Chiếc vòng tay ngọc bích

Thứ Ba, 17/03/2020 15:43

. Truyện ngắn của Mary Eleanor Wilkins Freeman (Mĩ)

Mary Eleanor Wilkins Freeman.

Lawrence Evarts đang trên đường về từ văn phòng luật của ông ở Somerset thì bắt gặp vòng tròn kì quái trong tuyết. Lớp tuyết trơn dày, và vòng tròn ấy ngay lập tức thu hút sự chú ý của ông. Nó nằm ngoài khối tuyết bên vỉa hè, trong cái máng nước nào đó ở Somerset.

Lawrence mang theo chiếc ô gập gọn nhẹ. Ông là người cực kì thận trọng trong mỗi hành động. Tuyết dự báo rơi sớm hơn vào ban ngày, dù bầu trời giờ đây đã sáng sủa hơn, và những ngôi sao đang lấp lánh, từng cái một, hồng, tím và vàng một cách khó tả phía chân trời.

Lawrence thúc cái tay nắm của ô vào vòng tròn, và chạm phải một thứ gì đó cứng. Ông cố nhấc lên bất cứ thứ gì cùng với cái ô, nhưng không thể. Rồi ông chau mày, tháo đôi găng tay Anh ra, vùi tay xuống tuyết và nhấc nó lên lần nữa cùng chiếc vòng tay ngọc bích. Nó thật đẹp, ngọc bích màu xanh lá cải, được cắt từ khối đá to và cứng – một chiếc vòng tay đàn ông, và to hơn tay của ông. Evards có bàn tay nhỏ nhắn.

Ông đứng nhìn chằm chằm vào nó. Ngay lập tức ông nhớ đã thấy nó ở đâu đó, trong tiệm giặt là của người Trung Quốc, một người đàn ông Trung Quốc đã đeo cái vòng giống thế. Nhưng không có tiệm giặt người Hoa nào ở Somerset, ông không hề nhớ rằng có một tiệm như vậy ở Lloyds, ngôi làng duy nhất cách đó vài dặm đủ lớn để cung cấp một tiệm giặt.

Gã đàn ông Trung Quốc tới Somerset, với ý đồ lừa đảo cấp độ rộng, buộc hắn phải tìm đường tẩu thoát. Hắn đã biến mất, có thể đã lái sang lĩnh vực khác an toàn hơn, dù đã có những tin đồn gở rằng hắn đã chết, không có xác nhận và mối quan tâm với những gã ngoại đạo kì quái – như phần lớn người dân đánh giá về gã.

Lawrence ngây ngẩn nhìn cái vòng tay đầy thắc mắc, rồi như nghe theo một mệnh lệnh không thể cưỡng nào đó, ông đeo nó lên tay phải, nơi ông ta đã tháo chiếc găng. Ngay lập tức một cảm giác rợn ngợp bao quanh ông. Ông có thể cảm nhận rõ, dù đã cố chống lại cảm giác ấy, rằng có một bàn tay khác bên cạnh chiếc vòng ngọc bích ông đang đeo. Ông giật mạnh cánh tay để thoát khỏi cảm giác này, nhưng nó không mất đi. Ông có thể cảm nhận được bàn tay và cổ tay của một ai đó, dù ông hoàn toàn không nhìn thấy gì cả. Ông chỉ cảm nhận được bằng xúc giác, và khứu giác nữa. Bầu không khí trong leo lẻo và lạnh buốt chế ngự tạo ra mùi hăng kì quái của thuốc phiện và gỗ đàn hương. Nhưng tệ hơn nữa là các cuộc tra tấn huyền bí của các giác quan – tệ hơn nhiều – một cái gì khác nữa. Trong tư tưởng phương Tây rành mạch của ông, được lĩnh hội từ nhỏ tới những suy luận logic, niềm tin vào Chúa, những dự cảm đúng, đã đánh cắp thứ gì đó thật lạ lùng và đối nghịch. Những kí ức kì lạ, viễn cảnh kì lạ, như dải sương mù trên những phần quen thuộc của ông, như khói tỏa trên khung cửa.

