Thứ Ba, 27/10/2015 00:37

Tương mai xưa

Tương Mai cũng là điểm xuất phát của người Hà Nội tản cư ngày toàn quốc kháng chiến về phía Đồng Quan, Cống Thần, chợ Cháy... (Tùy bút NGUYỄN BẢO SINH)
. NGUYỄN BẢO SINH
 
chỉ mục
Đình Tương Mai được xây dựng trên nền đất cổ,
cách trung tâm Hà Nội khoảng 6km về phía Nam
Tương Mai xưa là Mơ Cơm. Lính tráng, quan lại từ Huế ra thường dừng lại nơi đây để nghỉ ngơi, ăn uống lấy lại sức khoẻ, tinh thần rồi mới tiếp tục vào Hà Nội. Tương Mai thuộc quận Hoàng Mai.

Thành hoàng làng Tương Mai là tướng Lê Chân. Dân Tương Mai sợ phạm huý nên đổi chữ chân thành chữ chơn. Đi bất cứ đâu, thấy các cụ già gọi bàn chân là bàn chơn thì biết ngay người làng Tương Mai gốc.

Tương Mai cũng là điểm xuất phát của người Hà Nội tản cư ngày toàn quốc kháng chiến về phía Đồng Quan, Cống Thần, chợ Cháy...

Trong những người tản cư có nhà thơ Nguyễn Hữu Mão. Người ta thường bảo cụ là người mê thơ nhất nước Việt Nam. Cụ làm thơ từ năm lên mười tuổi đến tận năm chín lăm tuổi. Khi chạy loạn, cụ đã gánh một gánh thơ đi đến tận Đồng Quan, tản cư thơ thật gian khổ. Trước đó cụ chưa hề phải gánh vác nên vai tím bầm, chân tướp máu. Bom đạn thì mù mịt phía sau, người chạy loạn thì nhớn nhác mặt xanh lợt như đít nhái. Chỉ có nhà thơ vẫn hành thiền như Sa Tăng gánh hành lí về Tây Trúc.

Thời Pháp tạm chiếm Hà Nội, cụ Mão đã bị phòng nhì Pháp sờ gáy vì cụ chép thơ vào tiền, địch nghi là mật hiệu của Việt Minh, sau đó thì cũng hoà cả làng.

Năm 2006, cụ Mão ốm nặng, cụ cầm tay anh con trai cũng mê thơ như cụ và hỏi:
-  Có người bảo thơ tôi hay hơn thơ anh, người khác lại bảo thơ anh hay hơn thơ tôi, anh thấy thế nào?
Anh con trai xúc động đáp:
- Thơ của bố hơn con là cái chắc.
Cụ ngồi phắt dậy, mắt rạng rỡ:
- Thế là anh đã báo hiếu quá đủ cho tôi rồi. Bao nhiêu sự sai lầm của anh với bố, bố cho qua tất.

Người tản cư thời đó lập một góc Hà Nội tại chợ Đồng Quan. Sáng sáng mọi người tập trung ở quán chợ uống cà phê, uống nước chè, ngước về phía Hà Nội nhớ nhung, xao xuyến.

Tương Mai như trạm trung chuyển mở cửa để người Hà Nội đi tản cư, rồi Tương Mai cũng mở cửa để đón người Hà Nội hồi cư.

Sau khi chạy loạn năm 1946, mọi người hồi cư về làng Tương Mai. Lúc này làng Tương Mai như một khu rừng hoang, rắn nhiều lắm. Nhiều khi ngủ dậy thấy rắn nằm ngay bên cạnh. Trong hồ ao, cá quả, cá chuối hoa quẫy đuổi cá cờ, ếch nhái đoành đoành. Theo luật không thành văn thì cá quả, cá chuối, ếch nhái là của chung thiên hạ. Ai muốn bắt thì bắt dù chúng ở bất cứ hồ ao nào. Đặc biệt thời đó ao nhiều bèo tây nên nước trong vắt, nhìn được rõ tận đáy ao, câu cá không cần phao, cứ thả mồi xuống trông thấy rõ ràng cá nuốt mồi, cá đói cũng dễ câu lắm. Ao chuôm sau chiến tranh bỏ hoang nên cá nhiều vô kể. Cá chuối hoa rất giống cá sộp nhưng trên người có hoa văn như con rắn. Thịt chuối hoa cũng ngon hơn thịt cá sộp. Bắt cá sộp, chuối hoa có hai cách. Cách thứ nhất, dùng cần câu quăng tung con nhái hoặc con cá cờ ra giữa ao rồi kéo vào hệt như đang bơi trên mặt nước. Cá quả, cá chuối tham ăn đuổi theo đớp lấy, giật lên là được. Cá chuối, cá quả phàm ăn nhất khi đang nuôi con. Đàn cá con hàng vài trăm chú màu đỏ hồng bơi chung quanh mẹ như một chùm hoa. Khi cá con đói quá, cá mẹ có thể nhảy lên bờ giả chết, kiến bu đầy người rồi nhảy xuống ao để cá con ăn kiến. Đặc biệt cá quả có thể nằm trên cạn nửa ngày vẫn khỏe. Vì vậy dân gian có câu: Cá ăn kiến, kiến ăn cá. Khi câu cá ở gần bụi tre hay mồ mả, thường câu được cá trê vàng ươm đi ăn vào ban đêm. Cá trê bị giật lên bờ thường kêu oạp oạp, kẻ yếu bóng vía tưởng ma, nhiều khi bỏ chạy. Khi câu được ba ba, giật lên thấy nặng như cục gạch chứ không giẫy giụa như cá. Những lúc đặt cần câu cắm, có thể bắt được cả vịt trời, le le và cuốc. Vườn ao làng Tương Mai còn có cả cáo, cầy. Trong hốc sâu bụi tre, có khi thấy cả con rái cá đen sì. Trên các bụi tre, cây sung, cây ổi, cò đậu trắng xóa.

