Hồi mới ra trường về đơn vị, tôi được giao quản lí một trung đội tân binh. Nếp đầu ngày là chạy, rồi về bảo dưỡng vũ khí. Trong đám lính mới có cậu Tiến, người rắn rỏi mà tính lại vội. Mỗi lần lau súng, cứ thấy bóng mặt là cất. Tôi nhắc đi nhắc lại: “Lau xong thì kiểm tra theo trình tự, đừng chỉ tin vào mắt nhìn.” Cậu Tiến “dạ” rất nhanh, mà cái gật đầu cũng nhanh không kém.
Đến đợt bắn kiểm tra bia, phát đầu súng của Tiến hóc đạn, cả dây bắn phải dừng. Tôi không quát. Tôi chỉ nói nhỏ với Tiến: “Không phải bia giấy mà là quân địch - cậu có dám đánh cược bằng một phát hóc không?” Tiến cắn môi xin lỗi, mắt cụp xuống. Tối ấy, ghé phòng, dưới bóng đèn vàng, tôi thấy Tiến ngồi tháo từng chi tiết súng, lau chậm rãi, thử khóa nòng lách cách. Sau đó, tôi còn thấy cậu loay hoay ghi chép vào cuốn sổ tay chiến sĩ.
Một tuần sau, bão áp vào, đơn vị nhận lệnh xuống xã ven sông hỗ trợ sơ tán. Mưa xối xả, đường làng hóa suối đục, gió lùa qua hàng tre nghe như rít qua dây căng. Trưởng thôn báo còn cụ Thủy gần tám mươi chưa ra được. Tôi chia hai mũi: mũi một vào nhà; mũi hai giữ tuyến còn lại, lần theo dây để đưa cụ ra. Tiến xin đi mũi khó, tôi gật, dặn kĩ: “Bám dây, đi đúng nhịp, tuyệt đối không tự ý tách hàng.”
Nước lạnh thấu da, dòng chảy như có bàn tay kéo từ dưới. Cả tổ nối dây, người nọ buộc vào người kia cho đến nút khóa cuối. Đi qua đoạn vắng, Tiến khựng lại: tiếng kêu cứu mỏng như sợi chỉ vọng từ một căn nhà không có trong kế hoạch. Tiến ngước nhìn tôi. Tôi lắc đầu, nói to để át tiếng mưa: “Theo lệnh trước. Đưa cụ ra đã. Xong quay lại.” Tôi biết tiếng kêu đó như móc vào lưng áo mỗi người, nhưng trong mưa bão, kỉ luật nhiều khi chính là con đường ngắn nhất để cứu được nhiều sinh mạng.
Đến nhà cụ Thủy, cửa kẹt cứng, nước xâm xấp mép giường. Tiến ghì vai, tôi chèn đòn bẩy, hai người còn lại giữ dây ở tư thế hãm. Tiến luồn vào, khoác áo mưa cho cụ: “Cụ ôm cổ cháu, mình đi chậm thôi ạ.” Lúc quay ra, một thân cây trôi ập đến quất vào dây. Tôi nghe một tiếng “rực” sắc gọn - đâu đó sợi rìa đã đứt. Cả tổ chao đảo. Tiến xoay nửa người, cánh tay căng lên giằng dây sau cú quật, răng nghiến chặt, giọng vẫn bình tĩnh: “Chậm lại, đặt chân theo nhịp, tin nhau!” Chúng tôi lùi từng bước, hạ trọng tâm, tìm điểm bám, rồi vượt được đoạn xiết, đưa cụ lên gò cao. Cụ run run cặp môi, vẫn gắng nói: “Ơn các chú.”
Vừa đặt cụ ngồi vào tấm bạt, Tiến nói ngay: “Ở ngõ trái còn tiếng trẻ con.” “Giờ đi,” tôi đáp gọn. Chúng tôi quay lại. Căn nhà mái ngói thấp, tủ gỗ đổ chắn ngang cửa. Tiến chui vào trước, tôi đứng chặn dòng, giữ dây căng vừa đủ để không bị cuốn. Bên trong, người mẹ ôm đứa bé, bàn chân còn bị kẹt dưới cạnh tủ. Tiến luồn xà beng, dỗ: “Chị thở sâu. Em đếm ba nhấc. Một… hai… ba!” Tiếng gỗ rời, chân chị sướt máu mà không gãy. Bồng bé, dìu mẹ, men theo dây, ba người nhích từng bước ra ngoài. Lên bờ, người mẹ ôm con bật khóc, tiếng khóc nghe rõ ngay cả giữa mưa. Tiến cởi găng, lòng bàn tay rách mấy đường do kính cứa. Tôi lấy băng cho Tiến, cậu cười nhẹ: “Đau tí thôi. Em chỉ sợ nhất là mình làm sai trình tự.”
