Văn chương của Abdulrazak Gurnah: Bản sắc và sự di dời

Thứ Năm, 07/10/2021 23:13

Để chọn người chiến thắng giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã quan sát cách chủ đề về sự gián đoạn của người tị nạn xuyên suốt tác phẩm của ông.

Tiểu thuyết gia Abdulrazak Gurnah.

 

ABDULRAZAK GURNAH ĐOẠT GIẢI NOBEL 2021 VÌ ĐIỀU GÌ?

Tiểu thuyết gia Abdulrazak Gurnah sinh năm 1948 trên đảo Zanzibar, ngoài khơi Đông Phi. Ông đến Anh khi là một sinh viên vào năm 1968, hoàn thành việc học đại học, thạc sĩ và tiến sĩ tại đây. Ông là Giáo sư giảng dạy Văn học tại Đại học Kent cho đến khi nghỉ hưu gần đây. Ông là Phó tổng biên tập của tạp chí Wasafiri.

Ba cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, Memory of Departure (tạm dịch: Kí ức khởi hành; 1987), Pilgrims Way (tạm dịch: Con đường hành hương; 1988) và Dottie (Dottie; 1990), ghi lại trải nghiệm của người nhập cư ở Anh đương đại từ các góc độ khác nhau. Cuốn tiểu thuyết thứ tư của ông, Paradise (tạm dịch: Thiên đường; 1994), lấy bối cảnh ở Đông Phi thuộc địa trong Chiến tranh thế giới thứ Nhất và đã lọt vào danh sách rút gọn cho Giải thưởng Sách hư cấu. Admiring Silence (tạm dịch: Sự im lặng ngưỡng mộ; 1996) kể về câu chuyện của một thanh niên rời Zanzibar và di cư đến Anh, nơi anh ta kết hôn và trở thành một giáo viên. Chuyến trở lại quê hương của anh ấy 20 năm sau ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ của anh ấy đối với cả bản thân và cuộc hôn nhân của mình. By the Sea (tạm dịch: Gần biển; 2001), được kể lại bởi Saleh Omar, một người xin tị nạn lớn tuổi sống tại một thị trấn ven biển của Anh.

Abdulrazak Gurnah sống ở Brighton, East Sussex. Tiểu thuyết gần đây của ông là Desertion (tạm dịch: Sự ruồng bỏ; 2005), lọt vào danh sách nhận Giải thưởng Nhà văn Khối thịnh vượng chung năm 2006 và The Last Gift (tạm dịch: Món quà cuối cùng; 2011). 

Tiểu thuyết gia Abdulrazak Gurnah đã được công bố là người chiến thắng giải Nobel Văn học năm 2021 “vì sự thâm nhập không khoan nhượng và nhân ái của ông đối với những tác động của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa”. Thông báo được đưa ra trong một buổi lễ được tổ chức tại Stockholm bởi Viện Hàn lâm Thụy Điển vào thứ Năm ngày 7 tháng 10.

Thư kí Hội đồng Nobel và Ủy ban Nobel công bố nhà văn đoạt giải Nobel Văn học 2021.

Để chọn người chiến thắng giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã quan sát cách chủ đề về sự gián đoạn của người tị nạn xuyên suốt tác phẩm của ông. Với tiếng Swahili là ngôn ngữ đầu tiên của mình, Gurnah bắt đầu viết khi 21 tuổi sống lưu vong ở Anh, nhưng cuối cùng đã biến tiếng Anh thành “công cụ văn học” của mình.

Abdulrazak Gurnah có ý thức phá vỡ quy ước, thay đổi quan điểm thuộc địa để làm nổi bật quan điểm của các cộng đồng bản địa. Vì vậy, cuốn tiểu thuyết Desertion (2005) của ông về việc ngoại tình đã trở thành một sự mâu thuẫn thẳng thừng với cái mà ông gọi là “mối tình lãng mạn”.

“Sự cống hiến của ông đối với sự thật và sự chán ghét của ông ấy đối với sự đơn giản hóa rất đáng chú ý. Tiểu thuyết của ông rút ra khỏi những mô tả rập khuôn và mở ra cái nhìn của chúng ta về một Đông Phi đa dạng về văn hóa, xa lạ với nhiều người ở các nơi khác trên thế giới.”

