Có những dòng sông chảy qua bao ghềnh thác vẫn không bao giờ ngừng mang phù sa bồi đắp cho đôi bờ. Có những ngọn lửa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, càng đi qua thời gian càng thêm rực sáng. Và cũng có một tờ báo, từ số báo đầu tiên mang tên Chiến khu ra đời giữa núi rừng Việt Bắc mùa thu năm 1946 đến Báo Quân khu 1 hôm nay, đã đi suốt tám mươi năm bằng chính một mạch nguồn như thế.

Những gương mặt tiếp bước thế hệ những người làm báo Quân khu 1 ngày nay.
Mạch nguồn ấy không được tạo nên chỉ bởi hàng vạn tin, bài, phóng sự hay những giải thưởng báo chí. Nó được bồi đắp từ biết bao bước chân lặng lẽ của những người làm báo Quân khu 1. Có người đã đi qua chiến tranh; có người lớn lên trong hòa bình. Có người từng viết dưới ánh đèn dầu leo lét; có người hôm nay tác nghiệp bằng phương tiện, trang thiết bị hiện đại. Họ thuộc những thế hệ khác nhau, họ làm báo trong những điều kiện rất khác nhau. Nhưng tất cả đều gặp nhau ở một điểm chung giản dị: luôn mang trong mình trách nhiệm của người chiến sĩ cầm bút.

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân với cán bộ, phóng viên Báo Quân khu 1.
Mùa thu năm 1946, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang đến rất gần, cũng là thời điểm số đầu tiên của Báo Chiến khu ra đời. Đó là những ngày đất nước còn bộn bề gian khó. Không có tòa soạn khang trang, không có phòng biên tập hiện đại, cũng chẳng có những thiết bị hỗ trợ tác nghiệp như ngày nay.
Những người làm báo khi ấy vừa là cán bộ tuyên huấn, vừa là phóng viên, biên tập viên, có khi kiêm luôn cả người mang bản thảo đến nhà in. Họ không nghĩ mình đang làm nên một cơ quan báo chí có lịch sử tám mươi năm. Điều họ nghĩ đơn giản hơn rất nhiều: bộ đội ngoài mặt trận cần thông tin, nhân dân vùng tự do cần niềm tin và cách mạng cần thêm một tiếng nói. Thế là họ lên đường.
Trong chiếc ba lô khi ấy có quân trang, vài nắm cơm, cuốn sổ nhỏ, cây bút chì, đôi khi thêm chiếc máy ảnh đã cũ. Những con đường họ đi không trải nhựa như bây giờ mà là những lối mòn xuyên rừng, men theo sườn núi, vượt qua thung sâu. Có chuyến đi kéo dài nhiều ngày chỉ để ghi lại một trận đánh, một tấm gương chiến đấu hay một phong trào thi đua của đơn vị.
Những trang bản thảo được viết ngay trong lán nứa, dưới ánh đèn dầu, giữa tiếng côn trùng của núi rừng Việt Bắc. Có khi vừa đặt bút viết, tiếng máy bay địch đã gầm trên đầu. Có khi vừa ghi xong dòng cuối, cả tổ công tác lại tiếp tục hành quân. Mỗi số báo đến tay bạn đọc là kết tinh của biết bao gian khó. Nhưng cũng chính trong gian khó ấy, một truyền thống tốt đẹp của Báo Quân khu đã được hình thành. Đó là truyền thống luôn có mặt ở nơi tuyến đầu cùng bộ đội.

Phóng viên Báo Quân khu 1 tác nghiệp tại Trường bắn Quốc gia Khu vực 1.
Dòng chảy của lịch sử đưa đất nước đi qua những cuộc kháng chiến trường kì. Tên tờ báo cũng nhiều lần thay đổi theo yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn: Chiến khu, Việt Bắc quyết chiến, Bắc Sơn, Giữ nước, Quân Việt Bắc, Chiến sĩ Quân khu Một, Tờ tin Quân khu Một và hôm nay là Báo Quân khu 1. Tên gọi có thể khác; hình thức xuất bản có thể khác. Nhưng phía sau mỗi trang báo vẫn luôn là bóng dáng của những con người lặng lẽ đi và viết.