Tối về doanh trại, áo quần ai cũng ướt như dán vỏ cây, nhưng bếp ăn ấm và mùi cơm bốc khói khiến người ta bớt mệt. Điểm danh xong, tôi dừng ở Tiến: “Hôm nay cậu làm tốt. Nhưng lúc nghe tiếng kêu đầu, tôi thấy cậu dao động…” Tiến xin phép trình bày. Cậu nói rành rọt: “Em muốn lao vào ngay. Rồi nhớ lời trung đội trưởng: quy trình đứng cạnh trái tim, không đi sau. Em bám dây, đi đúng thứ tự, rốt cuộc lại cứu được cả hai.” Tôi gật: “Đúng. Nhanh không phải vội; nhanh là phần thưởng của chuẩn bị.”
Những ngày sau, đơn vị ở lại khắc phục. Tôi giao Tiến phụ trách tổ “vệ sinh an toàn”. Cái cậu từng hay ẩu giờ lập bảng chia ca, đặt giờ kiểm tra chéo, đánh dấu những góc khuất có nguy cơ. Chằng mái tôn cho nhà cụ Thủy, cậu đo chiều đinh, lựa vị trí bắt vít để tránh gãy sóng. Trước khi về, Tiến dặn: “Mỗi tháng cụ nhìn lại mấy mối dây buộc này giúp con, thấy lỏng là bảo tụi con qua.” Cụ cười, mắt hiền khô: “Các chú làm kĩ thế, tôi ngủ yên.”
Hết ba tháng tân binh, trung đội rút kinh nghiệm huấn luyện. Tôi yêu cầu mỗi người viết mấy dòng lưu niệm cá nhân để gửi lại các khóa sau. Trang của Tiến có bốn dòng, chữ nắn nót:
“Kĩ năng giúp làm được việc; quy trình giúp nhiều người cùng làm đúng việc.”
“Nhanh là phần thưởng của chuẩn bị.”
“Kỉ luật không làm nguội trái tim; nó giữ cho trái tim không làm sai điều đúng.”
“Tin đồng đội như tin chính mình.”
(Từ sổ tay của Vũ Đình Tiến, tân binh khóa… )
Giờ Tiến trở lại đơn vị sau khóa học tiểu đội trưởng. Tôi lặng lẽ nhìn cậu đứng chỉ huy bảo dưỡng vũ khí sau nhà. Tiến đặt khẩu súng xuống, mở từng bộ phận, chỉ vì sao lau góc này, vì sao tra dầu vừa đủ, vì sao lần kiểm tra cuối quan trọng nhất. Có tân binh hỏi: “Làm thế có lâu quá không ạ?” Tiến mỉm cười: “Lâu hơn hôm nay vài phút, để ngày mai khỏi mất đi nhiều năm của ai đó.”
Một hôm rảnh, tôi rủ Tiến ghé thăm cụ Thủy. Ấm chè xanh nghi ngút, mùi lá non dìu dịu. Cụ chậm rãi: “Mái tôn qua mấy cơn bão mà không bật là nhờ đóng đúng từng đinh.” Tiến chạm vết sẹo mảnh trên lòng bàn tay, nhìn cụ Thủy và tôi rồi cười hiền: “Cụ ạ, làm đúng quy trình không phải để tỏ ra cầu kì. Đến lúc nước xiết nhất, chỉ có nó giữ mình và người khác đứng về phía an toàn.” Tôi nhìn cậu, thấy trong ánh mắt đã bớt nhiều cái vội của ngày đầu, thay vào đó là sự chắc chắn lặng lẽ. Ở quân ngũ, “đúng” và “đủ” nghe khô khan; đến khi đứng giữa mưa gió, mới hiểu: đó không phải thủ tục, mà là cách chúng tôi giữ được nhau.
A KIỀU
VNQD