. PHẠM THỊ MINH HUỆ
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 với công cuộc đổi mới, văn học nước nhà vận động mạnh mẽ theo một quỹ đạo tinh thần mới. Sau nhiều năm bị ràng buộc bởi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo của thời chiến, đời sống văn học cởi mở hơn rất nhiều. Trong không khí dân chủ được mở ra từ Đại hội Đảng VI, nhiều vấn đề mới được đặt ra, nhiều tác phẩm văn học cũ trước Cách mạng tháng Tám từng bị phê phán được khôi phục giá trị, đồng thời văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 cũng được đánh giá lại.
Nhìn lại chặng đường văn học 30 năm, bên cạnh sự ghi nhận đúng mức những thành tựu, đóng góp của giai đoạn này cho văn học dân tộc và cho cách mạng, kháng chiến, từng xuất hiện những ý kiến phủ định “sạch trơn”, coi nó chỉ mang giá trị tuyên truyền, không có hoặc ít có giá trị nghệ thuật. In báo Văn nghệ năm 1987, Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu là bài viết được dư luận chú ý. Tuy nhan đề có màu sắc cực đoan nhưng nội dung bài báo thực chất lại thể hiện cái nhìn biện chứng đối với mặt tích cực và mặt hạn chế của văn học thời chiến. Nhìn chung, những ý kiến khách quan về văn học giai đoạn 1945-1975 đều thể hiện quan điểm lịch sử, xem xét văn học trong những điều kiện và yêu cầu cụ thể của thời đại ấy; có ý kiến đề xuất coi việc phục vụ chính trị, tuyên truyền cổ vũ chiến đấu là đặc trưng của văn học giai đoạn này chứ không nên coi là hạn chế (nếu có thì hạn chế đó thuộc về lịch sử). Về vấn đề này, nhà văn quân đội Xuân Thiều đã nói: “Chúng tôi tự hiểu nên viết cái gì và không viết cái gì, dẫu đấy đều là hiện thực chiến tranh. Chúng tôi không viết những điều phương hại đến mục tiêu của cả dân tộc là tất cả để chiến thắng”.
Sự phủ định biện chứng đối với cái cũ đi liền với sự hình thành cái mới. Văn học thời kì nào cũng vậy, ở thời điểm chuyển giao thời đại luôn diễn ra những thay đổi trong hệ thống quan niệm để bước vào một quỹ đạo mới. Với văn học đương đại, nhất là văn xuôi, ở buổi giao thời đã có sự thay đổi cơ bản trong quan niệm nghệ thuật. Những thay đổi đó tập trung chủ yếu trong quan niệm nghệ thuật về con người, quan niệm về hiện thực và quan niệm về chính bản thân văn học.
Thay đổi trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn
Trước hết là quan niệm nghệ thuật về con người. Từ sau 1975, trong văn học thực hiện bước chuyển từ con người sử thi sang con người đời tư - thế sự, từ con người tập thể sang con người cá nhân, từ nhân vật công - nông - binh sang nhân vật ở mọi tầng lớp trong xã hội. Con người cũng được soi chiếu, khám phá ở nhiều phương diện và trong tính đa chiều của các mối quan hệ; ở nhân vật không chỉ có tính giai cấp mà còn có tính nhân loại phổ quát, ngoài ý thức còn có phần vô thức, tâm linh, bản năng. Nếu như con người trong văn xuôi giai đoạn 1945-1975 chủ yếu là những mô hình đơn phiến, đơn cực (hoặc tốt hoặc xấu, hoặc chính diện hoặc phản diện) thì trong văn xuôi đương đại tồn tại những nhân vật đa diện, phức tạp, có độ nhòe giữa các cực sáng - tối, tốt - xấu, thiện - ác. Nói như Nguyễn Minh Châu, nhà văn tiên phong của văn học đổi mới, trong mỗi con người luôn “lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ”, và những truyện ngắn, truyện vừa ra đời trong thập kỉ 80 của ông đã thể hiện bước đột phá trong quan niệm nghệ thuật về con người với những hình tượng nhân vật mới mẻ, độc đáo. Bước sang thời kì đổi mới, chất văn xuôi trong các tác phẩm còn bộc lộ rõ rệt ở cái nhìn xoáy sâu vào đời tư con người, ở sự nếm trải, trả giá của nhân vật, ở thái độ thực sự bình đẳng của tác giả đối với nhân vật của mình. Những nét mới đó khác hẳn đặc điểm của văn xuôi 1945-1975, một giai đoạn mà nhân vật thường đi trên những nẻo đường thênh thang ít uẩn khúc, dằn vặt, cùng điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trang trọng, tôn kính đậm chất sử thi.
