuổi với em gái tôi đã mất. Thấy tôi, nó nhìn chằm chằm rồi khoanh tay trước ngực cúi đầu chào. Tôi khẽ gật đầu. Bà đặt vội đôi quang gánh xuống sân rồi kéo mẹ tôi ra một góc thầm thì to nhỏ điều gì đó. Tôi thấy bà khóc, còn mẹ tôi cứ bần thần đứng lặng im. Linh cảm mách tôi sắp có điều rất hệ trọng. Tôi lỉnh ra một góc nghe lén. Trong câu chuyện, bà muốn gửi con gái ở nhờ gia đình tôi một thời gian để tránh bom đạn, vì dưới quê đang bị máy bay Mĩ bắn phá dữ lắm. Cảng Cửa Lò và Hòn Mắt, Hòn Ngư bị máy bay Mĩ đánh phá suốt ngày đêm. Nhiều hôm khuya, pháo của Mĩ từ Hạm đội 7 tiến sát bờ biển bắn phá vào đất liền. Các hộ gia đình đã sơ tán lên các xã miền Tây của huyện. Riêng bà nấn ná chưa muốn đi vì cuộc sống của mẹ con bà trông chờ vào đôi quang gánh này. Chồng bà đổ bệnh sau chuyến đi khơi gặp bão. Giờ hai vợ chồng dắt díu nhau về vùng làng chài cách đó cả ngày đường vừa chạy chữa vừa tìm lại bà con ở đó, khi nào yên ổn thì về đón con bé đi theo.
Bấy giờ, tôi nhìn kĩ con bé. Người gầy nhỏng nheo, da trắng bệch, tóc cắt cụt lủn. Con gái mà lại mặc quần đùi như con trai, chẳng điệu đà như con gái cùng tuổi quê tôi. Mẹ tôi lặng người nhìn con bé. Có lẽ nó nhắc nhớ đến đứa em gái út của tôi bị chết vì bom Mĩ trên đường đi học. Đôi mắt mẹ tôi vốn dịu dàng và hiền từ nhìn nó càng mênh mang hơn. Được một lúc bà bán cá dắt con bé lại, cầm lấy tay tôi đặt lên tay con bé rồi lắc lắc. “Anh cho em ở đây chơi ít hôm nhé. Khi nào lên, bà mua cho thật nhiều quà”. Tôi biết món quà mà bà muốn nói đến là ốc vặn. Tôi có chút do dự, nhưng nhìn ánh mắt vui tươi của mẹ và nghĩ đến món ốc ngọt lịm, tôi khẽ gật đầu. Con bé thấy thế thích quá nhảy chân sáo chạy lại ôm lấy mẹ nó, một cách dạn dĩ, nó tỏ ra vui mừng, thế là con đã có anh trai rồi. Người dân xứ biển vẫn luôn hào sảng, hồn hậu và phóng khoáng như biển khơi. Những đứa trẻ cũng dễ gần, luôn nở nụ cười và thân thiện. Nhưng ở con bé có một sự dạn dĩ rất đặc biệt.
Nó lôi trong bọc quần áo một cái vỏ con ốc vặn to và dài gần gang tay. Con ốc đã được mài nhẵn phía trôn. Nó đưa con ốc lên miệng thổi mạnh một cái làm tôi giật mình, rồi nó cười tít mắt. Tôi nhìn nó đưa hai tay lên úp trước miệng con ốc và thổi, các ngón tay nhỏ xinh khi úp vào khi mở ra, âm thanh nghe lúc bổng lúc trầm. Nó cười, bảo. “Tù và đấy. Dưới em dạo này hay bị máy bay Mĩ bỏ bom lắm, cho nên mỗi khi nghe tiếng máy bay Mĩ là chúng em đưa tù và lên thổi báo động cho mọi người, đặc biệt là các em nhỏ biết mà chạy xuống hầm”. Tôi nhìn nó từ đầu đến chân rồi bảo, sao đi chơi xa mà mày ăn vận thế này. Nó nhìn lại mình, rồi cười lộ hai hàm răng trắng bảo, dưới em con trai hay con gái đều mặc như thế này cả, vì làng em ở sát biển, suốt ngày nô đùa trên bãi biển, chạy nhảy đuổi nhau, bắt ngao, ốc… ăn. Mặc thế này đỡ ướt. Nó xoay một vòng. “Không đẹp à?”
Nó tên là Sương nhưng mẹ tôi hay gọi là Bé. Đi làm về mẹ lại gọi: “Bé ơi, Bé à”. Tôi nghe như mẹ đang gọi về quá khứ. Mẹ nhìn nó thật dịu dàng. Nhiều lúc đang chơi, nó phải dừng lại chạy vào “dạ con đây”. Nó “dạ” một tiếng gọn lỏn rồi chạy đi chơi. Nó thông minh, lanh lẹn, láu lỉnh, chẳng củ mỉ cù mì ít nói như tôi. Từ ngày nó đến, tất cả lũ bạn của tôi cả trai cả gái như bị cuốn hút vào các trò chơi hấp dẫn do nó đạo diễn, toàn là trò chơi mới lạ như thả diều, thi hát hay múa dẻo, nhất là thi bắn súng hóp. Nó vẽ hình một ông người râu ria loàm xoàm và nói lính Mĩ đấy, ai bắn trúng sẽ thưởng cho nắm ốc. Sân nhà tôi trở thành sân khấu biểu diễn, lúc nào cũng rộn rã tiếng cười vui. Mỗi khi nghe tiếng máy bay là nó lấy tù và ra thổi, cả lũ bạn răp rắp chạy ra hầm.
Hồi đó, làng tôi nhiều ao hoang. Ao không nhiều cá chỉ toàn bèo tây. Có lẽ kín bèo nên cá không sống được, bù lại ao lại rất nhiều lươn. Giống lươn ấy chỉ có thả trúm mới bắt được. Vậy là trưa nào tôi và nó cùng mấy đứa bạn cũng chẻ tre đan trúm. Trúm tre vừa to vừa thoáng nên hay bắt được lươn to. Những con lươn bằng cán liềm, cán dao vàng óng. Nó bảo, dưới em không có tre nên làm toàn trúm nứa. Trúm nứa làm vừa nhanh, vừa đỡ mất công, khi đi thả mang được nhiều. Một hôm tôi bảo nó: “Mày có sợ ma không”. Nó cười: “Anh có sợ thì sợ chứ em không sợ”. “Thế thì tối nay mày đi thả trúm với anh”. Cuối buổi chiều, chờ cho trời tối hẳn hai đứa mới đi. Con nhóc tỏ ra rất gan góc. Trời tối như bưng, hai đứa mặc quần đùi, chân đất lầm lũi đi. Ở quê lúc đó, khi đã tắt mặt trời rồi thì người ta ít ra đường, nên ngoài bọn kẻ trộm chuyên đi ăn đêm ra thì có lẽ chỉ có hai anh em chúng tôi đang lang thang ngoài đồng. Sáng hôm sau khi màn đêm đang còn bao phủ, sương đang giăng đầy lối ngõ thì hai đứa đã dậy đi lấy trúm. Mà kể cũng lạ bờ bụi gai góc nhiều là thế, hai đứa đi chân đất mà chẳng bao giờ đạp phải gai hay rắn rết gì. Nhiều hôm chúng tôi sang tận làng Yên Mỹ xã Nghi Yên để thả trúm. Nói là hai xã nhưng chỉ cách nhau một lũy tre xanh. Bên này là Nghi Long, quê tôi, bên kia lũy tre là Nghi Yên. Tuy là hai xã nhưng đều là anh em rễ mơ rễ má với nhau cả nên lũ trẻ hai xã cũng chơi thân với nhau. Cho nên anh em chúng tôi cứ tự nhiên như ao làng mình. Tôi thả đầu này, nó thả đầu kia chẳng mấy chốc đã hết trúm. Có lần, tôi đạp phải mảnh đạn sắc. Tôi sững lại, không kêu lên nhưng mặt tái nhợt. Con bé quay lại, nhìn chằm chặp. “Anh sao thế?”. “Tao thấy có gì nhói lạnh dưới chân”. Bé vội quay lại, nhấc chân tôi lên. Vừa nhấc khỏi đám bùn thì máu phun ra xối xả. Con bé luống cuống một lúc gột bùn rồi xé một bên tay áo chàm của nó thành áo sát nách, thấy chưa đủ, nó xé cả hai bên, băng bó cho tôi, nó khóc. Suốt dọc đường dìu tôi về, nhìn con bé rách tả tơi, tôi đã hiểu một tình cảm chẳng khác gì tình máu mủ, ruột rà từ một người dưng.
