Cha tôi ra tòa

Thứ Sáu, 29/11/2019 10:08

. Truyện ngắn của Carlos Bulosan

Carlos Sampayan Bulosan (1913 - 1956) là tiểu thuyết gia và nhà thơ người Philippines gốc Anh. Ông di cư sang Mĩ vào năm 1930 và dành phần lớn cuộc đời mình tại đây. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn tiểu thuyết bán tự truyện America is in the heart (1946), nguồn tư liệu chính trong các nghiên cứu về dân tộc Mĩ và nghiên cứu về người Mĩ gốc Á.
Dù Bulosan mất sớm vì bệnh viêm phổi và bệnh lao ở Seattle năm 1956, song ông đã để lại một khối lượng lớn các bài thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, vở kịch và thư từ.... Tác phẩm của Bulosan mô tả kinh nghiệm lớn lên ở một vùng nông thôn của Philippines, và sự chiếm đóng và nhiều thế kỉ của chủ nghĩa thực dân Tây Ban Nha.
Tác phẩm chính:
Nước Mĩ ở trong tim; Tiếng cười của cha tôi; Tiếng khóc và sự cống hiến; Bi kịch của cha tôi; Sự lãng mạn của Magno Rubio; Nếu bạn muốn biết chúng tôi là gì; Cha tôi ra tòa


***

Khi tôi lên bốn, tôi sống với mẹ và các anh chị trong một thị trấn nhỏ trên đảo Luzon. Trang trại của cha tôi đã bị một trong những trận lụt ở Philippines làm tan hoang vào năm 1918. Vì vậy trong những năm sau đó, tất cả chúng tôi đều sống ở thị trấn, mặc dù cha tôi lại thích sống ở quê hương. Người hàng xóm của chúng tôi rất giàu có, những đứa trẻ nhà ông ấy hiếm khi bước ra khỏi nhà. Trong khi chúng tôi chơi nghịch cát dưới ánh mặt trời, thì những đứa trẻ nhà bên ấy cứ ở trong nhà và đóng cửa sổ lại. Nhà ông hàng xóm cao đến nỗi những đứa trẻ nhà bên ấy có thể nhìn xuyên vào cửa sổ nhà chúng tôi và xem chúng tôi chơi, cả những khi chúng tôi ngủ, khi ăn, hoặc nhìn thấy bất kì món thức ăn nào ở nhà chúng tôi.

Hàng ngày, người giúp việc nhà bên ấy thường rán và nấu món gì đó rất ngon, mùi thơm của thức ăn từ cửa sổ của ngôi nhà lớn tỏa xuống chỗ chúng tôi. Chúng tôi được thưởng thức tất cả mùi thức ăn thơm ngon tuyệt vời. Thỉnh thoảng, vào buổi sáng, cả nhà tôi đứng bên ngoài cửa sổ nhà hàng xóm để nghe tiếng reo sôi động như tiếng nhạc của những tảng thịt lợn muối xông khói hoặc giăm bông dày. Tôi nhớ một buổi chiều, khi người giúp việc nhà hàng xóm nướng ba con gà. Những con gà còn non và mềm, nước mỡ từ mình gà chảy xuống than hồng bị cháy tạo ra mùi thơm rất hấp dẫn. Chúng tôi chăm chú nhìn từng động tác người nấu bếp đang chế biến những con chim xinh đẹp và hít mùi hương thiên đường đang lan tỏa về phía chúng tôi.

Có những ngày, ông nhà giàu xuất hiện bên cửa sổ và trừng mắt nhìn chúng tôi. Ông ấy chăm chú nhìn chúng tôi, nhìn từng người một, như thể ông ấy đang kết tội chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều khỏe mạnh, vì chúng tôi ra phơi nắng hàng ngày và tắm trong làn nước mát lành của dòng sông chảy từ núi xuống biển. Đôi khi chúng tôi đánh vật với nhau trong nhà trước khi ra ngoài chơi.

Chúng tôi luôn ở trong trạng thái tinh thần vui vẻ và tiếng cười của chúng tôi rất dễ lan tỏa. Những người hàng xóm khác đi ngang qua nhà chúng tôi thường dừng lại ở sân và cùng cười với chúng tôi.