Điều đáng chú ý là, nếu như văn xuôi 1945-1975 lấy cái chung để đánh giá cái riêng, lấy số phận cộng đồng để định đoạt số phận cá nhân, thì ngược lại, văn xuôi đương đại đã từ số phận cá nhân mà soi chiếu trở lại lịch sử và cộng đồng. Lịch sử in bóng trong số phận nhân vật, qua số phận nhân vật mà hiểu được lịch sử. Chẳng hạn, qua cuộc đời Giang Minh Sài mà thấy được những ấu trĩ của một thời (Thời xa vắng - Lê Lựu), hay từ những cơ cực, bế tắc, luẩn quẩn suốt một kiếp người của lão Khúng mà thấu tỏ sự mất mát không gì bù đắp nổi do chiến tranh cùng bệnh chủ quan duy ý chí của công cuộc hợp tác hóa (Phiên chợ Giát - Nguyễn Minh Châu).
Sang thời kì đổi mới, quan niệm về hiện thực cũng được điều chỉnh. Hiện thực trong văn học không còn chỉ là hiện thực cách mạng mà là hiện thực toàn diện với cả bề nổi và bề chìm, cái hiện hữu và cái khuất lấp, mặt tích cực và mặt tiêu cực; không chỉ là cuộc sống chiến đấu, lao động sản xuất trong môi trường tập thể mà còn là cuộc sống đời thường, riêng tư của mỗi cá nhân với cả niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và bi kịch. Hiện thực này mở ra không gian vô tận cho nhà văn khai phá, chiếm lĩnh.
Mặt khác, cách hiểu máy móc trước đây về phản ánh hiện thực cũng có sự thay đổi. Trong một thời gian dài, bắt nguồn từ lí thuyết mô phỏng của Aristotle (nghệ thuật là sự mô phỏng, tái hiện thực tại) cho đến cách hiểu đơn giản về mô hình phản ánh trong lí luận văn học mác-xít, người ta cho rằng văn học phản ánh cuộc sống thì nó phải giống hệt như cuộc sống, từ đó dẫn đến thói quen tả thực, nệ thực và bệnh xã hội học dung tục trong cả sáng tác và tiếp nhận, phê bình. Tiếp thu lí luận phản ánh của Caudwell, nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung nhận định: “Công chúng tiếp nhận văn học ngày nay khác với công chúng trước năm 1985, người ta không còn đến với tác phẩm văn học như là đến với bản sao của hiện thực để xem các nhân vật trong tác phẩm có giống ngoài hiện thực, có “ngang tầm” hiện thực hay không mà chủ yếu để xem tác phẩm văn học nói gì về hiện thực, có tư tưởng mới gì về hiện thực”. Điều đó giải thích vì sao văn xuôi đương đại đã cho ra đời nhiều tiểu thuyết tiếp thu văn học hiện đại phương Tây, tạo ra những thế giới nghệ thuật khác lạ với nhiều yếu tố phi lí, siêu thực của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh… Yếu tố kì ảo, vốn từng xuất hiện trong các truyện liêu trai, kì quái, hoang đường của Lan Khai, Thế Lữ, TchyA (Đái Đức Tuấn), Lý Văn Sâm, Nguyễn Tuân, Nhất Linh ở đầu thế kỉ XX, do hoàn cảnh lịch sử đã gần như biến mất trong văn học 1945-1975, nay tái xuất trong nhiều dạng thức mới mẻ và hấp dẫn.