“Trong vũ trụ văn học của Gurnah, mọi thứ đều chuyển dịch - kí ức, tên tuổi, danh tính. Sự khám phá không ngừng được thúc đẩy bởi niềm đam mê trí tuệ hiện diện trong tất cả các cuốn sách của ông, và nổi bật không kém bây giờ trong Afterlives (2020), như lúc ông ấy bắt đầu viết văn khi là một người tị nạn 21 tuổi.”

Trên đây là những lời nhận định của các thành viên Viện Hàn lâm Thụy Điển về văn chương của Abdulrazak Gurnah.

Anders Olsson, chủ tịch ủy ban trao giải cho biết Gurnah “được công nhận rộng rãi là một trong những nhà văn thời hậu thuộc địa nổi tiếng hơn thế giới”. Ông nói thêm: “Trong cách xử lí của Abdulrazak Gurnah về trải nghiệm tị nạn, trọng tâm là bản sắc và hình ảnh bản thân. Các nhân vật tìm thấy mình trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa, giữa cuộc sống bị bỏ lại phía sau và cuộc sống mai sau, đối mặt với sự phân biệt chủng tộc và định kiến, buộc bản thân phải im lặng trước sự thật hoặc sáng tạo lại tiểu sử để tránh xung đột với thực tế.”

“Trong cách xử lí của Abdulrazak Gurnah về trải nghiệm tị nạn, trọng tâm là bản sắc và hình ảnh bản thân. Các nhân vật tìm thấy mình trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa, giữa cuộc sống bị bỏ lại phía sau và cuộc sống mai sau, đối mặt với sự phân biệt chủng tộc và định kiến, buộc bản thân phải im lặng trước sự thật hoặc sáng tạo lại tiểu sử để tránh xung đột với thực tế.”

- Anders Olsson, Chủ tịch ủy ban trao giải Nobel -

 

 

VẤN ĐỀ BẢN SẮC VÀ SỰ DI DỜI TRONG VĂN CHƯƠNG

ABDULRAZAK GURNAH

Các tác phẩm của Abdulrazak Gurnah chịu sự chi phối bởi các vấn đề về bản sắc, sự di dời và cách chúng được định hình bởi di sản của chủ nghĩa thực dân và chế độ nô lệ.

Các nhân vật hư cấu của Gurnah liên tục xây dựng một bản sắc mới hơn cho chính họ để phù hợp với môi trường mới của họ. Họ không ngừng thương lượng giữa cuộc sống mới và quá khứ của họ. Tất cả các câu chuyện của Gurnah đều dựa trên những ảnh hưởng tiêu cực mà việc di cư đến một bối cảnh địa lí và xã hội mới gây ra cho các nhân vật của mình. Đối với Gurnah, ông cũng giống như các nhân vật của mình, đã trải qua cuộc di cư, rời khỏi quê hương Zanzibar để đến Anh khi mới 17 tuổi. Danh tính là một điều luôn thay đổi và các nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông thường bị thay đổi danh tính cố định khi di cư tới một môi trường mới. Điều đó giống như Nhà phê bình văn hóa Paul Gilroy đã chỉ ra: “Khi bản sắc quốc gia và dân tộc được thể hiện thuần khiết, thì việc tiếp xúc với sự khác biệt có khả năng dẫn tới sự pha loãng, làm ảnh hưởng đến sự tinh khiết quý giá và còn có khả năng bị ô nhiễm. (Between Camps, p.105). Các nhân vật chính trong tiểu thuyết của Gurnah thể hiện sự ô nhiễm danh tính của người khác thông qua sự khác biệt của họ. Khi người kể chuyện giấu tên trong Admiring Silence (1996) đến gặp bố mẹ của bạn gái để nói với họ rằng cô ấy đang mang thai, họ nhìn anh ta với sự căm ghét vì giờ đây con gái họ sẽ phải sống với một loại người dơ bẩn trong suốt phần đời còn lại. Cô ấy sẽ không thể trở thành một phụ nữ Anh bình thường nữa, dẫn đến một cuộc sống Anh phức tạp giữa những người Anh.” (p.85).

Cuốn sách Afterlives (tạm dịch: Thế giới bên kia) của Abdulrazak Gurnah được trưng bày. Ảnh: AFP. 