Tiếng cười là sự giàu có duy nhất của chúng tôi. Cha tôi là một người hay cười. Ông ấy thường đi vào phòng khách và đứng trước tấm gương cao, vành miệng thành những hình thù kì cục bằng ngón tay và tự làm mặt mình thành ngộ nghĩnh, rồi ông ấy chạy vào bếp và cười ầm lên.

Có rất nhiều điều có thể khiến chúng tôi cười. Chẳng hạn, một ngày, anh trai của tôi về nhà và mang một bọc nhỏ trong tay, giả vờ đang cầm đồ ăn gì đó, có thể là món chân cừu hoặc bất kì món ăn hấp dẫn nào khác để khiến chúng tôi thèm chảy nước miếng. Anh ấy chạy lại bên mẹ tôi và đặt bọc thức ăn ấy vào lòng mẹ tôi. Tất cả chúng tôi đứng xung quanh, nhìn mẹ tôi tháo dây, mở gói ra. Đột nhiên, từ trong bọc, một con mèo đen nhảy ra và chạy điên cuồng quanh nhà. Mẹ tôi đuổi theo anh tôi và đánh anh ta bằng nắm đấm nhỏ nhẹ của mình, trong khi mấy anh chị em chúng tôi cúi xuống, cười lăn cười bò ra.

Một lần khác, vào lúc nửa đêm, chị gái của tôi đột nhiên la hét. Mẹ tôi vội vàng đến bên và cố gắng làm chị ấy trấn tĩnh lại. Chị tôi rên rỉ khóc. Khi cha thắp đèn lên, chị tôi nhìn chằm chằm vào chúng tôi với ánh mắt xấu hổ.
“Có chuyện gì thế?”. Mẹ tôi hỏi.
“Con đã có thai”. Chị ấy khóc.
“Đừng ngốc ngếch thế!”. Cha tôi hét lên.
“Con chỉ là một đứa trẻ thôi mà”. Mẹ tôi nói.
“Con nói với mẹ là con đã có thai”. Chị ấy khóc thút thít.
Cha tôi quỳ bên chị. Ông đặt tay lên bụng chị ấy và xoa nhẹ nhàng. “Làm sao con biết con đang có thai?”.
“Con cảm thấy thế!”. Chị ấy mếu máo.
Chúng tôi đặt tay lên bụng chị ấy. Có một cái gì đó cựa quậy bên trong. Cha tôi sợ tái mặt. Mẹ tôi thì bị sốc, ngây người ra. “Người đàn ông nào vậy?”. Mẹ tôi hỏi.
“Không có người đàn ông nào cả”. Chị tôi nói.
“Vậy thì có chuyện gì thế?” Cha tôi hỏi.

Đột nhiên, chị tôi mở vạt áo thì một con ễnh ương nhảy vụt ra. Mẹ tôi ngất xỉu, cha tôi thì làm rơi chiếc đèn, dầu tràn ra sàn và bốc cháy, chị gái tôi lấy chăn trùm lên đám lửa. Một người anh của tôi cười phá lên, anh ấy cười lăn cười lộn trên sàn nhà.

Khi đám lửa được dập tắt và mẹ tôi đã hoàn hồn, chúng tôi quay lại giường và cố gắng ngủ, nhưng cha tôi cứ cười to đến nỗi chúng tôi không thể ngủ được nữa. Mẹ tôi lại dậy và thắp đèn dầu. Chúng tôi cuộn tấm thảm trên sàn nhà lên và bắt đầu nhảy múa và vui cười với tất cả sức lực của mình. Chúng tôi đã gây ra nhiều tiếng ồn đến nỗi tất cả những người hàng xóm, trừ người bên gia đình giàu có, đã vào sân và cùng cười nói ầm ĩ với chúng tôi.

Những chuyện đại loại như thế đã diễn ra trong nhiều năm.

Thời gian trôi qua, những đứa trẻ bên nhà ông hàng xóm giàu có trở nên gầy gò và xanh xao, trong khi chúng tôi thì khỏe mạnh hơn và khí thế lúc nào cũng hừng hực như bốc lửa. Khuôn mặt của chúng tôi rạng rỡ và hồng hào, nhưng khuôn mặt những đứa trẻ bên hàng xóm ấy thì tái nhợt và luôn luôn buồn bã. Ông nhà giàu bắt đầu ho hắng vào ban đêm, sau đó thì ông ấy ho khù khụ suốt cả ngày lẫn đêm. Vợ ông ấy cũng bắt đầu ho. Rồi những đứa trẻ nhà bên ấy cũng lần lượt bị ho. Vào ban đêm, tiếng ho của họ nghe như tiếng sủa của một đàn hải cẩu. Chúng tôi đến gần bên ngoài cửa sổ của họ, lắng nghe và tự hỏi, không biết chuyện gì đã xảy ra với họ. Chúng tôi biết rằng, không phải do thiếu thức ăn bổ dưỡng mà họ bị bệnh, vì hàng ngày họ vẫn thường nấu và rán những món rất ngon và tỏa mùi thơm phức.

Ảnh minh họa.

Một ngày nọ, ông nhà giàu xuất hiện bên cửa sổ và đứng đó một lúc lâu. Ông ấy nhìn mấy chị em nhà chúng tôi, những đứa trẻ đã lớn lên với tiếng cười, rồi nhìn anh em chúng tôi có cánh tay, bắp chân rắn chắc như cây molave, là loài cây rắn chắc nhất ở Philippines. Ông ấy đóng cửa sổ và chạy qua hết các phòng khác trong nhà, đóng tất cả các cửa sổ lại.

Từ hôm đó, cửa sổ của nhà hàng xóm của chúng tôi đóng im ỉm. Bọn trẻ không thấy ra ngoài trời nữa. Chúng tôi vẫn có thể nghe thấy những người giúp việc đang nấu ăn trong bếp. Cho dù cửa sổ nhà bên có đóng chặt đến đâu, mùi thơm của thức ăn vẫn đến với chúng tôi trong gió và len lỏi vào nhà chúng tôi.

Một buổi sáng, một viên cảnh sát mang đến nhà chúng tôi một tờ giấy trong phong bì dán kín. Trong đó, là tờ khiếu nại mà ông nhà giàu đã viết đầy kín trang để tố cáo chúng tôi. Cha tôi đưa tôi đi cùng anh cảnh sát đến văn phòng thư kí của thị trấn, anh ta hỏi cha tôi tất cả nguyện gì đã xảy ra. Anh ta bảo với cha tôi rằng, ông nhà giàu nói trong nhiều năm, chúng tôi đã đánh cắp linh hồn thực phẩm và của cải nhà ông ta.

Vào ngày chúng tôi xuất hiện trước tòa, cha tôi mặc bộ đồng phục quân đội đã cũ và mượn một đôi giày của anh tôi. Chúng tôi là những người đầu tiên đến tòa. Cha tôi ngồi trên ghế ở giữa phòng xử án. Mẹ tôi ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa ra vào. Chúng tôi ngồi trên ghế dài đặt sát bên tường. Cha tôi đứng lên bên ghế và dùng tay chém vào không khí, như thể ông ấy đang tự bảo vệ mình trước một bồi thẩm đoàn tưởng tượng.

Người đàn ông giàu có đã đến. Ông ta già và yếu đuối, Khuôn mặt ông ta hằn sâu đầy các vết nhăn. Đi cùng ông ta là một luật sư trẻ. Khán giả bước vào phòng và gần như ngồi kín trên những chiếc ghế. Thẩm phán bước vào phòng và ngồi trên một chiếc ghế cao. Chúng tôi vội đứng dậy và lại ngồi xuống.

Sau khi khai mạc phiên tòa, thẩm phán hỏi cha tôi: “Ông có luật sư không?”.
“Tôi không cần luật sư”. Cha tôi nói.
“Được rồi”. Ông thẩm phán nói.
Luật sư của ông nhà giàu đứng lên và chỉ tay về phía cha tôi: “Ông có thừa nhận rằng, đã đánh cắp linh hồn thực phẩm và của cải của thân chủ tôi không?”.
“Tôi không ăn cắp gì cả!”. Cha tôi nói!
“Ông có thừa nhận rằng, trong khi người hầu của thân chủ tôi nấu và rán món chân cừu béo và ức gà non, ông và gia đình bám bên ngoài cửa sổ và ngửi thấy mùi thơm của của thức ăn không?”.
“Tôi thừa nhận điều này”. cha tôi nói.
“Ông giải thích thế nào về việc đó?”.
Cha tôi đứng dậy và đi loanh quanh, gãi đầu suy nghĩ. Rồi ông nói: “Tôi muốn gặp những đứa trẻ của bên nguyên đơn, thưa ngài thẩm phán”.
“Đưa những người con của nguyên đơn đến đây”.