Những năm tháng chiến tranh, người phóng viên không đứng ngoài trận tuyến. Họ theo chân bộ đội đến các điểm cao, các trận địa pháo, những cung đường vận tải, những bản làng nơi đồng bào đang một lòng nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ. Có người vừa ghi chép, vừa tránh bom. Có người ôm chiếc máy quay, máy ảnh chạy qua làn đạn để kịp ghi lại khoảnh khắc chiến thắng. Có người nhiều ngày liền chỉ ăn lương khô, uống nước suối, nhưng cuốn sổ ghi chép thì chưa bao giờ để trống.
Những tác phẩm ra đời từ những chuyến đi ấy không chỉ phản ánh hiện thực chiến tranh mà còn truyền đi niềm tin, ý chí và sức mạnh của quân dân Việt Bắc. Mỗi bài báo là một lời động viên gửi tới tiền tuyến. Mỗi bức ảnh là một chứng tích của lịch sử. Mỗi trang báo là một nhịp cầu nối hậu phương với mặt trận. Có lẽ, điều đáng quý nhất mà các thế hệ người làm Báo Quân khu 1 để lại không phải chỉ là những tác phẩm đã in trên giấy vàng theo năm tháng. Mà đó là một cách làm nghề. Đi nhiều hơn để hiểu. Ở lâu hơn để cảm. Và viết thật nhiều những điều mình đã được chứng kiến về cuộc sống của những người chiến sĩ. Chính cách làm nghề ấy đã trở thành mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng biết bao thế hệ cán bộ, phóng viên sau này.
Thời gian lặng lẽ trôi. Chiến tranh lùi xa. Đất nước bước vào thời kì hòa bình, xây dựng và phát triển. Những người phóng viên trẻ hôm nay không còn hành quân giữa khói lửa bom đạn như cha anh năm xưa. Nhưng họ lại bước vào một hành trình khác, hành trình chinh phục những yêu cầu mới của báo chí hiện đại.
Chiếc ba lô tác nghiệp bây giờ đã khác. Không còn những cuộn phim phải chờ mang về tráng rửa. Chiếc máy ảnh cơ đã nhường chỗ cho máy ảnh, máy quay kĩ thuật số và các phương tiện hiện đại. Tuy nhiên, nếu có dịp theo chân phóng viên Báo Quân khu 1 trong một ngày tác nghiệp, sẽ thấy rằng điều thay đổi lớn nhất không chỉ nằm ở phương tiện, mà ở chính cách làm báo.
Buổi sáng, họ có mặt trên thao trường theo bộ đội luyện tập. Khi chương trình huấn luyện còn chưa kết thúc, những dòng tin đầu tiên đã được gửi về tòa soạn để cập nhật trên báo điện tử. Ít giờ sau, từ chính nguồn tư liệu ấy, một phóng sự truyền hình được dựng hoàn chỉnh để phát trong chuyên mục truyền hình của Quân khu. Buổi tối, những hình ảnh nổi bật tiếp tục xuất hiện trên các nền tảng Facebook, Zalo, TikTok... với cách thể hiện gần gũi, sinh động hơn để lan tỏa đến đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Một chuyến công tác, mỗi phóng viên Báo Quân khu 1 đảm nhiệm nhiều vai trò. Sản phẩm của họ làm ra yêu cầu đáp ứng cho nhiều loại hình báo chí. Họ vừa là người viết tin, bài, vừa cầm máy quay, chụp ảnh, ghi âm, dựng phim, biên tập, thiết kế đồ họa, quản trị nền tảng số. Đằng sau mỗi tác phẩm là sự kết hợp của bản lĩnh chính trị, tư duy báo chí hiện đại và khả năng thích ứng với công nghệ mới.

Niềm vui ngày hội ngộ của những người làm báo Quân khu 1.
Điều đáng quý là giữa nhịp làm báo ngày càng gấp gáp ấy, người làm báo Quân khu 1 vẫn giữ cho mình sự cẩn trọng vốn có. Bởi họ hiểu rằng, công nghệ có thể giúp thông tin đến nhanh hơn, nhưng không thể thay thế trách nhiệm của người cầm bút trước sự thật. Sự đổi mới ấy không chỉ thể hiện ở phương thức sản xuất báo chí mà còn được khẳng định bằng chất lượng tác phẩm.