Evarts nắm lấy chiếc vòng tay và quăng nó trở lại tuyết. Nhưng lại xảy ra một điều tồi tệ hơn nữa. Ông vẫn cảm thấy có vật gì đó ở cổ tay, nhưng cảm giác một bàn tay khác giật mạnh hơn, ông thực sự kích động bởi khói thuốc phiện, và những đám mây kì lạ phủ mờ nhận thức ông bằng một lực lớn hơn. Ông tháo găng, nhưng rõ ràng nó bị vướng qua chiếc vòng tay vô hình.

“Cái quái gì vậy!” Evarts hét lớn. Ông có thể nhìn thấy trong tuyết vết cắt hình tròn rõ ràng khi chiếc vòng rơi xuống. Ông tháo găng tay, nhặt cái vòng lên một lần nữa và bước đi, phủi tuyết bám trên tay. Rõ ràng cảm giác đeo tốt hơn khi ném xuống. Những cảm giác kì quái không còn rõ rệt nữa. Nhưng nó vẫn khá tệ trong tâm trí ông.

Giờ đây khi Evarts đi bộ, ông gặp một người bạn, gã nhìn ông chằm chằm sau khi ông nói xin chào.

“Có chuyện gì vậy? Ông ốm à?”, gã quay sang hỏi.

“Không”, Evarts đáp gọn lỏn.

“Ông nói dối”, người bạn hồ nghi. Evarts biết rõ người đàn ông vẫn đứng đó nhìn chằm chằm vào ông, nhưng ông không quay lại. Ông tiếp tục đi, cảm thấy như đang bị ma quỷ còng tay. Nó càng trở nên tồi tệ hơn.

Khi về đến nhà trọ ông đi thẳng một mạch vào phòng, và không đi ăn tối nữa. Không ai tới hỏi ông tại sao. Ông không có người thân nào bên cạnh cả, và, thực sự ông là người có xu hướng cô lập, tự điều chỉnh những hành vi của mình và khó chịu trước những câu hỏi liên quan đến nó.

Ông bật đèn điện và gắng viết một lá thư. Ông có thể làm được điều này, hoàn toàn chịu ảnh hưởng bởi một thế lực nào đó. Có bàn tay khác di chuyển theo ông. Nhưng ông đã viết những gì chứ! Evarts nghi hoặc nhìn vào cuối trang viết đầu tiên. Những gì ông viết là một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với ông, cả từ ngữ và kí tự, nhưng nó lại rõ nghĩa khủng khiếp. Ông không thể tưởng tượng được những điều ông ta viết lại có những ý nghĩa gớm ghiếc như thế, và hơn nữa, nói về ý nghĩa trước đây ông chưa từng biết.

Ông xé mảnh giấy và ném nó vào thùng rác, rồi ông ta châm điếu và gắng hút thuốc, nhưng thay vì mùi thuốc lá là hương thơm của thuốc phiện xộc vào mũi ông. Ông vứt tẩu thuốc sang một bên và nhặt lại mẩu giấy ban tối, nhưng ông lại thấy sự kinh hoàng gấp đôi khi đọc chúng, như nhìn một hóa hai. Bình thường đã đủ kinh hoàng, nhưng có những nỗi khiếp đảm bên cạnh làm lu mờ chúng.

Ông vứt mảnh giấy xuống sàn nhà, và ngồi thừ trong giây lát ngẫm ngợi. Ông có một căn hộ khá sang trọng: một phòng khách lớn, phòng ngủ và buồng tắm; và ông sưu tập được những đồ nội thất đặc biệt và đồ cổ quý hiếm. Ông thích những vật báu phương Đông, và có một số loại thảm với mành rèm tốt của Ba Tư. Ngay phía trước ghế bành của ông là tấm thảm nguyện tuyệt đẹp, hình tam giác duyên dáng hướng về Holy City.