Ngày xưa, dân thả cá khi tát ao, không ai thèm bắt rắn, bắt ba ba vì coi như vô giá trị. Gặp rắn là đập chết vứt đi. Xác rắn chết trôi lềnh bềnh cạnh bờ ao. Thối hoăng. Sau này thịt rắn thành đặc sản. Người tát ao lại ra sức bắt rắn. Một cân rắn giá trị bằng mười cân cá, ba ba lại càng quý. Một cân ba ba bằng ba mươi cân cá. Sau khi tát cạn ao, muốn bắt ba ba ta lần theo dấu chân ba ba đi trên bùn sẽ mò được ổ ba ba có đến một vài chục con. Ba ba thường làm ổ nơi đất xốp, có nhiều sỉ than và gạch vụn, cứ lấy cái xiên chọc xuống, đâm vào lưng là tóm được ngay. Trong thời gian chiến tranh phá hoại, khi mưa to, ba ba lên bờ đẻ cũng dễ rơi vào hầm, cứ vào mò là bắt được khối.

Khu đất ngõ 176 Trương Định xưa là phố Hoàng Mai, sau này thành khu sản xuất đồng nhôm. Ngày xưa khu này là nghĩa trang. Ngồi trên gò cao nhìn về phía khu lắp ghép Trương Định là cánh đồng lúa xanh rì, tầm mắt phóng tới tận cánh đồng làng Phương Liệt. Trẻ con hàng ngày đến đây câu nhái, câu ếch. Ếch thì ít, nhái thì nhiều vô kể, châu chấu, cào cào bay rào rào. Trẻ con bắt nhái làm chả, bắt châu chấu về xào ăn thú vị lắm.

Năm 1945, cánh đồng này là mả chôn chung của nạn nhân chết đói. Hàng ngày xe bò chở đầy xác chết chỉ phủ mảnh chiếu, chân tay thò ra ngoài, lọc cọc, rập rình, xe chạy đu đưa, những cánh tay, cẳng chân cũng đu đưa theo. Xác chết được đổ đầy vào một cái hố chôn chung, sau đó lấp đất phẳng, không có dấu hiệu mồ mả gì cả. Trước khu mả ăn mày ngày xưa là khu gò, xung quanh chơ vơ một vài lò gạch bỏ hoang. Chiều hoàng hôn mưa phùn lất phất, khách đa tình ngắm bãi tha ma thấy hun hút một nỗi buồn sâu thẳm.

Làng Tương Mai có hai người đặc biệt: một là ông Đại Hưng, chủ hàng cho thuê xe xích lô nổi tiếng đầu tiên ở Hà Nội, ông có một trăm nóc nhà cho thuê, 1000 mẫu ruộng. Một người nữa là cụ Ty - một nữ anh hùng. Cụ Ty là thân gia với tiến sĩ thượng thư Từ Đạm, Từ Diễn Đông. Con rể cụ Ty là tuần phủ Lạng Sơn Từ Nguyên Mạc. Cụ Từ Nguyên Mạc bỏ quê lên ở quê vợ tại phố Trương Định xưa là làng Tương Mai. Sau đó, cụ lại chuyển lên ở nhà số 101 phố Huế.

Người dân xung quanh làng Tương Mai rất kính trọng cụ Ty, những ai đi qua cửa đều vào nhà hỏi thăm và lễ cụ. Mọi việc lớn nhỏ trong khu vực mọi người đều đến nhờ cụ giải quyết. Mọi người coi cụ Ty như một vị bồ tát. Gần trăm tuổi cụ vẫn sống tự tại một mình chứ không dựa vào ai.