Quan niệm về chính văn học cũng có sự biến đổi trong thời đại mới. Văn học ngày nay không còn chỉ là vũ khí tuyên truyền, phục vụ cách mạng như trước, mà được mong đợi trước hết ở khả năng khám phá và chất vấn thực tại. Mặt khác, văn học không chỉ là tiếng nói chung của dân tộc, cộng đồng mà còn là phát ngôn của cá nhân nhà văn thể hiện tư tưởng, quan niệm riêng của người viết. Nhà văn không còn đứng ở trên để phán truyền tư tưởng của cộng đồng, mà ở vị thế bình đẳng với người đọc, cùng người đọc đối thoại về các vấn đề của đời sống, xã hội. Những tác phẩm mang tính đối thoại thường không áp đặt cách nhìn đối với người đọc mà để sự việc tự nói lên; nhà văn không đưa ra kết luận cuối cùng mà để cho người đọc bằng hiểu biết của cá nhân mình tự đánh giá. Những truyện ngắn có kết thúc mở, bỏ lửng, không xác định, không phán quyết như Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến), Mùa hoa cải bên sông (Nguyễn Quang Thiều) hay đưa ra ba cách kết thúc cho người đọc tự chọn như Vàng lửa (Nguyễn Huy Thiệp) kích thích người đọc đồng sáng tạo, tự suy ngẫm và tìm hướng đi hợp lí cho nhân vật.
Sự thay đổi trong quan niệm về văn học cũng thể hiện ở sự nhìn nhận các chức năng của loại hình nghệ thuật này. Trước đây, với tinh thần “văn dĩ tải đạo”, chức năng giáo dục của văn học được đặt lên hàng đầu, chức năng giải trí bị coi nhẹ. Ngày nay, chức năng giải trí được đề cao, thể hiện rõ trong tính chất trò chơi ở nhiều tác phẩm theo khuynh hướng hậu hiện đại.
Tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân bản
Đây là những đặc điểm nổi bật của văn học đổi mới, được khơi nguồn từ Đại hội Đảng VI với tinh thần đổi mới tư duy, “cởi trói cho văn nghệ sĩ” và “Nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật”.
Tinh thần dân chủ thúc đẩy tự do sáng tác, tôn trọng cá tính sáng tạo của nhà văn và sự khác biệt, đa dạng. Xu hướng dân chủ được biểu hiện ra trên nhiều bình diện của sáng tác, từ đề tài, chủ đề đến thủ pháp nghệ thuật, với hệ quả của nó là sự hình thành rất nhiều phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ. Tính dân chủ trong việc cho phép mọi thử nghiệm, tìm tòi về nội dung, hình thức, đặc biệt là bù lấp những khoảng thiếu hụt, kìm nén trong văn học giai đoạn trước đã tạo thời cơ cho văn xuôi phát huy thế mạnh của mình chiếm lĩnh vai trò trung tâm trong hệ thống thể loại. Một số tác phẩm gặp thời đã xoáy sâu, tô đậm những khía cạnh, vấn đề trước kia ít nhiều “nhạy cảm” như sự băng hoại đạo đức xã hội (Không có vua - Nguyễn Huy Thiệp), sự xảo quyệt, thâm độc, tha hóa của quan chức, cán bộ ở nông thôn, miền núi (Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường, Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng, Đàn trời - Cao Duy Sơn)… Nhiều phóng sự, bút kí của Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Minh Chuyên, Võ Đắc Danh, tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh Tuấn, Tạ Duy Anh, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Bắc Sơn… đã thể hiện tinh thần dũng cảm và tiên phong, nhạy bén và quyết liệt trong việc công phá vào các hiện tượng tiêu cực và các vấn đề nóng bỏng, bức xúc của đời sống xã hội.