Tác phẩm của Abdulrazak Gurnah cũng mang lại thách thức tương tự cho độc giả của mình. Là một người nhập cư đến một đất nước xa lạ, Gurnah ý thức rằng “đối với một số độc giả tiềm năng của tôi, tôi phải đoán trước một số cách nhìn nhận của họ đối với mình. Tôi ý thức được rằng, mình sẽ phải đại diện cho chính mình, một người xuất thân từ một đất nước khác di cư đến nước Anh, đứng trước những độc giả vốn coi họ là những chuẩn mực, tự do về văn hóa và sắc tộc, không có sự khác biệt. Tôi băn khoăn không biết mình cần kể chuyện thế nào, vận dụng kiến thức bao nhiêu, cách tường thuật thế nào cho dễ hiểu...” (Paul Gilroy, Writing and Place, p.28)

Di cư và di dời, cho dù từ Đông Phi sang Châu Âu hay trong Châu Phi, đều là trọng tâm trong tất cả các tiểu thuyết của Gurnah. Memory of Departure (1987) phân tích lí do của nhân vật chính quyết định rời bỏ ngôi làng nhỏ ven biển châu Phi của mình. Pilgrim’s Way (1988) miêu tả cuộc đấu tranh của một sinh viên Hồi giáo từ Tanzania chống lại văn hóa cấp tỉnh và phân biệt chủng tộc của thị trấn nhỏ nước Anh nơi anh ta di cư đến. Tiểu thuyết Paradise (1994), lọt vào danh sách ngắn cho Giải Sách hư cấu năm 1994, giữ bối cảnh châu Phi trong câu chuyện. Tiểu thuyết khám phá hành trình của Yusuf từ ngôi nhà nghèo của cha mẹ anh đến dinh thự giàu có của chú Aziz, người mà anh đã cầm đồ để trả nợ cho cha mình. Người kể chuyện ẩn danh của Admiring Silence đã xây dựng một cuộc sống mới cho chính mình ở Anh, thoát khỏi khủng bố nhà nước đang ngự trị ở quê hương Zanzibar của anh. Anh đã kể những câu chuyện lãng mạn về quê hương của mình cho vợ và bố mẹ cô ấy, những điều đã tan vỡ khi anh phải trở về châu Phi. Trong By the Sea (2001), Saleh Omar, một người xin tị nạn lớn tuổi có những đặc điểm khác biệt vừa đến Anh, và Latif Mahmud, một giảng viên đại học đã ở Anh vài thập kỉ, họ gặp nhau để khám phá những câu chuyện trong quá khứ và cho nhau những kết nối bất ngờ.

Tình trạng đến từ nơi này nhưng sống ở nơi khác rõ ràng là chủ đề trong toàn bộ tiểu thuyết của Gurnah. Tuy nhiên, nhà văn tuyên bố rằng ông không chỉ ghi lại kinh nghiệm tự truyện của mình mà đó chính là “một trong những câu chuyện của thời đại chúng ta”: “Đi du lịch xa nhà cung cấp khoảng cách và viễn cảnh, một mức độ biên độ và sự giải phóng. Nó tăng cường hồi ức, đó là vùng nội địa của nhà văn” (Writing and Place, p.27). Sự kì lạ cũng làm tăng cường “ý thức về một cuộc sống bị bỏ lại phía sau, về những con người bị bỏ rơi một cách ngẫu nhiên và vô ý thức, một nơi và một cách bị lạc” mãi mãi (Writing and Place, p.26). Cảm giác tương tự tràn ngập các nhân vật trong tiểu thuyết của Gurnah, những người nhìn lại quá khứ của họ với cảm giác chua xót và tội lỗi lẫn lộn cho những gì họ đã để lại.