Bỗng nhiên ông nhìn thấy, đang quỳ ở đó, không phải người Hồi giáo mà là một người nhỏ thó trong chiếc áo choàng lộng lẫy, có những dải viền dài mảnh, và nó ngồi xổm, nhe nanh cười tượng Chúa bằng đồng. Đã quá đủ rắc rối.

“Chúa ơi!” Evarts tự lẩm bẩm và ngồi dậy. Ông với lấy chiếc áo choàng và mũ, vội vã khoác lên người và chạy ra khỏi ngôi nhà, luôn cảm giác một bàn tay khác nắm lấy chiếc vòng ngọc bích không mất đi. Ông vội vã chạy xuống đường tới văn phòng một vị bác sĩ, bạn của ông, và Evards lao vào không chút câu nệ.

Bác sĩ Van Brunt sống một mình. Ông vừa ăn tối xong và hút thuốc, ngả lưng lên chiếc ghế bành Morit sang trọng, rất hợp với thân hình của ông. Ông là người đàn ông thấp và có bộ râu vàng rậm rạp.

“Chúa ơi, tôi đã ngửi thấy mùi thuốc lá thay vì thứ nguyền rủa đó!”. Evarts mở đầu lời chào. Van Brunt nhìn ông, rồi nhảy lên sốt sắng “Trời đất, có chuyện gì vậy, ông bạn già?”.

“Tôi đoán, đó là một con quỷ”, Evarts trả lời, tự trấn an mình trong một vẻ tội nghiệp trên chiếc ghế gần nhất.

Bác sĩ Van Brunt vẫn đứng nhìn ông với một sự kinh ngạc.

“Trông ông giống một con quỷ”, ông ta phê bình.

“Tôi cũng cảm thấy như vậy”, Evarts buồn rầu đáp. Giờ đây ông đứng đó, mất hẳn sự tự tin. Ông cảm nhận có một lực kéo rõ rệt ở cổ tay, và hầu như không còn nhận ra chính mình, bởi có một đám mây mù của một người khác che lấp tâm trí ông.

Bác sĩ Van Brunt đứng trước mặt ông, cau có với tình trạng rối rắm này, tẩu thuốc của ông tỏa khói trên tay. Rồi bỗng nhiên ông nói: “Cái gì đe dọa cổ tay của ông thế?”.

“Tôi nghĩ nó bắt nguồn từ ma quỷ”, Evarts nói.

“Ông nhặt nó ở đâu?”.

“Tôi thấy nó trong đám tuyết ngay góc phố State, rồi tôi đã quá ngu dại để rước vào người những điều tồi tệ”.

“Sao ông không tháo nó ra, nếu nó khiến ông khó chịu?”.

“Tôi thử rồi. Nhưng lần này còn tệ hơn lần trước nữa. Nhìn đây”.

“Gì thế?”.

“Ông biết đấy tôi chưa bao giờ uống rượu, ngoại trừ thi thoảng một ly trong bữa tối, và thi thoảng một ly bia, hầu hết để cùng ông tâm sự.”

“Dĩ nhiên rồi. Sao thế?”

“Ông biết rằng tôi không phải một gã bợm rượu”.

“Dĩ nhiên tôi biết. Sao?”

“Sao ư?” Evarts nhìn bạn một cách cay đắng. “Vậy mà, tôi đã nhìn thấy những điều mà không ai, ngoại trừ những gã đàn ông đã bán linh hồn và trí khôn của họ cho rượu đấy, ông thấy không?”

“Ông không phải thế mà”.

“Đúng vậy. Hẳn tôi bị khùng. Chúa ơi, Van Brunt, hãy nói cho tôi biết nếu tôi thực sự bị khùng, và hãy làm điều gì đó giúp tôi với!”

Van Brunt lại ngồi xuống ghế và rít thuốc, nhưng ông không khi nào rời cặp mắt xanh tuyệt đẹp vào Evarts.

