Thứ Tư, 23/09/2026 15:35

Vũ Tú Nam - Vài phác thảo trong buổi đẩu của Văn nghệ Quân đội

Chúng tôi vô cùng khâm phục Vũ Tú Nam khi ở độ tuổi đôi mươi đã có gần chục đầu sách viết về bộ đội và nhân dân.

Khi chúng tôi thực hiện phim tài liệu chân dung về nhà thơ Vũ Cao năm 1999 với sợ tham gia của các nhà văn Xuân Thiều, Lê Lựu, Hồng Diệu, Trần Đăng Khoa… tôi vẫn còn rất mơ hồ với cái tên Vũ Tú Nam. Nào ai biết gần ba mươi năm sau, khi chủ trì biên soạn Kỷ yếu các nhà văn Tạp chí Văn nghệ Quân đội hành trình 70 năm ra số đầu tiên (01/01/1957 - 01/01/2027), tiếp cận các nguồn tư liệu liên quan mới thấy hiện lên rõ ràng, mạch lạc, từng dấu mốc và cái tên Vũ Tú Nam gắn với Văn nghệ Quân đội đã hiện ra từng đường gân thớ thịt - một vị trưởng bối đáng kính đến với văn chương bộ đội khi lứa chúng tôi còn là hạt bụi tận đẩu đâu. Thế mới biết, các cụ ngày trước không chỉ tinh thông chữ nghĩa, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Tây, chữ Nhật làu làu mà khoác ba lô theo kháng chiến từ những ngày đầu tiên đã sáng lập ra tờ Sinh hoạt văn nghệ từ chiến khu Việt Bắc mùa đông năm 1949, đến giải phóng Điện Biên 1954 trở về Hà Nội lại sáng lập Văn nghệ Quân đội quy tụ đội ngũ văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội khang trang dài rộng, làm nền tảng vững chãi, nhiều người đã hiện ra trong tên phố, tên đường như Thâm Tâm, Nguyễn Thi, Vũ Cao, Lưu Trùng Dương, Xuân Thiều, Thanh Tịnh, Phùng Quán, Nguyễn Minh Châu… càng khiến chúng tôi kính ngưỡng các cụ. Đó vừa là những quả núi sừng sững vi vút mây trời vừa là những dòng sông dằng dặc tung mình ra biển mà chúng tôi được như những hạt cát nhỏ bé cũng đã là may mắn lắm rồi.

Nhà văn Vũ Tú Nam.

Nhà văn Vũ Tú Nam là em ruột của nhà thơ Vũ Cao, cũng mãi sau này tôi mới biết chứ khi phỏng vấn Vũ Cao cụ chỉ nói loáng thoáng nhà mình có người theo nghiệp văn bút gì đó còn như cái chức Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam của người em không hề thấy Vũ Cao đả động đến. Đó chính là đức tính khiêm nhường đã trở thành tập quán của nhà thơ Vũ Cao.

Nhà văn Vũ Tú Nam tên khai sinh là Vũ Tiến Nam. Ông sinh ngày 5 tháng 10 năm 1929 tại thôn Lương Kiệt, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha ông là một viên chức làm việc cho người Pháp ở Hòa Bình nên khi còn nhỏ Vũ Tú Nam sống và học ở Hòa Bình. Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, với học thức và niềm đam mê của tuổi trẻ, năm 1947, Vũ Tú Nam nhập ngũ, tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, được phân công công tác tại Báo Chiến sĩ Liên khu 4. Với khả năng viết văn, viết báo thành thạo, Vũ Tú Nam đã sớm để lại dấu ấn mà tiêu biểu nhất là truyện vừa Bên đường 12 - Giải Nhất văn xuôi văn nghệ Liên khu 4 năm 1950. Tiếp đó là các tập truyện ngắn, truyện ký: Quê hương - 1950; Nhân dân tiến lên - 1951; Sau trận núi Đanh - 1951; Ngày xuân - 1953; Giành lấy tương lai -1954; Kể chuyện quê nhà - 1954… đã cho thấy một Vũ Tú Nam vô cùng mạnh mẽ, sung sức, gắn với đời sống bộ đội và nhân dân ngay trong lòng cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chúng tôi vô cùng khâm phục Vũ Tú Nam khi ở độ tuổi đôi mươi đã có gần chục đầu sách viết về bộ đội và nhân dân. Điều gì đã làm nên thành công đó? Sự khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp đã thúc giục các ngòi bút chiến sĩ trong đó có Vũ Tú Nam? Trách nhiệm lớn của lứa thanh niên đầy khát vọng khi được làm công dân, nhất là với vai trò trí thức - văn nghệ sĩ đã lập tức nhập cuộc theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch sau ngày Tuyên ngôn Độc lập 2 tháng 9 năm 1945 đã tạo nên niềm tin và sức vóc của mỗi ngòi bút chiến sĩ trong đó có Vũ Tú Nam? Những câu hỏi ấy dường như đồng thời là câu trả lời và Vũ Tú Nam đã từng chia sẻ: “Năm 1952, sau Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân và toàn quốc, một số anh em văn nghệ sĩ chúng tôi (Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Vũ Tú Nam…) tập trung viết truyện các anh hùng và chiến sĩ thi đua. Khi đó chúng tôi là cán bộ Cục Tuyên huấn. Trong tháng 7 năm 1952, tôi hoàn thành truyện viết về La Văn Cầu, Giáp Văn Cương…”. Như vậy, tính chất nhận nhiệm vụ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong văn học của các văn nghệ sĩ quân đội trong đó có Vũ Tú Nam luôn rất cao.