Ở mảng văn xuôi viết về chiến tranh, có thể nói, chưa bao giờ tinh thần dân chủ lại bộc lộ rõ nét, sâu đậm như từ đầu thế kỉ đến nay. Trước 1975, để cổ vũ tinh thần chiến đấu, viết về những mất mát hi sinh trên chiến trường là điều các nhà văn thường né tránh. Trong văn xuôi đổi mới, chiến tranh được mô tả đến tận cùng sự khốc liệt, dữ dội của nó với nhiều đau thương, tổn thất và cả những thất bại của quân ta. Tương tự, việc viết về góc khuất, mặt trái của người lính cách mạng hay mặt tốt của kẻ thù ở bên kia chiến tuyến vốn được xem là điều cấm kị, thì nay các nhà văn đã xây dựng nhân vật ở cả hai phía đầy đặn, chân thực, có tính người hơn. Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp, người lính của ta cũng có thể có những “thói hư tật xấu”, có tì vết trong quá khứ, lí lịch; và trong hàng ngũ của ta bên những con người ưu tú cũng có kẻ cơ hội, hèn nhát, đào ngũ, chiêu hồi. Ở phía địch, không chỉ có những tên ác ôn khát máu, ô trọc mà có cả những sĩ quan hào hoa có học thức, trí tuệ và trọng danh dự; trong chiến trận họ là những tướng, tá có tài quân sự, trong gia đình họ là người cha tốt, người chồng đúng mực. Sự thay đổi lớn này trong quan niệm nghệ thuật về con người đã giúp văn xuôi đương đại thoát ra khỏi lối phân tuyến địch - ta cứng nhắc, đơn giản, lối phản ánh sơ lược, một chiều (cứ ta là tốt, cứ địch là xấu), đưa nhân vật từ đơn phiến sang đa diện với sự giao thoa, xen lẫn các mặt sáng - tối trong cùng một chỉnh thể. Có thể tìm thấy rất nhiều nhân vật như vậy trong hàng loạt tiểu thuyết viết về chiến tranh phần lớn ra đời ở đầu thế kỉ XXI, mà hầu hết các tác giả là những nhà văn từng trải qua chiến trường chống Mĩ, như Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Những bức tường lửa, Đối chiến (Khuất Quang Thụy), Thượng Đức, Đỉnh máu (Nguyễn Bảo), Khúc bi tráng cuối cùng, Mưa đỏ (Chu Lai), Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Chí Trung), Xiêng Khoảng mù sương (Bùi Bình Thi), Rừng thiêng nước trong (Trần Văn Tuấn), Xuân Lộc (Hoàng Đình Quang), Mùa hè giá buốt (Văn Lê)… Cách miêu tả chiến trường với cảm hứng bi kịch cùng việc khắc họa những nhân vật đa diện ở cả hai chiến tuyến với xu hướng công bằng hơn với đối phương càng làm ngời sáng thêm chân dung người chiến sĩ cách mạng đã chiến thắng một kẻ thù không tầm thường, đồng thời cho thấy cái giá của hòa bình khi đã đổi bằng biển máu.
Trong giai đoạn 1945-1975, văn xuôi tập trung thể hiện hai đề tài lớn là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến thời kì đổi mới, khó có thể xác định được đâu là đề tài chính cũng như đâu là nhân vật trung tâm của nền văn học, bởi xu hướng dân chủ của thời đại đã không giới hạn một phạm vi hiện thực nào, đặt ra một “vùng cấm” nào trước ngòi bút của nhà văn (trong tiểu thuyết Lửa đắng của Nguyễn Bắc Sơn, có cả nhân vật là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước đương thời). Mọi cánh cửa mở ra trước mắt người viết, mời gọi nhà văn đi vào mọi lĩnh vực, khía cạnh thuộc vĩ mô và vi mô, hiện tại và quá khứ; trước mỗi sự việc, vấn đề cũng cho phép những cách nhìn mới mẻ, thậm chí táo bạo so với truyền thống và thói quen của cộng đồng. Việc xuất hiện hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết đề tài lịch sử với cách hình dung khác trước về các nhân vật quá khứ, đặc biệt hiện tượng giải thiêng một số anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa như trong Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Mùa mưa gai sắc (Trần Vũ), Trở về Lệ Chi Viên (Nguyễn Thúy Ái)… là minh chứng cho sự đổi mới đôi khi quá đà, vượt ngưỡng này. Xu hướng dân chủ còn thể hiện ở tính phức tạp của chủ đề, tính đa thanh trong giọng điệu. Khác với văn xuôi 1945-1975 hầu hết là các tác phẩm đơn nghĩa, dễ hiểu, trong văn xuôi đương đại xuất hiện khá nhiều tác phẩm có những chi tiết, hình ảnh mang tính ẩn dụ, đa nghĩa, tạo cơ hội cho độc giả khám phá, giải mã theo những cách khác nhau tùy thuộc vào “tầm đón nhận” (horizon of expectation) của mỗi người.