“Khùng ư, không đâu”, ông nói. “Ông có nghĩ rằng tôi lại biết một kẻ điên khi tôi nhìn hắn không? Ông đang lảm nhảm cái quái gì vậy? Và cái thứ màu xanh trên tay ông kia là cái quái gì chứ, sao không vứt nó đi?”

“Tôi đã bảo ông nó là cái vòng tròn đáy địa ngục khi quăng nó xuống!” Evarts kêu lên.

“Dù thế đi nữa, điều gì đã khiến ông đeo nó lên tay chứ?”.

“Tôi không biết nữa. Tôi nghĩ là do lũ quỷ”.

Bác sĩ Van Brunt nghiêng người nhìn sát vào chiếc vòng tay ngọc bích. “Nó là đồ tốt đấy”, ông nói. “Tôi chưa bao giờ thấy một cái giống này, ngoại trừ” – ông lưỡng lự một lát, và cố nhớ lại một điều gì đó. “Tôi nhớ ra nơi tôi đã nhìn thấy một cái như thế rồi”, ông quả quyết, “Gã đàn ông Trung Quốc chết tiệt ấy mở tiệm giặt cách đây năm năm, và đã trốn khỏi thành phố, có cái mẫu thế này. Tôi nhớ vào ngày nào đó, trước khi hắn tẩu thoát. Ông còn nhớ không?”.

“Tôi không biết có nhớ gì không nữa,” Evards đáp. Ông giận giữ giật mạnh cái vòng tay, rồi cảm nhận được nỗi kinh hoàng khủng khiếp, bởi những thứ vô hình ông cảm thấy dường như ngày càng rõ rệt hơn tại nơi giật.

“Sao không vứt nó đi?” Van Brunt nhắc lại. Ông tiếp tục hút thuốc và chăm chú quan sát người bạn.

“Chẳng phải tôi đã nói là như vậy sẽ tồi tệ hơn sao? Rồi hắn sẽ lại càng tới gần hơn, hừm!”.

“Hắn? Ai?”.

“Đừng hỏi tôi. Sao tôi biết được chứ? Tôi nghĩ là ma quỷ, hoặc một trong những người bạn của hắn”.

“Vớ vẩn!”.

“Thật đấy”.

“Ngồi xuống nào, Evarts, và hút thuốc đi, hãy loại những suy nghĩ vớ vẩn ấy ra khỏi đầu đi”.

“Loại nó ra khỏi đầu ư?” Evarts đau đớn nhắc lại. “Bỗng nhiên một ý nghĩ ập tới. “Xem đây, ông không tin là tôi đang nói thật ư,” ông nói.

“Tôi nghĩ có điều gì đó quấy rối ông,” Van Brunt nói.

“Tôi đã thấy. Ông hãy thử vật đó xem”.

Evarts giật mạnh tháo cái vòng tay ra. Ông nhợt nhạt hẳn đi khi ông làm vậy, và cơ hàm cứng lại, như thể đau đớn hay ghê tởm lắm. Ông kéo giãn chiếc vòng xanh ngọc bích lấp lánh về phía người bạn, Van Brunt cầm lấy nó, cười, dù có vẻ lo lắng trong ánh mắt của ông.

Van Brunt, một con người kì quặc, bởi ông ta cao lớn nhưng đôi tay nhỏ xíu. Cái vòng trượt vào cổ tay ông dễ như Evarts đã làm. Ông ngồi lặng yên trong giây lát. Ông lại rít một hơi thuốc, rồi đặt nó lên bàn. Khuôn mặt vàng đẹp đẽ của ông đã thay đổi. Ông giống như Evarts.

“Cái quái gì thế này?” ông nói.

“Đừng hỏi tôi. Tôi cũng khôn ngoan như ông vậy. Nhưng giờ đây ông biết tôi đau khổ nhường nào không.” Evarts yếu ớt nói.