Mấy đứa trẻ rụt rè bước ra. Khán giả ngồi trong phòng lấy tay che miệng. Họ rất ngạc nhiên khi thấy những đứa trẻ rất gầy gò và xanh xao. Những đứa trẻ lặng lẽ bước đến một chiếc ghế dài và ngồi xuống, chúng cúi đầu mà không ngước lên. Chúng nhìn chằm chằm xuống sàn và tay vặn vào nhau một cách khó chịu.

Ban đầu, cha tôi không nói bất cứ câu nào. Ông chỉ đứng bên cạnh ghế và nhìn chúng. Cuối cùng ông nói: “Tôi sẽ kiểm tra chéo bên nguyên đơn”.
“Được”.
“Ông cho rằng chúng tôi đã đánh cắp tinh thần sức khỏe của ông và trở thành một gia đình hay cười, trong khi ông trở nên rầu rĩ và buồn bã phải không?”.
“Đúng”.
“Được rồi, chúng tôi sẽ trả lại cho ông ngay bây giờ”. Cha tôi nói và đi đến bên mấy đứa trẻ chúng tôi đang ngồi trên băng ghế và lấy chiếc mũ rơm mà tôi đang ôm trong lòng rồi móc những đồng xu trong túi áo bỏ vào đầy chiếc mũ. Ông đến bên mẹ tôi, bà cũng bỏ thêm những đồng bạc vào đó. Anh em tôi cũng bỏ thêm vào đó những đồng tiền lẻ của mình.
“Tôi có thể đi từ đây qua hội trường sang phòng khác và ở đó một lát được không, thưa ngài thẩm phán?”. Cha tôi hỏi.
“Được, ông cứ làm như ý muốn”.
“Cảm ơn ông!”. Cha tôi nói. Ông sải bước sang phòng khác với chiếc mũ trên tay. Chiếc mũ gần như đầy những đồng tiền. Cánh cửa của cả hai căn phòng đều rộng mở.
“Ông đã sẵn sàng chưa?”. Cha tôi nói.
“Được rồi!”. Ngài thẩm phán nói.

Tiếng leng keng rất hấp dẫn của những đồng xu vang lên trong phòng. Khán giả quay mặt về phía âm thanh ấy với sự ngạc nhiên. Cha tôi quay lại và đứng trước người khiếu nại.
“Ông có nghe thấy không?”. Cha tôi nói.
“Nghe thấy cái gì?”.
“Linh hồn của những đồng tiền khi tôi lắc chiếc mũ này?”.
“Có nghe thấy”.
“Thưa ông, ông đã được tôi trả tiền rồi đấy”. Cha tôi nói.
Ông nhà giàu há hốc miệng định nói và ngã xuống sàn mà không có tiếng động nào. Ông luật sư vội vàng đến đỡ lấy ông ta. Thẩm phán gõ chiếc búa của ông ta.
“Trường hợp này bị từ chối!”. Ông ta nói.

Cha tôi sải bước quanh phòng xử án. Ngài thẩm phán thậm chí đã ngồi sệp xuống ghế cao để bắt tay cha tôi. “Bằng cách này,” ông ta thì thầm, “tôi đã có một ông chú chết cười”.
“Ông có thích nghe cả nhà tôi cười không, ông thẩm phán?”. Cha tôi hỏi.
“Tại sao lại không cơ chứ?”.
“Ông có nghe thấy những đứa trẻ đó không?”. Cha tôi nói.
Chị tôi bắt đầu trước tiên. Những người khác cười theo chị tôi và chẳng mấy chốc khán giả đã cười ầm lên cùng với chúng tôi, họ ôm bụng và cúi xuống ghế mà cười. Có lẽ tiếng cười của ngài thẩm phán là to hơn cả.

PHẠM THANH CẢI dịch từ bản tiếng Anh (nguồn: Internet)
 

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nhân vật "Vườn Maria" và số phận của họ

Nhân vật "Vườn Maria" và số phận của họ

Tôi đến nước Đức được hai năm thì nước này thống nhất. Rồi tôi thất nghiệp, khi nhà máy Cộng hoà dân chủ Đức được bán cho Ấn Độ.

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)