Nhà văn Vũ Tú Nam và vợ, nhà báo Thanh Hương. Ảnh: TL

Nhật ký Vũ Tú Nam về những ngày sôi nổi đó đã kể lại rất rõ: “Ngày 9 tháng 2 năm 1953, Sinh hoạt văn nghệ đã đưa số 2 đi nhà in. Như vậy, Sinh hoạt văn nghệ tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã ra đời (số 1) khoảng cuối năm 1952 hoặc đầu năm 1953. Đó là một tập san khổ nhỏ, nửa sách nửa tạp chí, in các sáng tác văn, dịch thuật, tin tức văn nghệ trong quân đội, về sau ra khổ to hơn”.

Quả thực ngày đó, việc thực hiện các nhiệm vụ trong đó có việc in ấn, xuất bản Sinh hoạt văn nghệ đã được đội ngũ văn nghệ sĩ trong đó có Vũ Tú Nam thực hiện rất khẩn trương, linh hoạt, theo kịp với đời sống bộ đội. Điều đó chính là phẩm chất góp phần tạo nên truyền thống của Văn nghệ Quân đội sau này.

Đối với lứa chúng tôi, trước dấu mốc 70 năm, mỗi khi tra cứu các tài liệu liên quan thời các cụ làm Sinh hoạt văn nghệ; tiếp đó là Văn nghệ Quân đội nhiều chỗ thấy dấu mốc thời gian tuy chưa hoàn toàn ăn khớp, nhưng các số báo luôn rất liền mạch, từ tư tưởng văn nghệ trong quân đội đến các hoạt động của bộ đội, nhất là các cuộc chỉnh huấn, sinh hoạt văn nghệ, hội thao, hội diễn trong toàn quân đều được mô tả rất đầy đủ. Mỗi số in hàng vạn bản. Điển hình số tháng 4 năm 1958 phát hành 15.250 bản đã như một kỷ lục khó vượt qua.

Cũng theo nhật ký của Vũ Tú Nam: “Tháng 6 năm 1955, tôi được chỉ định làm trưởng ban văn gồm các anh: Từ Bích Hoàng, Hà Mậu Nhai, Phùng Quán, Thanh Tịnh, Hoàng Yến, Ngọc Tự…”. Điều đó đã cho thấy sự phân công rất rõ ràng của tổ chức đối với các ban chuyên môn để việc ra mắt Văn nghệ Quân đội tiếp đó được thuận lợi.

Nhà văn Vũ Tú Nam được phân công sang Hội Nhà văn làm báo Văn học tháng 5 năm 1958 cũng là một dấu mốc đặc biệt với ông và với đội ngũ Văn nghệ Quân đội. Sau này, nhiều nhà văn ở Văn nghệ Quân đội được cấp trên phân công sang Hội, nhiều người giữ các cương vị rất cao như: Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Chính Hữu, Xuân Thiều, Hữu Thỉnh, Hữu Mai, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường, Trung Trung Đỉnh... Điều đó cũng là một sự đặc biệt!

Tác phẩm của nhà văn Vũ Tú Nam.

Dù công tác ở cương vị nào, Vũ Tú Nam vẫn dành thời gian cho sáng tác. Tập truyện thiếu nhi Văn Ngan tướng công của ông phát hành năm 1963 được đón nhận nồng nhiệt trong nước và dịch sang tiếng Nga hàng chục vạn bản đã trở thành thương hiệu của Vũ Tú Nam đến hôm nay. Tiếp đó là các tập: Thử thách thầm lặng - truyện, 1971; Sống với thời gian hai chiều - truyện ký, 1983; Mùa xuân tiếng chim - truyện ngắn, 1985; Mây hồng - truyện ngắn, 1998; Có và không có - tuyển thơ dịch, 2003… đã cho thấy một Vũ Tú Nam luôn bền bỉ với sáng tác mặc dù có thời điểm ông đảm đương cương vị quan trọng: Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV (1989-1994); Đại biểu Quốc hội Khóa IX.

Văn đàn Việt Nam luôn có sự chuyển động dữ dội từ bên trong. Điều này dường như cũng là một tất yếu của nền văn học cách mạng vốn được xây dựng và trưởng thành từ trong lửa đỏ các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc tới công cuộc Đổi mới với những quan liêu, khinh suất, máy móc một thời; tiếp đó phải đối mặt với sự dữ dội của thị trường thì những nhà văn ở cương vị lãnh đạo trong đó có Vũ Tú Nam chắc chắn không hề dễ dàng. Sau này, trong một lần phỏng vấn nhà thơ Hữu Thỉnh về thời kỳ nhà văn Vũ Tú Nam làm Tổng Thư ký, Hữu Thỉnh đã cười rất tươi trả lời lưu loát đại ý rằng: “Văn nghệ thời nào chả có chuyện này chuyện khác. Anh Vũ Tú Nam được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam đúng theo chỉ đạo của Đảng, là một thắng lợi trong một giai đoạn lịch sử văn học của chúng ta”. Nhóm phóng viên chúng tôi cũng cười rất tươi trước nhận định của nhà thơ Hữu Thỉnh.

Nhà văn Vũ Tú Nam, vài phác thảo về buổi đầu ông được phân công tờ Sinh hoạt văn nghệ và tiếp đó là Văn nghệ Quân đội đã cho chúng tôi hiểu biết sâu sắc hơn về nhận thức và thực hành các nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ về văn học nghệ thuật trong quân đội trước hết và trước tiên phải để phục vụ đời sống tinh thần của bộ đội và nhân dân ta, hướng tới các mục tiêu lớn mà Đảng, Bác Hồ khởi xướng, dẫn dắt và lãnh đạo.

Đại tá, nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội