Chủ Nhật, 26/07/2026 15:56

Từ hạt lúa lấm lem đến linh hồn quê xứ

Ai bước ra từ làng cũng mang trong mình một cảm thức quê xứ. Nhưng Nhiên Đăng đặc biệt ở chỗ, anh không lướt qua cảm thức ấy bằng vài bài thơ.

Đọc Đảnh lễ mùa màng của Nhiên Đăng,
Nxb Hội Nhà văn 2026

            Nhiên Đăng là một gương mặt thơ trẻ nổi bật của miền đất võ. Từ tập thơ đầu tay Linh giác trắng đến Đảnh lễ mùa màng, anh vẫn bền bỉ đi trong mạch nguồn đất đai, nguồn cội và những kí ức thầm lặng của đời sống.
            Ai bước ra từ làng cũng mang trong mình một cảm thức quê xứ. Nhưng Nhiên Đăng đặc biệt ở chỗ, anh không lướt qua cảm thức ấy bằng vài bài thơ. Anh viết như một người cứ đi đi về về trên cánh đồng nội tâm. Anh gọi đó là “ngôn ngữ cánh đồng”: cha nhặt về trong giỏ những cá, cua và ngôn ngữ cánh đồng/ có tiếng nói người làng, tiếng nói tổ tiên tôi... Cái giỏ quê nghèo bỗng chứa cả phần vật chất lẫn tinh thần. Cá, cua là cái ăn lam lũ hằng ngày, còn “ngôn ngữ cánh đồng” là hồn vía quê nhà, là tiếng nói người làng và âm vang tổ tiên lặng lẽ đi cùng đời sống.
           Thơ Nhiên Đăng không làm dáng bằng kĩ thuật cầu kì hay biểu tượng xa lạ. Nó trải ra như bức tranh phong cảnh rộng, thấm đẫm hơi thở bình dị và trầm tích văn hóa. Nhưng trên nền hiện thực ấy, luôn có một lớp sương mỏng của mộng và linh cảm phủ xuống, khiến cảnh vật vừa thân thuộc vừa bảng lảng. Trong bài Bếp quê, cái ấm ấy lan ra thành một không gian làng quê vừa cụ thể vừa sâu thẳm: phía tiếng chuông chùa mỗi sáng thức giấc cánh đồng/ trái vông đu đưa/ hoa đu đủ đực bên giếng nước/ khói bếp phả vào hoàng hôn tâm thức làng… Những chi tiết ấy không chỉ dựng lại cảnh quê, mà còn làm hiện lên phần hồn âm thầm nuôi dưỡng con người. Những thứ nhỏ bé đã trở thành hơi thở tinh thần, biến làng quê thành một miền tâm thức.
            Tôi biết Nhiên Đăng không chỉ trong thơ mà cả ngoài đời. Anh thèm đi, thèm đọc, muốn “đọc cho hết những thanh âm trên mảnh đất kinh thành”. Người nghệ sĩ đích thực không chỉ nhận ra cái đẹp, mà còn biết đau trước những gì đang làm tổn thương cái đẹp. Trong Gửi một người đang hát trong vùng biển im lặng, anh viết: những oán hận luôn là những cây đinh gỉ sét/ ghim vào mảnh đất có rất nhiều bông hoa mới nở. Tôi đặc biệt thích hai câu thơ ấy. Sự đối lập giữa “cây đinh gỉ sét” và “mảnh đất có rất nhiều bông hoa mới nở” mở ra một cảm xúc vừa đau đớn vừa nhân hậu. Một bên là tổn thương, oán hận; một bên là phần non tơ, trong trẻo của đời sống cần được chở che.
              Vì thế, nhan đề Đảnh lễ mùa màng chạm đúng tinh thần thành kính trong thơ Nhiên Đăng. Anh không chỉ cúi đầu trước mùa vụ, mà còn trước đất đai, người nông dân, cha mẹ và người làng đã khuất. Từ hừng đông bầy chim chở ánh sáng bày biện trên mặt đất/ tôi cúi đầu đảnh lễ mùa màng… Và: nơi hạt lúa lấm lem bùn đất/ của người làng nuôi nấng giấc mơ cơm áo. Ở đây, ta thấy sự tinh tế của thi sĩ khi gán cho hạt lúa một thân phận: lấm lem bùn đất như chính đời sống lam lũ của người quê. Từ sự lấm lem ấy, con người được nuôi lớn, giấc mơ cơm áo được gìn giữ, và một đạo lí biết ơn âm thầm truyền lại.
             Sự thủy chung với “ngôn ngữ cánh đồng” cũng đặt ra cho thơ Nhiên Đăng một thử thách: làm sao để mạch quê không lặp lại chính mình. Nhưng ở những bài thơ hay, anh không chỉ tả làng quê, mà chạm vào linh hồn và địa tầng văn hóa xứ Nẫu. Cánh đồng trong thơ anh là nơi tích tụ kí ức, nuôi dưỡng tiếng nói và giúp con người nhận ra gốc rễ. Dù đi qua nỗi buồn, bấp bênh cơm áo và những “vết cắt” đời sống, thơ Nhiên Đăng vẫn không tuyệt vọng. Anh giữ mộng, giữ niềm tin hồi sinh, giấu những thương tổn chờ “mưa xuân chùi rửa”, để rồi: ngày mai lại ngồi giữa mênh mông đọc sách/ viết vào ban mai một bông hoa cười. Tôi thấy cái đẹp ở sự trong trẻo sau tổn thương. Phải có một tâm thế an nhiên, tha thiết với thơ, con người mới có thể đi qua vết cắt, qua mưa rửa, qua những im lặng của đời sống, để rồi vẫn gửi vào ban mai một nụ cười.
             Giữa một thế giới nhiều biến động, Nhiên Đăng chọn cách bám rễ vào quê hương và tình yêu để tâm hồn được tự do bay bổng. Anh viết về những gì bình dị nhất, nhưng phía sau đó là sự thành kính của một người con luôn hướng về nguồn cội. Đảnh lễ mùa màng là tiếng thơ mang dấu ấn riêng của một tâm hồn nhân hậu, một cảm thức nhân văn sâu xa.
                                                    LÊ TRỌNG NGHĨA giới thiệu và chọn

