Người lính già của tôi

Thứ Hai, 19/10/2026 06:43

.LÂM TRẦN

Bố tôi là bộ đội. Một người lính đi qua hai cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc: Chống Pháp, chống Mĩ và sẵn sàng lên biên giới phía Bắc trong cuộc tổng động viên năm 1979.

Người lính già – bố trong tôi là anh Bộ đội Cụ Hồ đẹp nhất, thân thương, gần gũi nhất, dù trong quân ngũ hay trong cuộc sống đời thường vẫn giữ vẹn nguyên phẩm chất sáng ngời của người lính mà tôi từng biết. Tôi yêu anh bộ đội bố suốt thời thơ ấu, tôi tự hào về ông và học hỏi từ ông bao bài học cuộc đời sâu sắc. Lối sống, suy nghĩ, việc làm của tôi lúc bé thơ cho đến khi trưởng thành chịu ảnh hưởng từ bố rất nhiều.

Bố là người lính mà tôi ngưỡng mộ nhất, vì thế tôi cũng dành tình cảm đặc biệt những anh bộ đội khoác trên mình màu xanh áo trận. Tôi có thể xem đi xem lại không bao giờ chán những thước phim tài liệu, những bộ phim truyền hình về người lính Việt Nam. Ngày bé, tôi thuộc lòng những câu chuyện về người lính trong những cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội bố tôi mang về. Tôi mê tiểu thuyết, truyện, thơ về lính cũng từ những trang văn nghệ đó. Khi biết làm thơ, tôi dành cho người lính những vẫn thơ tràn đầy tình cảm, sự tin yêu, ngợi ca như tình yêu tôi dành cho người bố vĩ đại của mình.

Tôi yêu màu áo xanh lá ngụy trang đến nỗi, ở đâu thấy màu xanh ấy ở đấy tôi thấy thật bình yên. Mỗi lần xem truyền hình tôi mê mải ngắm, nhất là trong những bản tin về thiên tai, bão lũ, dịch bệnh,... thấp thoáng bóng áo xanh là tim tôi ngân lên niềm cảm phục và tự hào. Những chiều đi làm về bắt gặp những chú lính, từ thao trường trở về, cũng có thể là đi giúp dân thu hoạch mùa màng. Giữa phố phường tấp nập, bon chen màu áo xanh ấy hiện lên thật đẹp, điềm đạm, gần gũi mà trang nghiêm, quy cũ. Không ồn ào, phô trương cứ lặng lẽ bước đi giản dị, khiêm nhường như chính nhiệm vụ mà các cháu vừa làm. Tôi thích thú, tò mò tìm hiểu ý nghĩa từng màu áo lính, từng ngôi sao nhỏ, những chiếc gạch ngang, viền vàng trên cầu vai áo để hiểu hơn về cấp bậc, quân hàm, về quân chủng, binh chủng, ... tất cả đều từ niềm tin yêu và tình cảm đặc biệt tôi dành cho cha mình.

Bố tôi là một người lính đặc biệt. Một người lính không biết chữ khi tham gia quân ngũ nhưng rời quân ngũ với quân hàm Trung Tá. Một người lính suốt đời miệt mài học tập, trau dồi phẩm chất, rèn rũa bản thân, dù ở cương vị nào, trong việc làm nào, ông cũng luôn là tấm gương đẹp nhất trong mắt tôi.

Ông tham gia quân ngũ năm 1946 khi chưa tròn mười chín tuổi. Nỗi đau mất cha mẹ trong nạn đói 1945 cùng lòng căm thù giặc sâu sắc, nỗi khát thèm được biết chữ, được thoát khỏi cuộc sống nay ở đợ cho nhà này, mai cho nhà khác, chăn bò, chăn ngừa làm ruộng, làm đồi mà quyết tâm vào bộ đội. Bố kể rằng, ngày khám nghĩa vụ ông không đủ cân nên đã bí mật bỏ vào túi quần những viên sỏi nhỏ, rồi cố uống một chai nước lớn. Nhờ vậy, ông trúng tuyển. Tôi thích thú về điều ấy lắm, vì đó là lần nói dối duy nhất tôi biết về cha.

Như bao người lính thời chống Pháp, chống Mĩ, cuộc đời ba mươi tư năm quân ngũ của bố là một hành trình dài qua bao gian khổ, mất mát, hi sinh. Những cánh rừng Tây Bắc mùa đông giá rét, những cánh rừng Tây Nguyên bom đạn giày xéo, chất độc da cam, bom đạn kẻ thù rải thảm. Nhữn đồng đội của cha nằm xuống. Có người ngay khi vừa hi sinh đồng đội đã không tìm thấy từng mảnh da thịt. Bố biết điều đó rất rõ vì ông từng chứng kiến bao đồng đội mình hi sinh như thế. Mỗi khi xem chương trình truyền hình, phát thanh tìm mộ liệt sĩ, ông lại bảo với chúng tôi: Có những người không bao giờ còn hài cốt, bởi xương thịt đã tan vào đất ngay khi máy địch vừa bắn phá. Và ông trầm ngâm, ánh mắt chùng xuống như đang nhìn thấy từng đồng đội mình hi sinh trong những năm khói lửa ấy. Chiến tranh tàn khốc không chỉ cướp đi của ông những năm tháng tuổi xuân mà còn cướp đi hai người con trai nhỏ khiến ông khi rời quân ngũ, tóc đã bạc màu vẫn còn vất vả nuôi đàn con mọn.