“Có nghĩa là ông không cảm thấy điều đó khi không đeo chiếc vòng này?”.

“Thử đi”.

Van Brunt tháo vòng tay ra và đặt nó trên bàn cạnh điếu thuốc. Khuôn mặt ông ta co rúm lại. “Chúa ơi!” ông kêu lên.

“Giờ ông đã biết rồi đấy”.

“Chúa ơi! Tôi từng nghĩ những thứ ma quỷ không bao giờ xảy ra. Tôi đang lạc hậu như một con rận”.

Evards gật đầu.

“Ông cũng thấy những điều tương tự thế này chứ?”.

“Như thế nào?”.

“Ví như có sức mạnh vô hình còng lấy tay ông?”.

Evarts gật đầu.

“Ôi”, Van Brunt chầm chậm nói. “Tôi không nghĩ tôi là kẻ cuồng tín đâu, nhưng giờ tôi đã thực sự tin có ma quỷ.” Ông ta nhấc cái vòng lên. Evarts ra hiệu quở trách “Lạy Chúa! Hãy trả nó lại cho tôi,” giọng nói ông khàn đặc. “Tôi không nghĩ mình có thể chịu đựng thêm nữa”.

Van Brunt đưa chiếc vòng cho Evarts, ông trượt vòng trên tay; ngay lập tức khuôn mặt ông thể hiện sự dễ chịu hơn.

“Ông không cảm thấy vậy nữa - khi đeo nó lên à?” Van Brunt hỏi.

“Không, nhưng nó cũng đủ tệ lắm rồi. Còn ông?”.

Van Brunt nhăn mặt. “Tôi thì thấy như bị quỷ sứ còng tay”, ông nói.

Evarts ngồi xuống, với chiếc vòng đeo trên cổ tay. “Van Brunt, nghĩa là sao?” ông hỏi một cách vô vọng.

“Hãy nói cho tôi biết cái gì phía bên kia mặt trăng”.

“Ông thực sự không biết sao?”.

“Tôi không thể chẩn đoán bất kì trường hợp nào, nếu ông không bị khùng và lũ vi khuẩn tấn công tôi, vì tôi cũng bị khùng như ông”.

Evarts nhìn xuống cái vòng ngọc xanh lấp lánh trên cổ tay.

“Tôi ước có thể vứt nó đi được”, ông nói.

“Tôi cũng thế”.

Van Brunt bỗng nhiên đứng dậy. Ông là người ít nhạy cảm so với người khác, và cơ hàm của ông cứng lại, thậm chí hai tay ông siết chặt như sắp đánh nhau. “Xem đây, ông bạn già”, ông nói, “Chúng ta đã hứng đủ. Đã đến lúc dừng lại rồi. Ông đã ăn tối chưa?”

“Ông nghĩ sao?” Evarts hỏi.

“Ồ, ông phải ăn chút gì chứ, dù muốn hay không. Thật vô nghĩa !”

Van Brunt nhấn chuông báo trên bàn một cách quyết liệt và người đàn ông giúp việc bước vào. Gương mặt ông ta thoáng lộ vẻ ngạc nhiên khi nhìn người chủ và Evarts, nhưng ông không nói gì.

“Bảo Hannah xem còn chút súp nào từ bữa tối thì hâm nóng lên ngay, và mang đến bất cứ thứ gì còn lại. Ngài Evarts chưa ăn tối. Bảo chị ta làm càng nhanh càng tốt”.

“Vâng, thưa ngài,” người đàn ông nói.

“Còn nữa, Thomas”.

“Vâng, thưa ngài”.

“Lấy một chai vang đỏ, và mở nó”.

“Vâng, thưa ngài”.

Sau khi người đàn ông đi, Evarts và Van Brunt ngồi buồn rầu im lặng. Cả hai đều nhợt nhạt, và đều có biểu hiện của sự đau đớn và ghê sợ, như thể có mối liên hệ với những điều ghê tởm nào đó, nhưng Van Brunt vẫn ngậm chặt miệng. Ông thậm chí vẫn ngậm tẩu thuốc của mình.