Những năm gần đây, Báo Quân khu 1 đã xây dựng được nhiều phim tài liệu có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, để lại dấu ấn sâu đậm tại các kỳ Liên hoan Truyền hình toàn quân và được Tổng cục Chính trị trao tặng Huy chương Vàng. Những tác phẩm như Đảng viên Sằm Văn Dé, Chuyện trên bản Mỏ Ba, Nơi ngọn nguồn Khe Rạc, Mang mùa xuân về với bản làng, Chuyện của Lầu A Chẩu... không chỉ phản ánh đời sống của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc trên địa bàn Quân khu, mà còn kể những câu chuyện chân thực về tình quân dân, về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ bằng ngôn ngữ của báo chí hiện đại.
Bên cạnh đó, nhiều phóng sự truyền hình và tác phẩm báo in đã đi thẳng vào những vấn đề từ thực tiễn, phản ánh sinh động hơi thở của cuộc sống trong lực lượng vũ trang Quân khu, góp phần lan tỏa những mô hình hay, cách làm sáng tạo và kịp thời cổ vũ các điển hình tiên tiến. Đó là thành quả của một tập thể luôn biết làm mới mình nhưng không chạy theo sự mới mẻ bằng mọi giá. Đổi mới để phục vụ bạn đọc tốt hơn, để hình ảnh người chiến sĩ đến gần hơn với công chúng, nhưng vẫn giữ vững bản chất của báo chí cách mạng.
Tám mươi năm trước, những người làm Báo Chiến khu mang trên vai ba lô, cuốn sổ và khát vọng góp một tiếng nói cho cách mạng. Tám mươi năm sau, những người làm Báo Quân khu 1 mang theo máy quay, máy tính và khát vọng đưa hình ảnh người lính đến với bạn đọc trên mọi loại hình báo chí.
Hành trang đã khác. Phương thức đã khác. Nhưng điều chưa bao giờ thay đổi là mỗi khi có một đơn vị huấn luyện, một điểm sáng nơi biên cương, một câu chuyện đẹp về tình quân dân hay một tấm gương bình dị cần được lan tỏa, những người làm báo Quân khu vẫn là những người có mặt sớm nhất và trở về sau cùng.
Huân chương Quân công hạng Nhì mà Đảng và Nhà nước trao tặng năm 1985 là sự ghi nhận đối với những đóng góp của các thế hệ đi trước. Còn hôm nay, mỗi tác phẩm báo chí chất lượng, mỗi bộ phim tài liệu đoạt Huy chương Vàng, mỗi tin, bài được cán bộ, chiến sĩ đón nhận chính là cách thế hệ người làm báo trẻ viết tiếp truyền thống ấy.
Tám mươi năm nhìn lại, điều làm nên sức sống của Báo Quân khu 1 không chỉ là lịch sử vẻ vang hay những phần thưởng cao quý mà còn là sức mạnh của một tập thể luôn biết kế thừa để phát triển. Từ những cán bộ đầu tiên của Báo Chiến khu đến đội ngũ phóng viên đa phương tiện hôm nay, mỗi thế hệ đều góp một phần để dòng chảy ấy không bao giờ đứt đoạn.
Có lẽ cũng bởi vậy mà truyền thống "Đoàn kết, sáng tạo, đổi mới, phát triển" do Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu trao tặng không chỉ là tám chữ được ghi trên bức trướng truyền thống. Đó là sự kết tinh của cả một hành trình phấn đấu, là phẩm chất được hun đúc từ thực tiễn và cũng là lời nhắc nhở đối với mỗi cán bộ, phóng viên hôm nay: phải đoàn kết để tạo nên sức mạnh tập thể; phải sáng tạo để mỗi tác phẩm có sức sống; phải không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu của báo chí hiện đại; và phải tiếp tục phát triển để xứng đáng với niềm tin mà các thế hệ đi trước đã gửi gắm.
Từ số báo Chiến khu năm 1946 đến Báo Quân khu 1 của hôm nay là hành trình tám mươi năm của biết bao thế hệ người làm báo mang quân hàm. Dẫu thời gian đổi thay, dẫu phương thức làm báo không ngừng đổi mới, mạch nguồn ấy vẫn chưa bao giờ ngừng chảy. Nó chảy trong từng trang báo, từng khuôn hình, từng thước phim và trong trái tim của những người luôn coi cây bút, chiếc máy quay là vũ khí trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Đó cũng chính là cội nguồn để Báo Quân khu 1 vững bước trên hành trình mới, tiếp tục vun đắp và lan tỏa truyền thống "Đoàn kết, sáng tạo, đổi mới, phát triển", hành trang quý giá được các thế hệ đi trước gây dựng và được thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy.
BÙI HIỆP
VNQD