Hàng ngày, cụ ra vườn quét lá ổi, nhặt cành cây khô về tự thổi cơm, tự tắm giặt, quét cửa quét nhà. Mỗi sáng tinh mơ, cụ pha một ấm chè cực ngon ngồi nhâm nhi thưởng thức một mình. Về chè thì cụ sành lắm, cụ đã đến cảnh giới trà đạo. Cụ Ty ở góa từ năm hai mươi tuổi đã được triều đình Huế tặng bức hoành phi với bốn chữ vàng: Nữ Nhân Anh Hùng. Bức hoành phi này vẫn còn được giữ lại ở từ đường nhà họ Nguyễn 167 Trương Định - Hà Nội.

Phố Hoàng Mai có ông Ba làm nghề nắn xương và dạy võ. Ông bỏ nghề nắn xương vì khi con ông bị gãy chân ông đã nắn thành khoèo. Ông bỏ nghề dạy võ vì một lần ông đã thách đấu với một người cùng phố và bị thua thảm hại. Ông khoe ông có tài ném phi tiêu làm mù mắt hàng chục đối thủ. Một đêm, đội dân phòng đi qua, họ đùa ném một cục gạch vào sân nhà ông. Ông hốt hoảng tắt phụt đèn, chui xuống gầm giường run như chó phải bả. Sáng hôm sau, ông gặp ban bảo vệ khối phố khoe: “Đêm qua có một toán cướp gần 20 tên xông vào nhà tôi. Tôi đã dùng phi tiêu hạ gục cả bọn. Bọn này lạy tôi như tế sao nên tôi không nỡ giải lên đồn”. Cả ban bảo vệ khối phố ôm nhau cười đến đau cả bụng.

Đi đến đầu đường Hoàng Mai là chợ Mơ - chợ Mai. Chợ Mơ nằm giữa Bạch Mai, Tương Mai, Hoàng Mai, Mai Động, Thanh Mai. Chợ Mơ phiên họp ngày mùng 2, mùng 7. Trước cửa chợ là ga xe điện đường ray nổi như đường tàu hỏa. Phía chợ Mơ trông ra đường Hưng Ký là bãi đất rộng dành cho ngày phiên. Các lái buôn thường đón hàng ở tận Đuôi Cá, Vĩnh Tuy, ngã tư Vọng. Tất cả những hàng hoá tốt đều bị các lái hớt trước. Ngày phiên, bà con nông dân mang mèo, gà, lợn, chó, ngô, khoai, sắn... ra chợ bán. Đi chợ phiên còn là thú đi chơi của một số người. Họ đi như du lịch, họ nghiện được chen chúc, được dẫm đạp vào nhau, được ngửi cái mùi khăm khẳm cùa mồ hôi người và các loại phân súc vật. Họ đi chơi mệt nhoài như khách du lịch đi chùa Hương trèo đèo, lội suối.
 
cho mo
Chợ mơ là điểm nhấn của làng Tương Mai
Ông lái gà ở chợ có độc chiêu riêng, tay luôn cầm nắm gạo, thấy ai định mua, ông lái tung nắm gạo, gà tranh nhau mổ trông rất vui mắt, trông khỏe mạnh, khách dễ cắn câu. Biết đâu, giống gà có đặc biệt dù là ốm sắp chết, nhưng khi thấy gạo là vẫn cứ ăn, ăn cho tới thẳng cổ ra mà chết. Khác hẳn với vịt, ngan và ngỗng, cứ ốm là quyết không ăn.

Trong chợ gà có một góc riêng dành cho những lái buôn mang gà  vùng Từ Hồ, Đông Cảo sang bán. So với các loại gà ta thì gà Từ Hồ, Đông Cảo đẹp như tranh vẽ, ai đi qua ngắm nhìn đều say mê: gà nung núc những thịt, da đỏ gay. Thời đó, dân ta đói cứ nhìn gà ngồn ngộn thịt là mê. Còn loài gà ri trên dưới một cân giá rẻ lắm, ngày nay thì ngược lại, ta lại mê ăn thứ gà ri - gà đi bộ, gà Mạnh Hoạch. Còn gà Đông Cảo to như gà công nghiệp, trông đã ngấy đến tận mang tai.

Khách đi chợ Mơ sành thì nhiều kinh nghiệm. Họ cũng không kém lái buôn, đón luồng hàng trực tiếp của nông dân từ Đuôi Cá, Vĩnh Tuy, Vọng. Khi đến chợ, họ đều nhẵn mặt các lái buôn nên chỉ mua của người sản xuất. Lái buôn chó, mèo, lợn, gà... khác nông dân sản xuất ở chỗ họ đều dùng lồng nan sắt, còn nông dân dựng lồng nan tre.

Mãi sau này ta mới có khu bán cây cảnh, ngày xưa chợ chỉ bán cây và hạt giống: rau cải, su hào, bắp cải, rau cần... May lắm mới có một vài người bán hoa hồng, hoa sói... toàn những thứ hoa để cúng lễ chứ không ai bán cây cảnh cả.

N.B.S