Không lâu sau bữa tối được mang đến và ông đứng phắt dậy, đặt tay lên vai Evarts. “Nào, tới đây, ông bạn già,” ông nói. “Khi ông ăn chút bò nướng ngon lành này và thêm chút rượu vang đỏ trong dạ dày thì trí não ông sẽ gạt bỏ được đám sương mù này”.

“Những đám sương mù đang trong trí não ông, và ông có thịt bò ngon trong dạ dày,” Evarts trả lời cay đắng, nhưng ông đứng dậy.

“Nhưng tôi không có vang đỏ,” Van Brunt nói với vẻ hóm hỉnh khi hai người vào phòng ăn. Van Brunt có phòng độc thân, và một người hầu gái gọn gàng chăm nom. Ông chủ của cô liếc cái nhìn kinh ngạc vào sắc mặt biến đổi của cô.

“Cô nên lui đi, Katie,” Van Brunt nói. “Ngài Evarts và tôi tự phục vụ mình”.

Sau khi người hầu gái đi khỏi, Evarts tay chống cằm trên bàn và gục đầu thất vọng. “Tôi không ăn được”, ông rên rỉ.

“Ông có thể mà!”, Van Brunt đáp, và nhả khói thuốc. Evarts ăn như một cái máy, và hai người đàn ông cùng uống vang đỏ. Họ ngồi sát nhau để tiện cho việc phục vụ cho nhau.

Sau khi Evarts dùng xong bữa tối, hai người đàn ông nắp rượu vang, họ nhìn nhau. Evarts kinh hãi nhìn vật xanh biếc trên cổ tay. “Gì đây?” ông nói với một vẻ cay đắng.

Van Brunt gượng cười. “Hãy lôi điều đó ra khỏi tâm trí ông”.

“Ông có muốn đeo nó không,” Evarts trở nên cay độc.

Van Brunt cười. “Không, tôi có thể chịu được mà,” ông nói, “nhưng tôi có thể bị treo cổ nếu tôi tin rằng mình có thể chịu đau đớn hơn nữa trong địa ngục. Những thứ ác quỷ đang thay đổi tôi, ngược đời thật”.

“Nghĩa là sao?” David vặn hỏi.

“Không rõ nữa. Nếu cảm giác này kéo dài hơn nữa tôi sẽ thử ma túy cho cả hai chúng ta”.

“Không” – Evarts rùng mình.

“Không, sẽ không phải thuốc phiện, nếu tôi biết mình là ai”.

Khi nói, Van Brunt dồn sự chú ý vào ánh lửa, và Evarts biết ông ta đã nhìn thấy những điều mà ông từng thấy – nhân vật đáng sợ, ngồi phủ phục khoác bộ đồ thêu, và điệu cười của ma quỷ.

“Ông thấy chứ?” Evarts thở hổn hển.

“Đúng, tôi đã thấy, quỷ tha ma bắt! Tôi sẽ làm gì đó trước khi tình trạng này kéo dài”.

“Ông có nghĩ liệu rằng” -

“Ừ”

- “Có điều gì đó giữa chúng ta không?”

“Có. Đừng nói về nó nữa. Tôi sẽ sớm làm điều gì đó, nếu nó còn tiếp tục”.

Evarts nhanh chóng hành động. Ông nắm lấy con dao bên cạnh.

“Tôi sẽ làm điều đó ngay bây giờ!” ông hét lên, và cắm dao xuống.

Gương mặt Van Brunt trở nên trắng bệch. Ông ta gần như đồng thời nắm lấy một con dao khác và làm điều tương tự. Rồi hai người đàn ông thở dài và nhìn nhau.

“Nó đi rồi”, Evarts nói, gần như khóc nức nở.