Nối vào mênh mông

Chiều in lên đất vạt nắng cuối ngày
mấy con sâu phá đám rau đang đợi tết
nước lạnh rùng chân sáo
tiếng cuốc trong đêm tìm về căn nhà xưa

Sáo ơi, mầy chở mùa đông về xóm núi
chở mưa cố thổ ru mộ người trong lòng đất
hoa xuyến chi nở thơm mẻ gió giao mùa
mẹ ngồi chẻ lạt gói nghìn năm vào tàu lá chuối
đêm lửa củi nổ giòn canh nồi bánh chưng
cha khui hũ rượu sủi tăm
múc giọt nước mắt quê hương rưới lên đất đai
ngửa cổ tu một ngụm liểng xiểng đất trời…

Sáo chở ca dao về gieo ruộng mạ
dấu chân bò cái dẫm lên đường cày
quên phố quên những con đường ngã năm ngã bảy
quên khuôn viên quên hết những tiệm cà phê mùa mưa
ta về theo sáo đi tìm châu chấu, cào cào
uống nốt ngụm rượu còn thừa ngày cũ...

Bên sông thuyền ai mơ trong sương
cúc tiểu muội nở vàng hai bờ sóng trắng
mùa xuân gõ vào căn nhà xưa tiếng ông bà
giờ là làn khói nhang Chạp mả
nối vào mênh mông...

Đêm An Lão

Trên độ cao 1.000 mét
người Bana cúng con nước, tạ ơn thiên nhiên
đốt lửa uống rượu cần làm phép
dòng suối lạnh, đêm tràn xuống hơi thở bầu trời
có phải là nơi còn nhiều bí mật

An Lão như vị trưởng lão của người đồng bào
Bana, H’rê, Chăm
những âm thanh vang ra từ linh hồn cồng chiêng
đêm nghe dã quỳ hát dưới triền dốc
những chiếc gùi gùi giấc mơ lên cổng trời

Đêm ngủ ở An Lão như nằm trong am thất
vào mùa lễ hội cúng lúa mới
người chồng đệm đàn pơ lơng khơng cho người vợ hát
bài hát năm xưa tiễn chồng đi bảo vệ biên giới Tây Nam
chàng đi để lại đôi mắt trẻ thơ sau ô cửa gỗ
nơi con chim đầu rìu hót trên cây chòi mòi
và đám dương xỉ bỏ bùa bầy gió lang thang
xanh trong làn sương rét mướt

Đêm ngủ ở An Lão như nằm trong am thất
trong làn điệu ta lêu, ka choi
tiếng đàn pơ răng dưới ngôi nhà sàn
sau một ngày làm nương làm rẫy
trẻ con ngồi quanh bếp lửa nghe già làng kể chuyện rừng thiêng
bằng tiếng nói dân tộc mình…


Viết vào ban mai

Những đêm mưa gõ vào thăm thẳm mộng
người về nằm cạnh giấc chiêm bao
không làm thơ không làm thơ nữa
mùa cau chín rụng đầy vườn…

Con sẻ nâu đứng trên nhành trứng cá
tôi đứng trên chiếc bóng của mình
mười năm trôi qua đầy vết cắt
đau thì giấu cho thật chặt
để chờ mưa xuân chùi rửa vết thương...

Người hỏi tôi vì sao phẫn nộ
tôi im lặng không trả lời
vì trong những mùa hoa nở
tôi thấy bóng tôi những kiếp luân hồi...

Trôi dạt nửa đêm về nghe gió hát
mưa mùa hạ cánh kiến rụng đầy vườn
ngày mai lại ngồi giữa mênh mông đọc sách
viết vào ban mai một bông hoa cười...