Từ ngày có nó, tôi trở nên chững chạc hẳn trong vai trò người anh, chẳng hờn dỗi mẹ và chị cả tôi như trước. Con bé tinh nghịch nhưng quấn quýt và ngoan ngoãn với mẹ tôi. Trừ lúc đi học và chơi đùa với tôi và lũ bạn, nó cứ như con mèo con quấn lấy chân mẹ. Hôm ấy, nó nhất định theo mẹ tôi ra bến lấy hàng. Lúc về gặp máy bay ném bom. Mẹ tôi và nó bị sức ép xô ngã. Nó như một đứa con trai, nhao lên che cho mẹ và bị một mảnh đạn găm vào đùi. Mẹ tôi bế nó chạy đi tìm trạm quân y. Lúc cô ý tá cắt bên ống quần của nó, nhìn thấy cái bớt đỏ gần giống đứa em tôi, chỉ khác đứa em tôi ở tay thì nó có bớt ở đùi, mẹ tôi ôm mặt khóc. Mẹ tôi nhất mực tin rằng em tôi đã trở lại ở một cuộc đời và thân phận khác. Tình cảm giữa mẹ tôi và con bé ngày một lớn thêm lên.
Một thời gian sau, khi tôi đi học về thì thấy bóng dáng quen thuộc ngồi trong nhà. Người đàn bà búi tóc, thân hình nhỏ bé hình như gầy hơn trước. Nhìn thấy tôi, bà Hai nở nụ cười lấp lánh. Bà nói con Sương kể anh tốt với nó lắm. Bà đội ơn gia đình. Giờ dưới quê nghe chừng đã êm, bà vội lên đón cái Bé, chẳng dám làm phiền gia đình thêm nữa. Mẹ tôi chẳng nói gì, khẽ quay đi lau nước mắt.
Trước hôm Bé về quê, tôi đưa nó đi thăm lại tất cả những nơi đã từng gắn bó suốt quãng thời gian sơ tán. Có lẽ nơi để lại nhiều cảm xúc nhất chính là đỉnh Rú Chùa. Hồi đầu mới đến, nhiều đêm nó mất ngủ, đòi mẹ tôi đưa về quê. Có hôm mẹ bưng cơm lên, nó khóc bỏ ra ngoài hiên không chịu ăn. Biết Bé nhớ nhà, chiều chiều tôi lại dắt nó lên đỉnh núi, ngọn gió nồm mang theo hương vị mặn mòi của biển cả. Tôi đưa tay chỉ về phía Đông rồi nói, Bé có phát hiện ra cái gì trước mắt không. Nó ngắm nhìn một lúc rồi nhảy lên sung sướng, ôi… biển. Có phải làng em đấy không anh. Tôi gật đầu chỉ vào hai hòn đảo giữa biển khơi, Bé có biết đảo gì đó không, đảo Mắt và đảo Ngư đấy. Nhận ra nét thân quen của quê hương mình nét mặt nó trông thật rạng rỡ. Nó ôm chặt lấy vai tôi nước mắt dàn dụa. Nó bảo, em về, khi nào hết đạn bom, anh xuống làng em chơi nhé. Tôi ngậm ngùi căn dặn, Bé nhớ chăm chỉ học tập. Mắt nó sáng lên nhìn thẳng vào tôi.
Suốt thời gian sau đó, tôi chưa có dịp được về làng chài. Duy có một lần, mẹ tôi đi một ngày về, mang theo mớ cá ve. Mẹ bảo bà Hai giờ đau chân chẳng đi đâu được. Lần thứ hai mẹ tôi tới thăm thì không gặp ai. Mẹ trở về, nằm suốt hai ngày trời. Nghe đâu làng bên đó bị dính bom. Chết cả rồi. Lẻ tẻ vài người còn sống cũng sơ tán đến nơi khác. Mẹ tôi khóc khi nghĩ đến mẹ con bà Hai. Một mình mẹ chật vật nuôi nấng hai chị em tôi. Bác tôi đi khai hoang trên nông trường Điện Biên từ những năm 1954, gửi thư về nói mẹ dắt chúng tôi lên. Mẹ nấn ná rồi cũng bán ngôi nhà cũ, chuyển lên vùng kinh tế mới.
Mẹ tôi mất sau đó vài năm. Trước khi mất, bà vẫn không nguôi nhớ ngôi nhà cũ. Tôi nghe mẹ gọi đứa em gái của tôi, rồi gọi bé Sương. Năm 1973, tôi nhập ngũ vào chiến trường miền Nam rồi đến chiến trường Cam Pu Chia. Trong chiến dịch truy quét Pol Pot ở vùng biên giới Tây Nam, tôi bị thương mất một chân, thị lực giảm còn 3/10. Tôi trở về nông trường từ ngày đó. Chị Hai tôi lấy chồng gần vẫn qua chăm sóc tôi như người mẹ. Chị có đôi lần giới thiệu vài cô gái cùng nông trường, cũng có người thương, mà tôi vẫn ngại ngần bởi thân thể tàn tạ, tôi khó lòng mang nổi hạnh phúc cho ai. Cũng có cô nhận tôi làm anh trai. Tôi chỉ cười rồi nói mình đã có một cô em gái đã mất trong bom đạn khốc liệt ngày ấy. Với tôi Sương chỉ còn là kí ức, lẫn với những vết thương của chiến tranh và phiêu bạt.