Cuộc đời binh nghiệp của bố tôi thật vẻ vang và cũng đầy gian nan. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hầu hết các chiến dịch, từ Biên giới 1950, Đông xuân 1953 – 1954 và đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Hòa bình lập lại, ông vào Nam tiếp tục chiến đấu. Đơn vị của ông đi bộ xuyên Việt suốt ba tháng ròng mới vào tới chiến trường Nam Bộ. Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Mậu Thân 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bố đều tham gia.

Ông ở Sư đoàn 304, sau này ông về làm chính trị viên tại trường Kĩ thuật Thông tin liên lạc. Tôi không hiểu lắm về các sư đoàn, quân đoàn, hay quân chủng, binh chủng nhưng Sư đoàn 304 của bố là tôi nhớ nhất. Trong lí lịch đảng viên, lí lịch cán bộ của bố ghi rõ từng thời kì trong quân ngũ, từng đơn vị chiến đấu mà bố tham gia. Đêm đêm, bố vẫn dành thời gian xem hết chương trình Quân đội Nhân dân mới ngủ. Mỗi dịp Quốc khánh, những lễ kỉ niệm lớn khi Nhà nước tổ chức duyệt binh bố bảo chúng tôi đón xem. Bố chỉ cho chị em tôi khối lính thông tin trên lưng đeo thiết bị liên lạc có chiếc râu bắt tín hiệu như chiếc chong chóng nhỏ trên đầu - biểu tượng của đơn vị bố. Nhờ đó, tôi hiểu thêm và yêu thêm một trong những nhiệm vụ đặc biệt của người lính – nhiệm vụ thông tin liên lạc.

Ngày trở về, bố mang theo rất nhiều huân, huy chương, huy hiệu cao quý. Những tấm huân, huy chương, huy hiệu quý giá mà ông đổi bằng bao năm tháng gian khổ, hi sinh cùng đồng đội suốt một đời người lính. Bố thường chỉ đeo phần cuống cho gọn nhẹ, trong khi chị em tôi thì muốn bố cài tất cả lên ngực áo, để chúng tôi tự hào như nhìn thấy nhiều sĩ quan già trên truyền vẫn đeo mỗi dịp đại lễ. Nó lấp lánh, leng keng vui tai và rất đẹp mắt.

Khi đó, bố sẽ giải thích cho chúng tôi hiểu ý nghĩa, giá trị của mỗi tấm huân, huy chương khác nha. Bố bảo rằng chỉ cần đeo những chiếc cuống nhỏ bé đó thôi, cũng đã thể hiện rõ chiến công và cấp bậc rồi. Điều đó, sau này tôi mới biết, trong quân đội có quy định rõ ràng về cấp bậc, quân hàm và những người lính dễ dàng nhận ra cấp bậc của nhau để chào hỏi tôn nghiêm. Bố giải thích rất nhiều nhưng vì còn bé nên tôi không nhớ hết, cũng không hiểu biết nhiều chỉ mê mẩn nhìn ngắm kiểu dáng, màu sắc, kí hiệu, kiểu chữ ghi trên đó mà ngưỡng mộ những nỗ lực, những chiến công của bố.

Những Huân chương Quân công, huân chương chiến công, huân chương kháng chiến hạng Nhất, Nhì, Ba, huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ, huy hiệu dũng sĩ diệt Mĩ,... ông đều có cả. Những tấm huy chương quý giá, biểu tượng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng,.. bố thường gắn trên ngực áo dạ sĩ quan màu cỏ úa, hay bộ pho tá màu xanh kèm theo chiếc mũ lưỡi chai có gắn ngôi sao nhỏ. Hai bộ quân phục bố thường mặc nhất mỗi khi có dịp đại lễ. Khi đó, trông bố thật đẹp và tôi tự hào về ông nhiều lắm.

Tôi tự hào về bố không chỉ bởi những tấm huân huy chương ông mang về. Tôi yêu bố bởi những hành động, việc làm thường ngày vẫn mang phong cách, phẩm chất của người lính Cụ Hồ. Bố tôi hiền lắm, hiểu biết và khiêm nhường, giàu tình cảm nhưng cũng rất thẳng thắn và nghiêm khắc. Trong từng lời nói, việc làm bố dạy chúng tôi, cách ông cư xử với mọi người xung quanh khiến tôi nhận ra phẩm chất, cốt cách lính trong bố không bao giờ nhạt phai dù rời quân ngũ và sống cùng gia đình hơn hai mươi năm ông mới về bên ông bà nội ngoại.