Van brunt vẫn tái nhợt, nhưng ông đã lấy lại được sự thăng bằng nhanh hơn.

“Nó là gì vậy?” Evarts thở hổn hển. “Ôi! Nó là cái gì chứ? Tôi có bị điên không?”.

“Điên ư? Không đâu”.

“Tôi hỏi vậy là có lí do đấy. Nó liên quan đến một số người rất thân thiết với tôi. Tôi không kể nhiều về Agnes Leeds với ông, nhưng thực ra, tôi không nói nhiều với nàng; nhưng đôi lúc nghĩ rằng nàng – tôi đã nghĩ rằng tôi – khi sự thực hành của tôi tốt hơn một chút. Chúa ơi! Van Brunt, tôi có bị điên không chứ? Rằng hôn nhân là một điều vô vọng với chúng ta”.

“Ông không khùng hơn tôi đâu,” Van Brunt nói. Ông chăm chú quan sát người bạn của mình. “Hiện tại trên tay ông có vụ gì vậy?” ông hỏi.

“Ngày của cô gái; vụ án giết người, ông biết đấy”.

Van Brunt gật đầu. “Đúng vậy. Ông đã có một vụ án kinh hoàng trong tâm trí, và –nói đi, ông bạn già của tôi, cổ áo của ông có vẻ hơi tệ rồi đấy”.

“Đúng vậy, người giặt là của tôi trong tuần này khiến tôi thất vọng, và hôm nay tôi bận tới nỗi không có thời gian mua cái mới trước khi cửa hàng đóng cửa”.

“Ra vậy. Và ông ước có tiệm giặt Trung Quốc ở đây, tôi cá là vậy!”.

“Tôi không biết nữa nhưng tôi đã làm vậy,” Evarts thú nhận, với vẻ mặt thanh thản. Rồi gương mặt ông ta lại chùng xuống. “Nhưng cái vòng ngọc bích nào?” ông nói. Ông nhìn xuống cổ tay và hô to sung sướng, “Chúa ơi! Nó đã biến mất”, ông xúc động.

“Dĩ nhiên nó đã biến mất,” Van Brunt lạnh lùng. “Nó không bao giờ ở đó”.

“Nhưng ông – đã thấy nó?”.

“Tôi nghĩ tôi đã thấy. Ông bạn thân mến của tôi, toàn bộ sự việc rõ ràng là một vụ thôi miên; một điều gì đó cho Nghiên cứu Tâm linh. Ông đã quá bận rộn với công việc của mình, những lo lắng về một con quỷ, và ông tự thôi miên mình, và rồi – ông đã thôi miên tôi”.

Evarts ngồi nhìn Van Brunt, với cái nhìn của một người đang cố gắng thay đổi một góc tinh thần. Rồi cánh cửa bật mở, và người giúp việc của Van Brunt lao vào, tái nhợt và như khó thở.

“Bác sĩ!” ông ta hổn hển.

“Gì thế?”

“Ôi, ngài Van Brunt, có một người đàn ông Trung Quốc chết ngay trước cửa văn phòng mình, và trên người hắn có hai vết đâm, hắn đeo chiếc vòng màu xanh trên tay!”.

Bác sĩ Van Brunt trở lên tái nhợt. “Thật vô lí!” ông nói.

“Đúng vậy, thưa ngài”.

“Hừm, tôi sẽ tới.” Van Brunt nói với giọng đều đều. “Ông hãy chạy đi báo công an, Thomas. Có thể hắn chưa chết. Tôi sẽ tới”.

“Hắn đã chết cứng!” người đàn ông nói trong sự kích động khi vội vã chạy đi.

“Ôi, Chúa ơi! Evarts nói. “Nếu chúng ta – nếu tôi – giết hắn, còn Agnes thì sao?”

“Tôi có thể nói nhanh chúng ta đã giết hắn”, Van Brunt nói. Cả hai người đều vội vã ra khỏi phòng.