Bước chân đưa tôi về phía cầu Cấm. Khu chợ con ngày xưa đã quy hoạch trở thành một khu chợ sầm uất. Có tiếng gọi thảng thốt, nghe như lẫn vào trong gió:
- Anh Ba...
Trước mặt tôi là người phụ nữ tóc ngang vai với khuôn mặt nhỏ. Dáng vẻ nhanh nhẹn và tươi tắn ấy như sự trưởng thành của nét lanh lợi, mạnh mẽ thủa xưa. Tôi biết đó là Sương.
Sương chạy đến, không chút tần ngần nắm lấy tay tôi. Em nhìn xuống cái chân từng dẫm phải mảnh đạn giờ cứng đờ bởi một cái chân gỗ thay thế. Chỉ có Sương vẫn vẹn nguyên như không có thời gian và sự tàn phá nào có thể hủy hoại. Giọng nói em trong và dứt khoát. Đôi mắt không còn nhìn rõ, tôi vẫn cảm nhận được sức sống và năng lượng không thể tắt ở mái tóc dài mượt mờ ảo trước mặt, đôi bàn tay búp măng nhỏ nhắn xiết lấy tay tôi ấm áp. Tôi thấy mình nghẹn lại bởi quá khứ ào ạt đến và khoảnh khắc hiện tại như không có thực này. Còn Sương chỉ khóc và nhìn tôi.
Đi dạo trên một quãng đường gần Cầu, dù còn cách xa biển mấy cây số, nhưng đã thấy mùi hơi nước trong gió. Em chỉ về phía người đàn ông gầy gò, bước chân cà nhắc vào một quán ven đường để nhường không gian trò chuyện cho chúng tôi:
- Em quen anh ấy trong cuộc chiến giải phóng Sài Gòn. Đến giờ chúng em chưa có con, không biết do ai anh ạ. Số phận như vậy rồi.
Tôi ậm ừ trong miệng, không biết nên hỏi Sương từ đâu. Sương kể:
- Ngày đó làng bị máy bay bắn phá, những người sống sót đã dạt xuống mạn làng chài, dựng làng mới. Những người đàn ông làng chài chúng em và cả quanh đấy đều bỏ chài lưới, bỏ biển vượt qua phà Bến Thủy để vào Nam đánh giặc. Những con thuyền bị đánh đắm giữa biển, những phụ nữ trúng đạn chết trên những con đường mưu sinh với gánh hàng cá chưa bán hết, những ngôi làng bị phá... Bố em và những người làng chài đã ra đi chỉ mang theo tiếng sóng biển và ước mơ bảo vệ làng chài. Phụ nữ ở lại đánh bắt ven biển, chẳng dám đi xa làng nữa. Trong một lần cùng bà con hàng xóm dọn giao thông hào, một bác hàng xóm cuốc phải bom bi. Bom phát nổ, bác ấy chết tức tưởi không kêu được một tiếng. Mẹ và mấy bác nữa bị hất ngược ra phía sau, người và mặt đầy vết bi. Máu chảy đầm đìa không còn nhận ra mẹ nữa. Trước khi nhắm mắt, mẹ dặn em, hãy ở lại nơi này và tìm lại gia đình mình. Mẹ em không quên những ân tình đã nhận từ bác và các anh chị. Có hôm em thấy một người lính đi qua, vai mang ba lô bạc màu rất giống anh, em đã lao ra giữa dòng người rồi rối rít gọi, khi nhận ra người đó không phải anh, em đã khóc …
Sau khi cùng với anh em, bà con làng xóm lo chu đáo đám tang cho mẹ. Hết tuần trăm ngày, em một mình về đây tìm mẹ và các anh chị. Ngôi nhà xưa vẫn vậy. Em vào sân gọi mẹ, gọi anh chị. Không có ai trả lời. Một lúc sau có một bà lão chống gậy ra em mới biết cả nhà đã chuyển lên vùng kinh tế mới, cụ thể ở đâu thì không ai rõ. Em lê từng bước nặng nề ra khỏi ngôi nhà thân quen, rồi cắm đầu cắm cổ chạy một mạch không ngoái cổ lại. Khi định tâm lại thì đã ra khỏi làng tự bao giờ. Em tự hỏi đi đâu về đâu bây giờ. Đêm xuống, có một đoàn người đi qua trong hối