Ông là một người lính nhiều chiến công, giàu đức hi sinh và cũng là người lính có hoàn cảnh gia đình đặc biệt. Bố mẹ sinh ba chị em tôi khi đã bước vào tuổi xế chiều. Sau mười năm đi B (từ 1964 đến 1975) bố tôi trở về trong niềm hân hoan của niềm vui non sông thu về một mối. Hạnh phúc của người lính thắng trận là được hồi hương sau bao tháng ngày vào sinh ra tử. Ông từ chối tất cả những đặc quyền được hưởng, một mảnh đất nơi thành phố Vũng Tàu xinh đẹp, cuộc sống đủ đầy nơi Sài Gòn hoa lệ. Mười năm bằn bặt không thư nhà vì đơn vị ông thường xuyên thay đổi địa chỉ. Ngày trở về ông hay tin dữ: hai cậu con trai đầu lòng vì bạo bệnh mà qua đời khi vừa lên bảy. Chỉ còn lại cô con gái chưa từng biết mặt cha dù đã học lớp 6. Lạ lẫm và xa cách. Năm mươi tuổi từ chiến trường khói lửa bước ra, mất mát đau thương buộc ông phải làm lại từ đầu. Bốn năm ba đứa con nhỏ lần lượt ra đời: 1976, 1977, 1979. Cha già, con mọn. Năm 1982, bố tôi về hưu khi đàn con sau giải phóng mới là những đứa trẻ lên năm lên ba. Tuổi thơ của chúng tôi là những tháng ngày đói khổ, thiếu thốn đủ đường. Thời bao cấp mà lương bố đôi khi được trả bằng lúa mạch, lốp xe, bằng đường bằng gạo. Thiếu thốn đủ bề nhưng bố không hề than vãn. Ông Trung tá thường ngày vẫn ra đồng làm ruộng, cấy cày, gánh phân, tát nước, kéo lúa,.. thành thạo như người một người nông dân chính hiệu. Ai thấy bố cũng vừa thương vừa kính trọng. Trong làng, mọi người noi gương bố mà dạy con cái. Nhìn bố sống mà làm theo. Họ kính trọng bố tôi vì tác phong quân đội nhưng rất gần gũi.

Bố bảo ban chị em tôi từ những điều nhỏ nhất, ngồi vào mâm cơm phải nhìn mâm, nhìn bát. Gắp thức ăn phải lễ phép, gọn gàng. Để phần cơm người sau như thế nào để người ăn không cảm thấy tủi thân vì ăn thừa cơm nguội. Bố dạy chúng tôi sống một đời ngay thẳng, luôn căn dặn kĩ càng “đói cho sạch, rách cho thơm”. Bố dạy tôi phương châm sống gần gũi mà sâu sắc: “Quan trọng không phải mình đứng ở vị trí nào trong xã hội, mà quan trọng là mình đứng ở vị trí đó như thế nào”. Câu nói ấy theo tôi suốt cuộc đời để luôn cố gắng, nỗ lực, luôn rèn rũa mình thành người có ích, sống bao dung và trách nhiệm.

Rồi bố mắc bạo bệnh, căn bệnh mà theo bố có nguyên nhân từ những năm ở chiến trường hít phải nhiều khói độc, thuốc súng. Bệnh xơ gan. Bố được các bác sĩ ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tận tình chữa trị. Sau ba tháng điều trị, bố được xuất viện. Bố bảo với cả nhà, bác sĩ đã cắt bỏ phần gan bị xơ nhưng y học hiện tại chỉ làm được vậy. Nếu bệnh phát lại, bố sẽ ra đi. Không đầy ba tháng sau, bệnh tái phát. Bố biết mình không thể qua khỏi. Những ngày cuối đời, khi cơn đau hạnh hạ, bố cắn chặt răng để không bật ra tiếng rên. Bố sợ mẹ và chúng tôi đau đớn. Họ hàng đến thăm, ai cũng xót xa, thương bố. Những người cô họ của tôi bật khóc ngay khi nhìn thấy bố. Bố im lặng chịu đựng. Rồi một ngày cuối thu bố rời xa chúng tôi, đi gặp những người đồng đội của bố. Đất dưới chân tôi sụp xuống. Khoảng trời trên đầu rách toang. Nắng chói chang, bỏng rát. Và tôi biết, người lính đẹp nhất trong lòng tôi đã rời xa tôi mãi mãi. Nhưng tình yêu bố dành cho tôi sẽ còn chảy trong mạch máu của tôi. Lời bố dạy tôi luôn ghi nhớ. Tôi dạy lại cho học trò mình. Tôi dạy cho các con tôi. Mỗi lần kể cho học trò nghe về người lính, nước mắt tôi lại rưng rưng. Tôi nhớ bố, người lính già của tôi. Tháng tư lại về rồi. Tháng tư có ngày lễ lớn – ngày đất nước thống nhất. Và tôi tin, ở trên cao kia bố cùng đồng đội của mình đang mỉm cười hạnh phúc. Hạnh phúc vì thấy đất nước hòa bình, nhân dân ấm no và trong hòa bình ấm no ấy có một phần sự hi sinh của những anh Bộ đội Cụ Hồ như bố tôi!.

L.T

VNQD
Thống kê