Thông thường, việc di chuyển đến một nơi khác dẫn đến việc các nhân vật của Gurnah xóa bỏ mọi liên hệ với gia đình trước đây của họ. Yusuf buồn bã tự hỏi 'liệu cha mẹ anh có còn nghĩ đến anh không, nếu họ vẫn còn sống, và anh biết rằng anh sợ biết sự thật tàn nhẫn đó. Anh không thể cưỡng lại những kí ức khác trong trạng thái này, và những hình ảnh về việc anh ta bị bỏ rơi đã đến với anh ta một cách dồn dập '(Paradise, p.174). Kể từ khi đến Anh qua Đông Đức, Latif Mahmud chưa bao giờ tìm cách liên lạc với gia đình bị bỏ lại ở Zanzibar. Mặc dù anh ấy muốn nhìn về phía trước, song anh ấy thấy mình luôn luôn nhìn lại, “Chọc ngoáy vào khoảng thời gian rất lâu trước đây và giảm dần các sự kiện khác kể từ đó, các sự kiện luôn rình rập tôi và ra lệnh cho mọi hành động bình thường... mọi kí ức đều rút máu. Đó là một nơi khô cằn, vùng đất của kí ức, một nhà kho mờ mịt với những tấm ván mục nát và những chiếc thang rỉ sét...” (By the Sea, p.86)

Paul Gilroy lập luận rằng “những thù hận và bạo lực mới nảy sinh không phải như trước đây đã từng xảy ra, từ kiến ​​thức nhân học được cho là đáng tin cậy về danh tính và sự khác biệt của người đó, mà là từ vấn đề mới lạ là không thể xác định được sự khác biệt của người đó trong cái chung... Bất kì dấu vết nào đáng lo ngại của sự lai tạp phải được loại bỏ khỏi trong một xã hội cứng nhắc, được tẩy trắng của nền văn hóa không thể tinh khiết (Between Camps, pp.105-106). Sách của Gurnah là những suy ngẫm về sức mạnh đáng lo ngại của sự lai tạo và những thách thức mà nó mang lại đối với các giả định về chủng tộc trong viễn cảnh thuộc địa. "người kể chuyện của Admiring Silence nói," chúng tôi bị thực dân hóa, đồng hóa, hội nhập, chịu sự va chạm của văn hóa, để giành được một lá cờ đất nước và một bài quốc ca, rồi trở nên suy đồi, thiếu đói và kêu than về tất cả. Đó là những việc tốt mà chúng tôi thực hiện hết bằng khả năng khiêm tốn của mình, nhưng không đủ để làm hài lòng những người yêu nước quá nhạy cảm, những người cảm thấy bị những kẻ lạ mặt mà họ coi là nguy hiểm cuồng loạn gây ra.” (p.16). Những người di cư, những kẻ lạc loài, cho dù là khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, đạo đức hoặc xã hội, đều được khắc sâu vào trung tâm tiểu thuyết của Abdularazak Gurnah.

BÌNH NGUYÊN

Tư liệu tham khảo:

  1. https://www.independent.co.uk/arts-entertainment/books/news/nobel-prize-literature-2021-winner-abdulrazak-gurnah-b1933991.html
  2. https://www.nytimes.com/2021/10/07/books/nobel-prize-literature-abdulrazak-gurnah.html
  3. Luca Prono, literature.britishcouncil.org

 

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
“Lính trơn” và những câu chuyện về tướng Nguyễn Chơn cùng đồng đội

“Lính trơn” và những câu chuyện về tướng Nguyễn Chơn cùng đồng đội

Tôi chọn cách viết chân thực nhất với vốn sống là những kỉ niệm khó quên của bản thân trong chiến tranh, về những đồng đội gần gũi nhất... (MAI TIẾN NGHỊ)

"Ông già hồn nhiên" và "Căn hộ thế chấp"

"Ông già hồn nhiên" và "Căn hộ thế chấp"

Nhân vật là một vị đại tá quân đội vốn gốc nông dân nhà quê, nghỉ hưu ở lại Hà Nội, hồn nhiên trước những mánh khóe cạm bẫy thị thành... (MAI NAM THẮNG)

"Felicita" - hạnh phúc

"Felicita" - hạnh phúc

Đó là tên một ca khúc nổi tiếng của cặp đôi danh ca người Ý Al Bano và Romina Power... (PHAN VIỆT HÙNG)

Tiếng gọi Chư Tan Kra

Tiếng gọi Chư Tan Kra

Hơn nửa thế kỉ trôi qua, những người lính may mắn được trở về sau cuộc chiến đã bước sang tuổi thất thập, vẫn trăn trở khôn nguôi về đồng đội còn nằm lại chiến trường... (LỮ MAI)