hả. Những bà cụ, phụ nữ, trẻ con, mang theo quần áo, lương thực và xoong chảo. Vậy là em hòa vào dòng người tản cư ấy, lên xã miền Tây của huyện. Em theo họ đi làm thuê, ở trong một khu lán cùng một bác lớn tuổi, một cô tên Lành và hai chị khác. Một đêm mùa đông năm 1972. Trong cái tối đen mịt mùng thời chiến, ánh sáng hắt ra từ một xưởng đúc xoong nồi - một sơ hở chết người trong thời kì “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Chính quầng sáng ấy đã trở thành mục tiêu gọi máy bay đến. Đang ngủ, nghe tiếng máy bay gầm rú, em gọi nhanh mọi người trong lán rồi lao ra ngoài, vòng sân sau tìm hầm. Không nhớ hầm ở đâu, em thấy một cái bể không có nước liền nhảy vào đó. Tiếng bom nổ chói tai, mặt đất rung chuyển dữ dội. Nhà cửa đổ sập, đồ đạc bắt đầu bốc cháy ngùn ngụt, tre nứa nổ lốp bốp. Một quả bom nổ cạnh lán. Thi thể những người ở lán không kịp trú ẩn không còn nguyên vẹn rải rác ngay gần phía miệng hầm. Nhìn cảnh tượng ấy, lòng em đau thắt lại. Cả làng đêm đó trúng chín quả bom, chết sáu mươi lăm người, bom đạn của đế quốc Mĩ đã san phẳng mấy chục ngôi nhà. Đêm đông năm ấy mãi mãi là một vết thương lòng đau đớn nhất trong kí ức của em. Em ở lại làng trong sự cưu mang của những người dân còn sống. Sau đó, em xin gia nhập thanh niên xung phong. Có mặt khắp trên các tuyến đường từ Nghệ An đến miền Nam, cuộc sống của thanh niên xung phong vất vả nhưng vui anh ạ. Trong những ngày tháng ấy, em gặp chồng em trong chiến dịch Sài Gòn - Gia Định, được anh ấy cứu trong một lần lạc đường suýt rơi vào tay địch. Chiến dịch kết thúc thì anh ấy bị thương. Em đưa anh ấy về quê mình, bầu bạn nương tựa vào nhau. Em cũng kể cho anh ấy về gia đình đã cưu mang em những ngày sơ tán ấy. Anh ấy biết em vẫn đau đáu tìm gia đình mà em đã yêu quý, coi như người thân. Dù không có con cái, chúng em vẫn sống rất hạnh phúc. Nhờ anh ấy liên lạc với các đồng đội cũ, lần theo nhiều dấu vết, em mới tìm được anh.
Chúng tôi đi dạo về phía cầu Cấm giờ đã trở thành một di tích lịch sử. Nhắc đến mẹ, Sương trở nên ưu tư. Ngoài bà Hai, chưa có ai có ánh nhìn đầy trìu mến và thương yêu dành cho Sương như vậy. Ánh mắt ấy mãi là ánh sáng dịu dàng nhất với em trong những đêm tối khốc liệt của bom đạn. Sương nắm lấy tay tôi như ngày nào hai anh em cùng đi thả trúm. Tôi thấy lòng mình xao động. Những khoảnh khắc ngày xưa như thứ ánh sáng bị bịt kín, giờ òa ra. Tôi đã nhớ về Sương có phải như một người em gái? Dù sao đi chăng nữa, biết Sương còn sống, tôi đã bớt đau, bớt nhức nhối bởi những vết thương bầm dập của quá khứ. Đâu đó một vết cắt đã lặng lẽ khép miệng, êm ái, bình yên.
Tiếng loa từ một nhà hàng gần đó vang lên “Khi chia tay anh dạo trên bến cảng, biển một bên và em một bên…” Tôi như thấy mình như đi bên cạnh cô bé nhỏ loắt choắt, dáng dấp như con trai với chiếc tù và bằng ốc biển, nghe như có tiếng sóng biển vỗ về từ làng chài quê Bé. Tiếng sóng trong vỏ ốc như tiếng dương cầm từ xa vọng lại gọi mặt trăng nhô lên khỏi mặt nước, vỡ òa màu xanh bát ngát của biển khơi.
P.V