Cùng với xu hướng dân chủ, văn xuôi đương đại cũng chuyển mình mạnh mẽ về phía những giá trị nhân văn, nhân bản với tư tưởng yêu thương, quý trọng con người và vì con người. Sự thức tỉnh trở lại của ý thức cá nhân trở nên sâu sắc và đa dạng hơn nhiều so với những biểu hiện của nó trong văn học những giai đoạn trước. Lần đầu tiên, nó lên án những hiện tượng nhân danh lợi ích cộng đồng để chà đạp lên số phận cá nhân (Bức tranh - Nguyễn Minh Châu), khẳng định quyền được sống tự do và hạnh phúc (Mùa hoa cải bên sông - Nguyễn Quang Thiều), thể hiện những ham muốn đời thường, những đam mê trần thế có khi đến độ bùng nổ quyết liệt (Hồi ức của một binh nhì - Nguyễn Thế Tường, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ - Y Ban)...
Trong nhiều tác phẩm văn xuôi đương đại, đặc biệt tác phẩm viết về chiến tranh, không khó để tìm ra những chi tiết mang tính nhân văn, tính người, tính nhân loại phổ quát. Câu chuyện một người lính vì nghĩ đến người vợ chưa cưới ở quê nhà mà bí mật tự chém tay mình để không phải tham gia trận đánh một mất một còn ngày hôm sau trong Bến không chồng (Dương Hướng), một chiến sĩ động lòng trắc ẩn muốn cứu tên lính ngụy mà vì hiểu nhầm đã trót đâm nó tử thương trong hố bom dưới cơn mưa tầm tã ở Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), một người phụ nữ vì thương những người lính ra trận là đi vào chỗ chết mà đã tự nguyện dâng hiến cho họ “biết mùi đời” trong Sóng chìm (Đình Kính) và cả trong Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến)... - chưa xét đến việc đúng, sai của hành vi - đều ám ảnh người đọc ở chiều sâu của ý nghĩa nhân bản.
Như vậy, sự vận động của văn xuôi từ giai đoạn 1945-1975 sang thời kì đổi mới là bước chuyển từ thể tài xã hội - lịch sử sang thể tài đời tư - thế sự, từ ý thức cộng đồng sang ý thức cá nhân, từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng nhân bản, từ tính đơn thanh sang tính đa thanh, từ độc thoại sang đối thoại, từ con người đơn phiến sang con người đa diện, từ yêu cầu phục vụ chính trị sang xu hướng dân chủ hóa. Có thể coi đây là cuộc chuyển giao, “đổi gác” mang tính cách mạng trong văn xuôi, tạo đà cho văn xuôi chiếm lĩnh hiện thực mênh mông ở nhiều tầng bậc, chiều kích.
Mặc dù còn thiếu những tác phẩm đỉnh cao, ngang tầm thời đại, còn những biểu hiện cực đoan do lạm dụng tính dân chủ của văn học đổi mới, cho đến thời điểm này văn xuôi vẫn giữ vai trò chủ đạo và tiếp tục phát triển ở cả bề rộng và kết tinh vào một số tác giả, tác phẩm. Ngoài những nhà văn đã khẳng định vị thế, phong cách ở truyện ngắn, tiểu thuyết như Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy..., nhiều cây bút ở những thế hệ tiếp theo đang dần xuất hiện với ngôn ngữ và giọng điệu mới.
Nhìn lại văn xuôi Việt Nam đương đại, có thể thấy đó là một quá trình vận động mạnh mẽ theo hướng dân chủ và nhân bản trên cơ sở những thay đổi quan trọng trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Những thành tựu đã đạt được của văn xuôi cho thấy văn học Việt Nam từ 1975, đặc biệt từ 1986 trở lại đây đã và đang tiếp tục hoàn thiện quá trình hiện đại hóa văn học mở ra ở đầu thế kỉ XX để hòa vào dòng chảy của văn chương nhân loại.
P.T.M.H