Có một lần trải lòng về nghề, Vũ Cao đã phác họa nên toàn bộ triết lí sống và viết của mình bằng những lời lẽ giản dị đến bất ngờ, nhưng chứa đựng sức nặng của một người cả đời dấn thân...(NGUYỄN THANH TÂM)
.NGUYỄN THANH TÂM
Trong dòng chảy của văn học kháng chiến Việt Nam, Vũ Cao là một trường hợp đặc biệt. Người ta có thể quên nhiều tập truyện, nhiều bài báo thời chiến trôi theo năm tháng, nhưng chỉ cần nhắc đến hai chữ “Núi Đôi”, triệu trái tim độc giả qua nhiều thế hệ lập tức ngân rung. Một bài thơ đủ sức gánh vác trọn vẹn danh tiếng của một đời cầm bút. Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở hiện tượng “thi sĩ của một bài thơ”, chúng ta sẽ bỏ lỡ toàn bộ vóc dáng của một nhà văn - nhà báo - người quản lý tài hoa trên mặt trận văn nghệ quân đội.
Vũ Cao, tên khai sinh là Vũ Hữu Chỉnh, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1922 tại vùng đất địa linh nhân kiệt Vụ Bản, Nam Định. Nhìn vào tiểu sử của ông, người ta thấy một quỹ đạo dấn thân trọn vẹn và nhất quán với vận mệnh dân tộc.
Kháng chiến toàn quốc nổ ra, đáp lại lời sông núi, người thanh niên Nam Định ấy lập tức xếp bút nghiên vào quân đội từ những ngày đầu. Ông trực tiếp có mặt ở những điểm nóng gay go nhất với tư cách là phóng viên mặt trận của báo Chiến sĩ (Quân khu IV). Tháng 4 năm 1949, ông chuyển sang làm phóng viên báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân). Chính quãng thời gian làm báo mặt trận này đã rèn đúc nên một Vũ Cao sắc sảo về quan sát, chân thực trong phản ánh và nhạy bén với từng hơi thở của người lính. Chất liệu cuộc sống tích tụ qua từng chiến dịch đã trở thành phù sa màu mỡ cho cây bút văn học của ông sau này.

Nhà thơ Vũ Cao
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Vũ Cao gắn bó với Tạp chí Văn nghệ Quân đội ngay từ những ngày đầu thành lập (1957) và giữ cương vị Chủ nhiệm Tạp chí từ năm 1967 đến năm 1980. Ở vai trò một nhà quản lí văn nghệ, Vũ Cao không chỉ là một người viết, mà còn là một “bà mụ” mát tay, một điểm tựa vững chắc cho nhiều tài năng văn học trưởng thành trong thời kì chống Mĩ. Đằm tính, điềm đạm nhưng vô cùng tinh tường, ông đã góp phần xây dựng địa chỉ Số 4 Lý Nam Đế trở thành thánh đường của văn nghệ quân đội, nơi hội tụ những cây bút sung sức và cá tính nhất của các thế hệ nhà văn chiến sĩ.
Sau khi rời quân ngũ với quân hàm đại tá, ông tiếp tục đem tư duy nhạy bén và uy tín văn chương của mình phục vụ cho đời sống văn hóa thủ đô trên các cương vị: Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, và Chủ tịch Hội đồng Thơ - Hội Nhà văn Việt Nam. Ông khép lại hành trình sống và sáng tác trọn vẹn của mình vào ngày 3 tháng 12 năm 2007 tại Hà Nội, để lại một di sản văn học đầy đặn và sự kính trọng sâu sắc từ bạn bè đồng nghiệp.
Nếu coi sự nghiệp văn học của Vũ Cao là một khoảng non ngàn, thì Núi Đôi (1956) chắc chắn là ngọn núi cao nhất, sừng sững gieo bóng xuống toàn bộ sáng tác của ông. Viết về bi kịch mất mát trong chiến tranh, nhưng Núi Đôi không rơi vào bi lụy. Bằng ngôn từ mộc mạc, tha thiết, bài thơ đã biến câu chuyện tình yêu của người lính và cô du kích Xuân Dục thành một huyền thoại bất tử về sự hi sinh và lòng yêu nước.