Đám đông đã vây quanh điều kinh khủng ấy, và đồng phục cảnh sát lấp lánh quanh họ. Thực tế là người đàn ông Trung Quốc đã chết kia xảy ra trước cửa văn phòng ông không quan trọng với bất cứ ai có mặt ở đó. Không có nghi vấn nào cho ông và Evarts. Một số người đàn ông cầm đèn khi Van Brunt kiểm tra xác chết. Điều này diễn ra nhanh chóng, và xác chết được đem đi trên chiếc xe tang, cùng đám đông theo sau.

Sau đó Van Brunt và Evarts đi vào văn phòng. Evarts nhìn bạn mình, và ông trắng bệch như người chết.

“Sao thế này?” ông lắp bắp.

Van Brunt cười, siết chặt vai ông ta. “Sẽ ổn thôi, bạn già ạ.” Ông nói “Con dao của tôi đã hành động”.

“Nhưng” – Evarts lắp bắp, “Tôi đã đâm thủng trái tim”.

“Nếu là ông thì sao? Con dao của ông không ở gần tim. Còn của tôi đã cắt gọn trái tim. Tôi lao về vật phía trước. Ông nhớ không?”.

“Ông chắc chứ?”.

“Tôi biết mà. Giờ đây ông hãy nghỉ ngơi đi”.

“Nhưng – còn ông?” Evarts nói với giọng ngại ngần, ông cố trấn áp niềm vui.

Van Brunt bật cười. “Đó là một thứ độc hại,” ông nói, “Ông có nhìn thấy khuôn mặt hắn không?” ông rùng mình, “Loài người đã giết chết lũ nham hiểm,” ông nói thêm.

“Nhưng ông giải thích về điều này thế nào?”

“Tôi không giải thích gì cả. Tất cả mối bận tâm của ông là ông không gây ra chuyện đó, còn tất cả mối bận tâm của tôi là tôi có liên quan tới những vết thâm đó”.

Ông vừa nói vừa chuẩn bị một loại bột đưa cho Evarts. “Nào, giờ hãy về nhà thôi, ông bạn già. Hãy tắm nước nóng, và nữa, nhớ ngủ ngon và mơ về Agnes Leeds nhé”.

Sau khi Evarts đi Van Brunt đứng lặng im một lúc. Khuôn mặt ông bỗng trở nên ghê sợ, và tất cả những ánh sáng giả tạo đều biến mất. Ông nhấn chuông gọi người đàn ông mang đến chai rượu cổ khác. Khi có rượu người đàn ông tự rót cho mình và cho người đàn ông một ly. “Ông cũng uống một lượt, Thomas”. Ông nói.

Người đàn ông đang run rẩy từ đầu đến chân, chăm chú nhìn ông chủ của mình.

“Ngài đã nhìn thấy khuôn mặt của nó chứ?” ông ta thì thào.

“Tốt nhất hãy loại nó ra khỏi tâm trí”.

‘Trông hắn giống một con quỷ. Tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ gặp hắn nữa,” người đàn ông nói. Ông uống rượu và đi ra ngoài.

Van Brunt lại ngồi trên chiếc ghế Morit cũ, và châm thuốc. Ông nhả khói, dừng lại và nhìn trực diện vào bản thân với vẻ kinh hoàng. Khuôn mặt người đàn ông Trung Quốc đã chết trở lại sống động trước mắt ông.

“Tạ ơn Chúa, ông ấy không biết rằng mình đã làm vậy!” ông nói thầm, và gương mặt vàng đẹp đẽ của ông thoáng hiện một nụ cười rạng rỡ.

NGUYỄN THỊ THÙY LINH dịch từ tiếng Anh

 

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nhân vật "Vườn Maria" và số phận của họ

Nhân vật "Vườn Maria" và số phận của họ

Tôi đến nước Đức được hai năm thì nước này thống nhất. Rồi tôi thất nghiệp, khi nhà máy Cộng hoà dân chủ Đức được bán cho Ấn Độ.

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)