Tuy nhiên, nhìn lại toàn bộ di sản của ông - được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, chúng ta mới thấy một Vũ Cao đa dạng và bền bỉ: Về văn xuôi: Ông để lại những tập truyện ngắn đậm chất đời sống như Truyện một người bị bắt (1958), Những người cùng làng (1959), Từ một trận địa (1973). Bên cạnh đó, ông còn dành một góc tâm hồn ân iu dành cho thiếu nhi qua Em bé bên bờ sông Lai Vu (1960) hay Anh em anh chàng Lược (1965). Về thơ: Ngoài Núi Đôi, ông còn trình làng các tập thơ Sớm nay (1962), Đèo trúc (1973). Thơ Vũ Cao không đao to búa lớn, không cầu kì về hình thức mà luôn trầm lắng, tràn đầy tình cảm chân thành với đồng đội, với quê hương. Tất cả những tinh hoa ấy được kết tụ lại trong Tuyển tập Vũ Cao (2002), minh chứng cho một sức làm việc nghiêm túc, thầm lặng nhưng dồi dào cảm hứng về kháng chiến, đất nước, nhân dân.
Có một lần trải lòng về nghề, Vũ Cao đã phác họa nên toàn bộ triết lí sống và viết của mình bằng những lời lẽ giản dị đến bất ngờ, nhưng chứa đựng sức nặng của một người cả đời dấn thân: “Khi còn đi học, tôi rất thích đọc sách văn học. Từ đó tôi hiểu rằng văn học giúp tôi hiểu được rất nhiều điều về con người, về cuộc đời... Những gì tôi viết ra là rút từ cuộc sống của bộ đội, của nhân dân, từ cuộc sống để trở lại cuộc sống”. Đó là bài học rút ra từ xương máu và mồ hôi trên chiến trường, trên các nẻo đường đời sống, của mình, của đồng đội và nhân dân. Với Vũ Cao, viết trước hết là để “phục vụ bộ đội”, phục vụ nhân dân. Ông đặt ra hai yêu cầu cốt lõi cho một người cầm bút: Sự gắn kết và trải nghiệm: “Người sáng tác cần phải trau dồi vốn hiểu biết, từng trải, phải luôn luôn gắn mình với đất nước, nhân dân và cách mạng”. Nhà văn không thể đứng ngoài hay đứng cao hơn thời đại mình sống. Anh ta phải đắm mình vào dòng chảy của dân tộc, vui buồn với niềm vui, nỗi đau của nhân dân. Trách nhiệm và sự giản dị: “Người viết còn phải có trách nhiệm với câu chữ của mình và cần nhất là sự giản dị, trong sáng. Người viết cần có phong cách riêng, tính cách riêng nhưng theo tôi không được tách ra khỏi cuộc sống nhân dân”. Đây có thể xem là một tuyên ngôn nghệ thuật sắc sảo. Vũ Cao không phủ nhận cái tôi cá nhân, ông khuyến khích phong cách riêng, tính cách riêng, nhưng cái “tôi” đó tuyệt đối không được kiêu ngạo rời xa cái “chúng ta” rộng lớn. Câu chữ phải trải qua sự chắt lọc của trách nhiệm, và đỉnh cao của nghệ thuật, kì lạ thay, lại chính là sự “giản dị, trong sáng”. Chính triết lí này đã giải thích vì sao thơ văn của Vũ Cao lại có sức sống bền bỉ đến vậy. Ông không dùng kĩ xảo để đánh đố người đọc, ông dùng sự chân thành và vốn sống từng trải để chạm vào trái tim họ.
Vũ Cao đã đi qua một kiếp người trọn vẹn với nước, với dân và với chữ nghĩa. Nhìn lại hành trình từ người phóng viên mặt trận khoác áo lính đến vị Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, từ những trang truyện ngắn đậm đà hơi thở chiến trường đến những vần thơ Núi Đôi đi cùng năm tháng, chúng ta nhận ra một bài học lớn về nhân cách người nghệ sĩ: Khi anh biết cúi xuống thật sâu trước cuộc sống của nhân dân, văn chương của anh sẽ tự cất cánh bay cao.
N.T.T